Tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc và sự vận dụng vào giáo dục ý thức độc lập dân tộc cho học viên của trường cao đẳng an ninh nhân dân 2 hiện nay (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG MINH THẮNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO GIÁO DỤC Ý THỨC ĐỘC LẬP
DÂN TỘC CHO HỌC VIÊN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG
AN NINH NHÂN DÂN 2 HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2017


Công trình được hoàn thành tại Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Trung

Phản biện 1: ........................................................
........................................................

Phản biện 2: ........................................................
........................................................

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội ...... giờ ...... ngày ..... tháng .....
năm 2017



1


đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cùng với
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu,
tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, vũ khí sắc bén của nhà nước xã
hội chủ nghĩa, là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò xung kích trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, góp
phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đảm bảo
cuộc sống yên vui, hạnh phúc cho nhân dân. Muốn vậy, lực lượng này
phải được quan tâm, giáo dục, xây dựng thành lực lượng vũ trang cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại hóa.
Học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2 là bộ phận
quan trọng, có vai trò gánh vác những trọng trách to lớn trong sự
nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Đội
ngũ này cần phải được thường xuyên chăm lo, giáo dục, rèn luyện để
trở thành những người có đủ đức, đủ tài thực hiện nhiệm vụ chính trị
của Đảng, của ngành Công an giao phó. Trong “Di chúc”, Bác Hồ đã
căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm
rất quan trọng và rất cần thiết”. Thấm nhuần lời dạy đó, Đảng ta và
ngành Công an đã thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục
phẩm chất chính trị, giáo dục ý thức độc lập dân tộc cho đội ngũ học
viên, coi đây là một trong những nhiệm vụ then chốt trong các
trường Công an nhân dân.
Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang đặt ra cho học viên

nhiều hướng khác nhau, phản ánh khá sâu sắc và toàn diện hệ thống
lý luận của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc. Có thể kể đến những
công trình tiêu biểu như:
3


“Tư tưởng Hồ Chí Minh - độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam” do Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Bá Linh (chủ biên),
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, đã làm rõ tư tưởng
độc lập dân tộc là ngọn cờ bách chiến, bách thắng của cách mạng
Việt Nam, thêm vào đó là những vận dụng sáng tạo của Hồ Chí
Minh về lý luận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
“Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh” do Phó giáo sư, Tiễn sĩ Nguyễn Bá
Linh (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.
Cuốn sách đã luận giải một cách khoa học về quá trình hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh, những nội dung cốt lõi trong tư tưởng của
Người về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời phân tích
sâu sắc về hoàn cảnh ra đời, ý nghĩa to lớn của cương lĩnh đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi thảo đã trở
thành nền tảng, kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác.
“Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội” do Phó giáo sư, Tiễn sĩ Vũ Đình Hòe và Phó giáo sư, Tiễn sĩ
Bùi Đình Phong (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
2010. Cuốn sách đã tổng kết bước đầu về những cống hiến to lớn,
quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt Nam.
Trên cơ sở đó, các tác giả khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to
lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc giành độc lập dân
tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

1945 đến năm 1975, lớp 12 Trung học phổ thông” của Nguyễn Thị
Huệ (2014), Đại học giáo dục. Luận văn đã tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí
Minh về độc lập dân tộc, lý luận tâm lý giáo dục, giáo dục lịch sử về
việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cho học sinh, đề xuất biện

5


pháp giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, trong dạy
học Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975, lớp 12 trung học phổ thông.
Luận văn Thạc sĩ Triết học: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập
dân tộc và nhiệm vụ của Đảng, Nhà Nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ
chủ quyền nước ta hiện nay” của Lê Thị Lan (2016), Học viện Khoa học
xã hội Việt Nam. Luận văn đã tìm hiểu và làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí
Minh về độc lập dân tộc, phân tích sự vận dụng sáng tạo những điểm
mới của quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
độc lập dân tộc của Đảng ta, đồng thời, đề xuất một số giải pháp tiến
hành đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của nước ta hiện nay.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong đó có tư
tưởng về độc lập dân tộc được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên
cứu. Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
độc lập dân tộc và sựvận dụng vào giáo dục ý thức độc lập dân tộc
cho học viên của Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2 hiện nay”
vẫn là một lĩnh vực chưa được ai nghiên cứu. Vì vậy, ở luận văn này,
tác giả sẽ kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đây, đồng thời
bổ sung, hoàn thiện và góp phần làm sáng tỏ phương diện giáo dục ý
thức độc lập dân cho đối tượng học viên Công an nhân dân trong giai
đoạn hiện nay theo mục đích và yêu cầu của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn làm rõ thực trạng của

pháp nghiên cứu như: Phân tích - tổng hợp; lôgíc - lịch sử, quy nạp diễn dịch, so sánh - đối chiếu, khảo sát thực tế và xử lý số liệu…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Luận văn góp phần vào việc nhận thức đầy đủ và
sâu sắc hơn về vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức độc lập dân
tộc cho học viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
7


Về thực tiễn: Kết quả của luận văn sẽ cung cấp thêm những
luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần làm tốt công tác giáo dục ý
thức độc lập dân tộc cho hoc viên Công an nhân dân; làm cơ sở cho
việc bổ sung vào giảng dạy các nội dung môn học chuyên ngành tại
Trường. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và học tập tại các trường Đại học,
Cao đẳng Công an nhân dân, Bộ Công an.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu thành 02 chương, 05 tiết.
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
Chương 2: Vận dụng tư tưởng độc lập dân tộc của Hồ Chí
Minh vào nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục ý thức độc lập dân
tộc cho học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2 hiện nay

8


Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc

1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
1.2.1. Độc lập dân tộc là độc lập thực sự, độc lập hoàn
toàn và triệt để
Độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn, tức là dân tộc đó phải có
đầy đủ chủ quyền về chính trị, kinh tế, an ninh, quân sự, ngoại
giao…và toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do,
hạnh phúc của nhân dân chứ không phải “độc lập giả hiệu”, “độc lập
hình thức” mà người khác (bọn thực dân, đế quốc) bố thí.
Để có nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn thì nền độc lập ấy
phải được thực hiện một cách triệt để theo nguyên tắc nước Việt Nam
là của người Việt Nam, mọi việc về chủ quyền quốc gia Việt Nam
phải do người Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp từ bên
ngoài. Giá trị đích thực của độc lập dân tộc phải được thể hiện bằng
quyền tự do và hạnh phúc của nhân dân.
1.2.2. Độc lập dân tộc không chỉ là tiền đề, mà còn là điều
kiện và hơn nữa gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối
và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc chỉ đi tới chủ
nghĩa xã hội thì mới có một nền độc lập dân tộc thật sự, hoàn toàn,
nhân dân mới được hưởng hạnh phúc tự do, đồng thời, chủ nghĩa xã
hội chỉ có thể phát triển trên một nền độc lập dân tộc thật sự thì mới
có điều kiện phát triển hoàn thiện.
1.2.3. Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm
của mỗi dân tộc
Hồ Chí Minh cho rằng tất cả các dân tộc trên thế giới đều bình
đẳng; tức là độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của
10


tất cả các dân tộc; nhân dân các dân tộc được hưởng độc lập tự do là lẽ

1.3. Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh
về độc lập dân tộc
1.3.1. Giá trị lý luận
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc đã góp
phần bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa
Mác - Lênin về độc lập dân tộc
Hồ Chí Minh đã bổ sung và làm sáng tỏ thêm kho tàng lý luận
chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa khi cho rằng: “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng
dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi
toàn thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách
mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.
Thứ hai, Hồ Chí Minh đã đóng góp rất lớn vào lý luận về cách
mạng thuộc địa và là ngọn cờ tư tưởng, cơ sở cho cách mạng các
nước thuộc địa và Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc đã bổ sung rất lớn
vào lý luận về cách mạng thuộc địa khi Người cho rằng: Cách mạng giải
phóng dân tộc Việt Nam nói riêng, trên thế giới nói chung là ở chỗ,
Người đã dự báo đúng về tính chủ động và khả năng giành thắng lợi
của cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa. Đồng thời, Hồ Chí
Minh cũng nêu lên những tư tưởng về độc lập dân tộc hết sức sáng
tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở các nước thuộc địa, vấn đề
kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giải
quyết sáng tạo mối quan hệ giai cấp, dân tộc và quốc tế.
Thứ ba, là “kim chỉ nam”, hệ tưởng xuyên suốt trong quá
trình Đảng lãnh đạo
Vận dụng những giá trị tư tưởng của Người về độc lập dân tộc
vào sự nghiệp cách mạng, ngay từ ngày thành lập đến nay, Đảng
12




Trong đó, độc lập dân tộc sẽ là tiền đề đầu tiên, điều kiện tiên
quyết để đi tới chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội sinh thành, phát
triển và hoàn thiện mới đảm bảo thực chất, đầy đủ và bền vững nhất của
độc lập dân tộc. Vì vậy, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với
nhau, gắn liền nhau, phản ánh quan điểm cách mạng không ngừng, một
quá trình vận động liên tục của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Tiểu kết chương 1
Dân tộc Việt Nam có một truyền thống lịch sử hào hùng trong
đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm. Lịch sử đã minh
chứng dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng tự do, độc lập,
hòa bình. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận và vượt qua mọi gian khổ,
thử thách để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc. Vì
vậy, đau lòng trước cảnh nước mất, nhà tan, năm 1911 Hồ Chí Minh
đã ra đi tìm đường cứu nước và Người đã chọn con đường cứu nước,
giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Muốn đi lên
chủ nghĩa xã hội thì cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giai đoạn
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về độc lập dân tộc được thể hiện ở những nội dung:
- Độc lập dân tộc là độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn và triệt để.
- Độc lập dân tộc là tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của
mỗi dân tộc.
- Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước.
- Độc lập dân tộc gắn liền với tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa có phê phán những giá trị tư
tưởng nhân loại để rút ra những kết luận có giá trị và mang tính định
hướng cho cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng đã giúp Hồ


thuộc Tổng cục Chính trị - Bộ công an, có tiền thân là Trường Hạ sĩ
quan An ninh 2 được thành lập ngày 24/4/1976 theo Quyết định số
02/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), với
nhiệm vụ đào tạo Hạ sĩ quan an ninh cho công an các tỉnh phía Nam
từ Quảng Trị trở vào và làm nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho
lực lượng công an của Vương quốc Campuchia; đào tạo lực lượng
công an xã, Trưởng công an xã tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên,
miền Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ.
Trong hơn 40 năm qua, Nhà trường đã đào tạo, bồi dưỡng trên
30.000 cán bộ công an trong nước (gồm 40 khóa Trung cấp An ninh
hệ chính quy, khoảng 15.000 học viên; 4 khóa Cao đẳng An ninh hệ
chính quy, khoảng 1.000 học viên; 69 khóa Trung cấp An ninh hệ vừa
học vừa làm và Trưởng công an cấp xã với hơn 10.000 học viên; bồi
dưỡng hơn 2.000 học viên cho nhiều loại đối tượng khác). Đồng thời,
nhà trường đã phối hợp đào tạo, bồi dưỡng gần 10.000 cán bộ cho Bộ
Nội vụ Vương quốc Campuchia. Với tinh thần đó, Nhà trường đã được
tặng nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.
16


2.1.2. Thực trạng việc nhận thức của học viên Trường Cao
đẳng An ninh nhân dân 2 về ý thức độc lập dân tộc
Thứ nhất, các cấp ủy Đảng, đông đảo giảng viên, cán bộ quản
lý giáo dục và học viên luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của việc
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc vào giáo dục ý
thức độc lập dân tộc cho học viên
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức độc
lập dân tộc cho học viên của trường, trong những năm qua, việc giáo
dục ý thức độc lập dân tộc theo tư tưởng của Người cho học viên
luôn được các cấp ủy Đảng, đông đảo giảng viên, cán bộ quản lý

nhà trường đã tập trung giáo dục ý thức độc lập dân tộc cho học
viên vào một số nội dung cơ bản
Với nội dung phong phú và nhiều hình thức, biện pháp, nhà
trường đã cụ thể hóa các nội dung độc lập dân tộc theo tư tưởng của
Hồ Chí Minh vận dụng vào giáo dục ý thức độc lập dân tộc cho học
viên nhà trường đã đạt những kết quả đáng ghi nhận.
2.1.3. Một số vấn đề đặt ra trong việc giáo dục ý thức độc lập dân
tộc cho học viên của Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2 hiện nay
Một là, sự quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà
trường mặc dù đã có nhiều đổi mới. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa đạt
được như mong đợi, mới dừng lại ở cái chung, vẫn nặng về hình thức.
Hai là, các hình thức vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc
lập dân tộc vào giáo dục ý thức độc lập cho học viên của trường còn
chưa phong phú, hấp dẫn nên chưa thực sự tạo được sự lôi cuốn, hấp
dẫn người nghe.
Ba là, vẫn còn một số bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, giảng
viên chưa có nhận thức đúng và chưa thực sự quan tâm đến việc vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc vào giáo dục ý thức
độc lập dân tộc cho học viên.
18


Bốn là, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho quá trình
giảng dạy của giảng viên vẫn chưa được trang bị đầy đủ. Thư viện
của nhà trường các tài liệu tham khảo, sách, báo, giáo trình, tạp chí
khoa học về môn lý luận chính trị còn chưa phong phú.
Năm là, về thời lượng nội dung, kết cấu chương trình, phương
pháp giảng dạy, ra đề thi đánh giá kết quả học tập đối với học viên
môn lý luận chính trị còn nhiều bất cập.
Sáu là, kẻ thù luôn tìm mọi cách mua chuộc học viên của

Thứ nhất, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám
hiệu và các chủ thể trong công tác giáo dục ý thức độc lập dân tộc
cho học viên
Thứ hai, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục ý thức độc
lập dân tộc để nâng cao nhận thức và hành động cho học viên về bảo
vệ độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc
Thứ ba, phát huy vai trò của các hoạt động giáo dục chính trị
đầu khóa và môn lý luận chính trị trong việc giáo dục ý thức độc lập
dân tộc cho học viên
Thứ tư, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền học viên
tham gia hưởng ứng các phong trào, cuộc vận động do Nhà trường
và Bộ công an phát động
Thứ năm, cung cấp những kiến thức về quốc phòng an ninh,
đặc biệt là vấn đề chủ quyền biển, đảo hiện nay
Tiểu kết chương 2
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cũng như ý thức độc lập
dân tộc cho học viên của Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2
trong thời gian quan luôn được Đảng ủy, Ban Giám hiệu quan tâm,
chỉ đạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi. Các biện pháp tiến hành
giáo dục cho học viên diễn ra rất đa dạng và thiết thực đã góp phần

20


to lớn trong việc nâng cao nhận thức về ý thức độc lập dân tộc của
đại bộ phận học viên của trường.
Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc vào giáo dục ý thức độc lập
dân tộc cho học viên của trường cho thấy công tác giáo dục ý thức
độc lập dân tộc cho học viên trong thời gian qua của nhà trường đã

lập dân tộc của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
và thực tiễn của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trên
cơ sở đó, cùng với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng sinh
động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm
hết sức sâu sắc về độc lập dân tộc, nội dung hạt nhân tư tưởng xuyên
suốt hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc được
thể hiện ở các nội dung:
- Độc lập dân tộc là độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn và triệt để.
- Độc lập dân tộc là tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của
mỗi dân tộc.
- Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất đất nước.
- Độc lập dân tộc gắn liền với tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc vào sự
nghiệp cách mạng, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
Đảng đã luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội để đấu tranh và giành được những thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đặc biệt, trong
giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang đứng trước thời cơ và thách
22


thức không nhỏ. Các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết lợi dụng
những vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc… để chống phá
cách mạng Việt Nam thì việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc
lập dân tộc có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2 là nguồn dự bị
tin cậy được đào tạo để trở thành những cán bộ chiến sĩ cốt cán gánh
vác trọng trách to lớn mà Đảng và nhân dân giao phó cho lực lượng
công an trong tương lai. Tình hình đó đặt ra cho đội ngũ làm công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status