LUẬN VĂN: Kinh tế hộ đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Kinh tế hộ đồng bào dân tộc Khmer
tỉnh An Giang hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có những nét đặc thù và bản sắc
riêng. Trong đó, đồng bào dân tộc Khmer với trên 1,3 triệu người, sống chủ yếu ở 9 tỉnh,
thành phố thuộc khu vực ĐBSCL, đông nhất ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang,
An Giang, Hậu Giang,v.v Trong đó, đồng bào Khmer ở An Giang hiện có trên 85.600
người, chiếm 4,05% dân số toàn tỉnh. Sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên
(trên 80.000 người), số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn.
Lịch sử hình thành cộng đồng dân tộc Khmer ở ĐBSCL và sự hội nhập của họ vào
cộng đồng dân tộc Việt Nam diễn ra khá phức tạp và có nhiều vấn đề nhạy cảm chính trị.

người Khmer ở ĐBSCL mới chỉ thu hút sự quan tâm của đông đảo các học giả trong và
ngoài nước trong 50 năm trở lại đây. Một số công trình đi sâu nghiên cứu từng khía cạnh
khác nhau như vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL, văn hoá văn nghệ truyền thống của
người Khmer,v.v Bên cạnh đó, vấn đề tổ chức xã hội, hôn nhân và gia đình của người
Khmer cũng được giới thiệu khái lược trong một số công trình nghiên cứu, các chuyên khảo
của các tác giả người Pháp, Mỹ, các học giả miền Nam Việt Nam trước ngày giải phóng.
Đặc biệt, sau ngày thống nhất đất nước cho tới nay, đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu về dân tộc Khmer như:
Tác giả Mặc Đường, trong nhiều bài nghiên cứu như: Quá trình phát triển dân cư
và dân tộc ở ĐBSCL (thế kỷ XV - XIX); vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL vào những
năm đầu thế kỷ XX… đã đề cập nhiều mặt về sự hình thành các cộng đồng tộc người,
trong đó có người Khmer và mối quan hệ giữa các dân tộc trong vùng vào những thời kỳ
khác nhau.
Nghiên cứu sự tác động chính sách dân tộc của Đảng trên lĩnh vực KT - XH có
Luận án tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Thanh Thuỷ: Quá trình thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL, Hà Nội - 2001. Công
trình này tập trung đánh giá tác động, hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng đối với tình
hình KT - XH vùng ĐBDT.

Thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer có Luận văn thạc sĩ lịch sử
của Nguyễn Tấn Thời: Đảng bộ An Giang lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với
đồng bào Khmer (1996-2004), Hà Nội - 2005. Trong công trình này tác giả tập trung
đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính
sách dân tộc đối với đồng bào Khmer ở An Giang.
Luận án tiến sĩ triết học của Trần Thanh Nam, Đời sống tinh thần của đồng bào
dân tộc Khmer nam bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay. Hà Nội, 2001. Trình bày
những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao đời sống tinh thần dân tộc Khmer.
Đề cập đến các giải pháp nâng cao đời sống người Khmer có đề tài nghiên cứu khoa
học cấp bộ do thạc sĩ Lê Tăng chủ nhiệm: Một số giải pháp nâng cao đời sống cho
ĐBDT Khmer ở miền Tây Nam bộ trong giai đoạn hiện nay, TP.HCM - 2003. Công trình

đồng bào Khmer, do đó đề tài sẽ tập trung chủ yếu phân tích, đánh giá hoạt động KT của
hộ nông dân Khmer.
b) Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian, đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi tỉnh An Giang, đặc biệt là ở
huyện miền núi, biên giới có đông ĐBDT Khmer sinh sống (Tri Tôn, Tịnh Biên).
Về thời gian, phạm vi nghiên cứu thực trạng được giới hạn trong giai đoạn từ năm
2000 đến năm 2008. Phương hướng và các giải pháp được nghiên cứu trong giai đoạn từ
năm 2009 đến năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp xuyên suốt của đề tài là duy vật biện chứng và logíc - lịch sử để xem
xét, phân tích, đánh giá vấn đề nghiên cứu. Phương pháp cụ thể được sử dụng là phân
tích - tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, khảo sát thực tế, v.v
Những phương pháp này tùy theo từng vấn đề trong mỗi chương mà có cách vận dụng
linh hoạt nhằm hoàn thành những nhiệm vụ luận văn đã nêu.
6. Những đóng góp mới của luận văn
a) Về mặt lý luận:

Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản: Đặc trưng, những yếu tố ảnh hưởng và bài
học kinh nghiệm trong phát triển KTH ĐBDT Khmer.
Phân tích quá trình vận động, phát triển KTH ĐBDT Khmer trong điều kiện nền
KT chuyển đổi: quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hóa, dưới sự
tác động trực tiếp của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
b) Về thực tiễn:
Luận văn góp phần cung cấp bức tranh khá toàn diện về các hoạt động KT của hộ
ĐBDT Khmer An Giang.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, bước đầu luận văn cũng nêu lên một số
phương hướng và giải pháp mang tính chất gợi mở để phục vụ cho việc nghiên cứu, đề
xuất những chủ trương, chính sách đối với ĐBDT Khmer trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm phần mở

được coi là một đơn vị tế bào của xã hội, nhưng không phải bao giờ cũng trùng khớp với
gia đình. Khái niệm này tồn tại trong hệ thống hành chính - pháp lý, dùng để chỉ những
người cùng sống chung dưới một mái nhà, có KT chung.
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật, hộ được xem như là chủ thể trong các quan
hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa như là một đơn vị mà các thành viên
có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động KT chung. Song, về phương diện nghiên
cứu các tác gỉa vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Có quan điểm cho rằng “hộ là một nhóm người cùng huyết tộc sống chung hay
không sống chung với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và
có chung một ngân quỹ” [43, tr.11].
Ngoài ra, các tác giả nêu lên 4 điểm cần lưu ý khi phân tích hộ, đó là:
+ Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
+ Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà.
+ Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.

+ Cùng tiến hành sản xuất chung.
Trên thực tế ít có trường hợp những hộ mà thành viên không sống chung một mái
nhà mà lại cùng thu nhập và ăn chung. Hơn nữa, tiêu chí thứ tư là cùng tiến hành sản xuất
chung chỉ đúng với những hộ nông dân có KT “tự cấp tự túc”. Nó có thể đúng vào thời
điểm hiện tại ở nhiều vùng nông thôn, song nó không thể dùng làm một tiêu chuẩn
chung để xác định hộ.
Hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian. Khi xã hội còn ở một trình độ phát
triển thấp, với KT tự cấp tự túc là nhân tố cơ bản cấu thành nên hộ. Song, khi xã hội phát
triển cao hơn, thì các thành viên của hộ có thể không còn làm chung và ăn chung nữa. Họ
có thể cùng sống chung, nhưng làm việc ở những nơi khác nhau, và có thể chỉ đóng góp
một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của hộ.
Do sự gắn bó gần như là đồng nhất giữa hộ và gia đình như vậy cho nên ở nước ta
hiện nay, nhiều người đồng nhất khái niệm hộ và gia đình. Thực ra, đây là hai khái niệm
không hoàn toàn đồng nhất.
Qua một số định nghĩa trên đây cho thấy, hộ và gia đình có những tiêu thức chung

kinh doanh và đầu tư chủ yếu do các doanh nghiệp thực hiện.
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế quốc dân
Trong lịch sử phát triển KT quốc dân, thời kỳ nào vai trò của KTH cũng đều rất
quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và bảo đảm cuộc
sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng
trong nền KT.
Trong thời kỳ thực hiện chế độ hợp tác hoá, KTH được xem là “kinh tế phụ gia
đình” hay “kinh tế phụ xã viên”, bổ sung cho KT tập thể.
Vai trò của KTH nói chung, đặc biệt là KT nông hộ có nhiều thay đổi cả về
phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào HTX mất dần
động lực phát triển. Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày
31-1-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động trong hợp tác xã. Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 5-4-1988 của Bộ

Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để nông hộ trở thành
đơn vị KT tự chủ trong nông nghiệp.
Trong thời kỳ đổi mới, với tính năng động và tiềm lực KT ngày càng được tăng
cường, KTH có điều kiện thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền KT quốc dân.
Vai trò đó được thể hiện qua những nội dung sau:
Thứ nhất, KTH là cầu nối, là khâu trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên lên
KT hàng hóa:
KTH được coi là khâu trung gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn
thực hiện bước chuyển từ KT tự nhiên lên KT hàng hóa giản đơn và tạo đà cho bước
chuyển từ KT hàng hóa giản đơn lên KTTT. Bước chuyển biến từ KT tự nhiên lên KT
hàng hóa giản đơn với quy mô hộ gia đình là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, nếu chưa trải
qua thì không thể phát triển SXHH quy mô lớn, không thể thoát khỏi tình trạng kém phát
triển.
Thực tế cho thấy, hộ và nền KT tự nhiên của nó chứa đựng những tiềm năng của
sự phân hoá. Và do đó thúc đẩy nông thôn quá độ lên một trình độ cao hơn - Nông thôn
SXHH. Năng lực tự quyết định quá trình sản xuất của các hộ trong nền KT tự nhiên, tự

cơ lợi nhuận và lợi ích KT là động lực thúc đẩy họ áp dụng tiến bộ khoa học, công
nghệ vào sản xuất. Nó là một quá trình tự giác gắn với lợi ích thiết thân của từng hộ.
Thông qua việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đồng thời cũng diễn ra quá trình
sàng lọc và cải tiến kỹ thuật, làm cho nó thật sự thích ứng và mang lại hiệu quả KT
cao cho các hộ.
Như vậy, KTH vừa là nơi lưu giữ những kinh nghiệm truyền thống, vừa là nơi tiếp
nhận, phát triển hoàn thiện thêm những kỹ thuật công nghệ mới - là điều kiện vững chắc
bảo đảm cho việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả SX - KD của các hộ trong mỗi
giai đoạn lịch sử nhất định.
Thứ năm, kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản đáp ứng cung, cầu của
thị trường:

Là đơn vị KT tự chủ, các hộ phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường để lhoạch
định phương án SX - KD hiệu quả: sản phẩm gì, khối lượng, chất lượng như thế nào, tiêu
thụ ở đâu, giá cả bao nhiêu…? Vô hình chung mỗi hộ trở thành một đơn vị cân đối cung,
cầu theo tín hiệu của thị trường và là một đơn vị tiêu dùng của xã hội.
Nhờ ưu thế của một đơn vị sản xuất quy mô nhỏ, tự tích lũy vốn, ứng dụng khoa
học công nghệ và thực tiễn phân công lao động xã hội từ cơ sở, nên KTH có thể đáp ứng
nhu cầu của thị trường một cách nhanh chóng và thích nghi khá tốt với những biến đổi
của cơ chế thị trường.
KTH dễ dàng tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động, bắt tay ngay vào SX -
KD những mặt hàng thị trường đang và sẽ có nhu cầu một cách nhanh chóng, hữu hiệu,
trong khi các đơn vị sản xuất lớn khó thích ứng kịp. Mặt khác, khi nền KT gặp những
khó khăn trong quá trình tái sản xuất, thì hộ rất dễ dàng “xoay sở” để tìm kiếm phương
thức khai thác các nguồn vốn, lao động…của mình nhằm tái sản xuất. Vì vậy, KTH có
khả năng thích ứng cao với mọi nhu cầu của thị trường mà ít có hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh nào ưu thế hơn.
Thực tế cho thấy, ở phần lớn các quốc gia trên thế giới, KTH đảm bảo hầu như
toàn bộ vấn đề lương thực thực phẩm, rau quả tươi sống, một phần nông sản làm nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến,…Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của KTH trong

Rõ ràng, C.Mác đã thấy sự tồn tại khách quan của KT nông hộ do tính hiệu quả
của nó và con đường đặc thù của nông nghiệp không giống như trong công nghiệp.
Thế nhưng nếu không phát triển như trong công nghiệp, thì tiến tới xã hội hóa sản
xuất, nông nghiệp cũng như các nông hộ sẽ như thế nào? C.Mác cho rằng, đối với
nghề nông hợp lý thì hoặc là phải có bàn tay của người tiểu nông sống bằng lao động
của mình hoặc là phải có sự kiểm soát của những người sản xuất có liên kết với nhau.
Từ đó, để cải tạo nền KT tiểu nông, chuyển nó lên SXHH cần phải có sự liên kết giữa
các nông hộ. Sự liên kết ấy như thế nào thì C.Mác và Ph.Ăngghen chưa dự tính hết
được, nhưng khi nói về vấn đề cải tạo những người tiểu nông thì cả hai ông đều rất
thận trọng. Theo Ph.Ăngghen, cần phải để cho người nông dân tự suy nghĩ trên luống
cày của họ. Việc đưa nông dân vào con đường hợp tác nhất thiết không phải bằng

cưỡng bức mà phải để cho họ tự nguyện. Ông nhấn mạnh: Nhiệm vụ của chúng ta đối
với người tiểu nông, trước hết là phải hướng nền sản xuất cá nhân và chiếm hữu cá
nhân của họ vào con đường hợp tác, không phải bằng cách cưỡng ép mà là bằng cách
nêu gương cho họ và bằng cách xã hội giúp đỡ họ thực hiện việc ấy.
Kế thừa và phát triển di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện
mới, lúc đầu V.I.Lênin cho rằng nền KT của chế độ mới sẽ không còn KT hàng hóa. Giai
cấp vô sản sau khi giành được chính quyền sẽ quản lý trực tiếp toàn bộ quá trình sản xuất
và phân phối. Toàn xã hội sẽ như một công xưởng khổng lồ. Do vậy, Chính sách Cộng
sản thời chiến, giai cấp công nhân Nga đã liên kết với bần cố nông, tước đoạt của địa chủ,
Cu-lắc và trung nông - lực lượng SXHH ở nông thôn. Chính sách trưng thu, trưng mua
lương thực lúc đó thực chất là tước đoạt lương thực. Sau nội chiến, nông dân phản ứng
gay gắt đối với chính sách trưng thu lương thực. Nông nghiệp và cả nền KT lâm vào tình
trạng kiệt quệ. V.I. Lênin đã nhận rõ sai lầm của Chính sách Cộng sản thời chiến, thay
đổi quan điểm của mình về KT hàng hóa, KT tiểu nông.
Trong Chính sách Kinh tế mới, V.I.Lênin cho rằng phải liên minh với nông dân,
đặc biệt là tầng lớp trung nông. Chính sách thuế lương thực cho phép nông dân được tự
do lưu thông sản phẩm nông nghiệp sau khi làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước,
cho phép nông dân được làm chủ ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác,v.v Thực chất

Mỗi ngành có một giới hạn tối ưu cần thiết và khi giới hạn đó vượt quá khuôn khổ
của gia đình nông dân, lúc đó nông dân sẽ tìm cách hợp tác với nhau để đạt đến giới hạn
tối ưu mới, bằng cách chuyển dần lên sản xuất lớn. Nói cách khác, do không có khả năng
tập trung vô hạn theo chiều sâu như trong công nghiệp nên sản xuất nông nghiệp chỉ có
thể tập trung theo chiều rộng. Như vậy, từ những người nông dân độc lập, họ sẽ đi đến
chỗ liên kết các quá trình và các ngành tách rời nhau, cùng nhau mua sắm tư liệu sản
xuất, thành lập các nhóm sử dụng máy móc và tiêu thụ sản phẩm, cải tạo đất đai…nhằm
thay đổi cách SX- KD của mình. Toàn bộ hệ thống ấy dần dần biến thành hệ thống KT
hợp tác ở nông thôn.
A.V.Chaianov nhấn mạnh, quá trình hợp tác hóa nông nghiệp không được phá vỡ
doanh nghiệp gia đình nông dân mà chỉ dần dần cải tạo những doanh nghiệp nông dân cá thể

phân tán thành những hình thức KT xã hội cao nhất. Quá trình hợp tác hóa phải phát triển
theo con đường dần dần và lần lượt “tước đi” của các doanh nghiệp nông dân những chức
năng và thao tác nào đem lại hiệu quả KT trong các HTX lớn hơn trong khuôn khổ doanh
nghiệp nông dân riêng lẽ. Đó là việc tước đi của doanh nghiệp nông dân những quá trình có
liên quan đến lĩnh vực lưu thông và trên cơ sở đó mà thành lập các HTX tiêu thụ - cung ứng,
tước đi của doanh nghiệp nông dân khâu sơ chế sản phẩm và thành lập các xí nghiệp chế
biến, rồi bằng cách đó mà đặt nền móng cho các hệ thống HTX. Các hệ thống này thông qua
các trung tâm HTX vùng mà thành lập các liên hệ KT của doanh nghiệp nông dân với các xí
nghiệp công nghiệp, thương nghiệp và đưa doanh nghiệp nông dân ra thị trường thế giới.
Từ những quan điểm nêu trên kết hợp với thực tiễn phát triển nông nghiệp, nông
thôn Việt Nam qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, bước đầu có thể khái quát
những xu hướng chung trong quá trình vận động và phát triển của KTH những năm tới
như sau:
Thứ nhất, KTH độc lập, tự chủ phát triển ổn định, đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong SXHH ở khu vực nông nghiệp, nông thôn:
Chúng ta thấy rằng, mặc dù trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhưng KTH vẫn
là hình thức có khả năng thích ứng cao trong các phương thức sản xuất. Hiện nay, trong
điều kiện phát triển KTTT, mặc dù có những thay đổi nhất định, song KTH vẫn đóng vai

và cả ngân hàng.
1.2. ĐẶC TRƯNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER
1.2.1. Đặc trưng của kinh tế hộ đồng bào dân tộc Khmer
Bên cạnh những đặc trưng vốn có của KTH nói chung, do điểm xuất phát cũng
như phong tục tập quán, KTH ĐBDT Khmer còn có những đặc thù riêng. Trong đó phải
kể đến những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ hộ và các thành viên trong hộ là người Khmer:
Với đặc trưng này, các thủ thể KT người Khmer vốn có lịch sử hình thành, kỹ thuật
sản xuất, phong tục tập quán, bản sắc văn hoá riêng. Hầu hết họ đều sử dụng tiếng Việt
như là ngôn ngữ thứ hai. Đa phần chủ hộ cũng như các thành viên lớn tuổi thường không

biết tiếng Việt, họ giao tiếp với nhau bằng tiếng dân tộc. Đây cũng là khó khăn của họ
khi hoà nhập vào cuộc sống cũng như phát triển KT gia đình.
Mỗi hộ trung bình có từ 4 đến 5 thành viên, trong đó có từ 2 đến 3 lao động. Người
Khmer vốn rất cần cù, chịu đựng tốt gian khó, nhưng trình độ mọi mặt còn thấp.
Đặc điểm của đồng bào Khmer ở ĐBSCL là trên 90% dân số sống ở nông thôn, cư
trú thành những cụm dân cư gọi là Phum, Sóc tương đối biệt lập với cộng đồng các dân
tộc khác, cũng có một bộ phận đồng bào sống xen kẽ với người Kinh, còn một số hộ sinh
sống rải rác ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và ở ven các kênh rạch.
Do ảnh hưởng sâu sắc bởi Phật giáo Tiểu thừa, nên trong triết lý sống của người
Khmer thường thiên về các giá trị tinh thần hơn vật chất. Người Khmer sẵn sàng đóng
góp tiền của, công sức để xây dựng những ngôi chùa khang trang, lộng lẫy, trong khi họ
chấp nhận cuộc sống nghèo túng trong những căn nhà lụp sụp. Họ cũng sẵn sàng vay nợ
để tổ chức các lễ hội truyền thống, ma chay, tiệc cưới long trọng, hoặc đóng tiền để con
em họ được vào chùa tu v.v Chính triết lý sống như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến
sản xuất và đời sống của người Khmer.
Thứ hai, KTH ĐBDT Khmer còn mang nặng tính tự cung, tự cấp:
Hộ Khmer tồn tại lâu đời với phương thức canh tác truyền thống trên những vùng
đất đồi núi chia cắt, ruộng đất manh mún, chênh lệch về độ dốc lớn. Phần lớn sản xuất

dụng trong sinh hoạt gia đình. Nghề thủ công được người Khmer thực hiện trong những
lúc rảnh rỗi công việc đồng áng và gắn với những sinh hoạt gia đình. Một số sản phẩm
thủ công cổ truyền được tiêu thụ trên thị trường như chiếu Vĩnh Châu (Sóc Trăng), gốm
Tri Tôn (An Giang), dệt thổ cẩm (Trà Vinh, An Giang), đan mây tre (Sóc Trăng),v.v
Trong lĩnh vực thương nghiệp, số lượng người Khmer sống bằng nghề buôn bán rất
ít, chỉ có một số sống ở tỉnh lỵ có quan hệ hôn nhân với người Hoa, Kinh. Trong lĩnh vực
này, người Khmer chủ yếu là buôn bán nhỏ với các cửa hiệu tạp hoá, dịch vụ ăn uống,
v.v vừa ít vốn lại ít hàng. Một số vừa bán hàng vừa sản xuất nông nghiệp hoặc làm dịch
vụ nhỏ như sửa xe, làm nhân công các xưởng sửa chữa, nhân công xí nghiệp, nhà máy.

Như vậy, đặc trưng nổi bật nhất của KTH ĐBDT Khmer là KT nông nghiệp đóng
vai trò nền tảng, chi phối. Các hoạt động khác tuy có bước phát triển, nhưng còn mang
tính chất nhỏ lẻ, chưa phổ biến và hiệu quả chưa cao.
Thứ tư, qui mô sản xuất nhỏ bé:
Đặc trưng nổi bật của các hộ dân tộc Khmer hiện nay là quy mô canh tác rất nhỏ bé,
biểu hiện rõ tính chất tiểu nông. Theo đó số liệu điều tra của Ban dân vận Trung ương
năm 1998: “Quy mô đất đai bình quân là 2,821 ha/hộ, trong đó có 2,384 ha đất nông
nghiệp, riêng đất trồng cây ngắn ngày có 2,149 ha” [31, tr.135].
Theo kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, ở ĐBSCL “Diện tích đất sản xuất vùng
đồng bào Khmer bình quân là 0,44 ha/người” [2, tr.1]. Trong đó, số hộ không đất và
thiếu đất sản xuất ngày càng gia tăng.
Bên cạnh diện tích đất bình quân thấp, khả năng tích tụ và tập trung vốn của ĐBDT
Khmer còn nhiều hạn chế. Do vậy, hộ dân tộc thường xuyên hoạt động trong tình trạng
thiếu vốn. Mặc dù hệ thống ngân hàng có cố gắng, nhưng mới chỉ đáp ứng một phần nhu
cầu vốn của bà con, còn lại họ phải đi vay của tư nhân với lãi suất cao. Hệ quả là nhiều
hộ lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, phải cầm cố tài sản, sang bán đất đai để trả nợ.
Do quy mô sản xuất nhỏ nên khả năng đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị hạn chế.
Việc đầu tư thâm canh, tăng vụ, phát triển ngành nghề cũng gặp khó khăn. Vì vậy, năng
suất, chất lượng và hiệu quả SX - KD thấp, tích luỹ không cao, hạn chế khả năng tái sản
xuất mở rộng của hộ.

lớn,…sẽ có điều kiện phát triển. Ngược lại, ở những nơi vùng sâu, vùng xa,… do vị trí
không thuận lợi nên hoạt động KTH sẽ nhiều khó khăn, hiệu quả kém.
Đối với hộ Khmer, nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu, trong đó đất đai là tư
liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được. Do vậy, quy mô đất đai, địa hình và
tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan trực tiếp đến tình hình phát triển KTH nói
riêng cũng như KT - XH vùng ĐBDT nói chung.
Thứ hai, khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái:

Điều kiện thời tiết, khí hậu với lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng,… có mối
quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Những nơi có điều kiện thời
tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi
ro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển.
Ngoài ra, môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển KTH, nhất là nguồn
nước, không khí. Bởi vì, những cây trồng và vật nuôi tồn tại và phát triển theo quy luật
sinh học. Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, năng
suất cao. Nếu môi trường sinh thái không thuận lợi thì cây trồng, vật nuôi sẽ chậm phát
triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, dẫn đến hiệu quả hoạt động KTH thấp.
b) Nhóm yếu tố về kinh tế và tổ chức quản lý:
Đây là nhóm yếu tố KT và tổ chức liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ
yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển KT nói chung, cũng như KTH ĐBDT
Khmer nói riêng. Cụ thể:
Lao động, vốn và kết cấu hạ tầng:
Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến bộ khoa
học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ
thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao.
Trình độ học vấn và chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí
vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đến sự thành công hay thất bại của hộ.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được trong quá trình SX - KD. Nó là một yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Khi có quy mô vốn đủ lớn, KTH mới
có thể chuyển lên mô hình KT trang trại hoặc các loại hình SX - KD khác hiệu quả hơn.

d) Nhóm yếu tố về quản lý vĩ mô của Nhà nước:
Nhóm yếu tố này bao gồm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như:
Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, chính sách tín dụng,
chính sách đầu tư, chính sách thương mại, chính sách đối với vùng ĐBDT, miền
núi,v.v Những chính sách này nhìn chung có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển KT -
XH vùng ĐBDT nói chung và KTH dân tộc nói riêng.

Có thể nói, KTH nói chung, cũng như KTH ĐBDT Khmer nói riêng trong quá
trình phát triển chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố. Riêng đối với ĐBDT Khmer,
các yếu tố có tác động mạnh và thường xuyên nhất là: Yếu tố tự nhiên, kết cấu hạ tầng,
chất lượng nguồn lao động, vốn, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, và các chính sách
hỗ trợ của Nhà nước.
1.3. NHỮNG KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER
ĐBDT Khmer nước ta hiện có khoảng 1,3 triệu người, sống chủ yếu ở các tỉnh
ĐBSCL: Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ,
Bạc Liêu, Cà Mau.
Người Khmer có lịch sử lâu đời gắn với vùng đất Nam bộ. Họ có tiếng nói và chữ
viết được hình thành và phát triển từ rất sớm. Dân tộc Khmer sống thật thà, chất phát,
khiêm tốn, dễ tin, nhưng cũng có lòng tự trọng và ý thức dân tộc cao. Có tính phóng
khoáng, tinh thần đoàn kết, tính tập thể gắn bó với cộng đồng. Đặc biệt, người Khmer
thích sống đơn giản, không muốn tranh đua, nghe và tin những điều mắt thấy. Họ cần cù
mộc mạc, giỏi chịu đựng gian khổ, có tinh thần tự túc và hỗ trợ trong cộng đồng.
Tuy có lịch sử lâu đời gắn với vùng đất Nam bộ, nơi đất rộng người thưa, được
nhiều ưu đãi của thiên nhiên, nhưng số đông đồng bào Khmer vẫn sống trong cảnh nghèo
túng, chưa tự mình vươn lên theo kịp các dân tộc anh em sống ở vùng này như người
Kinh, Chăm, Hoa.
Hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là khi có Chỉ thị
68/CT.TW ngày 18/4/1991 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác dân tộc ở vùng
ĐBDT Khmer, đời sống của đồng bào Khmer đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy

135. Việc quy hoạch bố trí sắp xếp lại dân cư cũng như công tác đào tạo cán bộ cơ sở
trực tiếp thực hiện Chương trình chưa thực hiện tốt. Tuy hầu hết các công trình đã hoàn
thành, đưa vào sử dụng đạt hiệu quả khá tốt, nhưng vẫn còn không ít công trình kém chất
lượng hoặc kéo dài thời gian thi công; một số công trình đã hư hỏng, xuống cấp chưa
được kịp thời bảo dưỡng, sửa chữa.

Trích đoạn Kết hợp giữa chuyên môn hóa với đa dạng hóa sản xuất kinh doanh TỘC KHMER AN GIANG GIAI ĐOẠN 2009 Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành phi nông nghiệp vùng đồng bào dân tộc Củng cố, phát triển các mô hình liên kết, hợp tác phù hợp với năng lực,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status