LUẬN VĂN:
Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường
tỉnh Phú Thọ hiện nay Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta có 54 thành phần dân tộc cùng cư trú. Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng
của mỡnh được kết tinh với hàng ngàn năm văn hiến. Cùng với dũng chảy của thời gian
và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động, biến đổi theo
những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa, vừa có sự
đan xen những yếu tố mới và cũ để làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc
và góp phần tạo nên âm hưởng văn hóa chung của cả cộng đồng người Việt.
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa mọi mặt của đời sống xã hội, đã tạo điều
kiện cho các quốc gia, dân tộc trên thế giới cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao mức
phỏt huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ hiện nay " làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta không phải là vấn đề
mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu với tầm cỡ, quy mô và khía
cạnh khác nhau.
- Các công trình, bài viết dưới góc độ triết học như: Vũ Thị Kim Dung, Cách tiếp
cận vấn đề văn hóa theo quan điểm triết học Mác, Tạp chí Triết học, số 1/1998; Vũ Đức
Khiển, Văn hóa với tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa
dân tộc, Tạp chí Triết học, số 6/2000; Nguyễn Huy Hoàng, Văn hóa trong nhận thức duy
vật lịch sử của Các Mác, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000 và Mấy vấn đề triết học
văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa, Hà Nội, 2002.
- Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển như: Trần Ngọc
Hiên, "Văn hóa và phát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
1993; Phạm Văn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994;
Phạm Xuân Nam, " Văn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
- Các công trình bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị trường như: Hồ
Sĩ Vịnh, "Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1999; Đặng Hữu Toàn, "Vai trò của văn hóa trong sự phát triển lâu bền theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Triết học, số 2/1999. - Các công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc
thiểu số Việt Nam như: Đỗ Huy - Trường Lưu, "Bản sắc dân tộc của văn hóa", Viện Văn
hóa, 1990; Huy Cận, "Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1994; Nguyễn Từ Chi, "Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người", Nxb Văn hóa
Dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003; Trần Văn Bính (chủ biên), "Văn hóa
các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra", Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004; Phan Hữu Dật, "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam", Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004.
văn hóa dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Nêu một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò nhân tố chủ
quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, bao hàm cả văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần; Phú Thọ là tỉnh có hơn 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đa dạng các
sắc thái văn hóa ấy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trò của nhân tố chủ
quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ trong
giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; các công trình nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố, có nội dung liên quan tới vấn đề mà luận
văn đề cập.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn
các phương pháp: Lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch nhằm
đạt tới mục đích mà luận văn đã đề ra.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn góp phần điều tra, nghiên cứu những nét đặc thù của văn hóa dân tộc
Mường ở Phú Thọ, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Mường ở Phú Thọ hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng phục vụ cho công tác văn hóa tư tưởng của tỉnh Phú Thọ
và làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy chuyên ngành: Triết học, Văn hóa ở các
đặc trưng cơ bản là năng lực hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo khách thể (tự nhiên, xó hội)
và chỉ trong quỏ trỡnh nhận thức, cải tạo giới tự nhiờn và cải tạo đời sống xó hội thỡ con
người mới bộc lộ mỡnh với tư cách là chủ thể của lịch sử. Khi nói tới khái niệm “chủ
thể”, V.I.Lênin viết:
“Khái niệm ấy (= con người) là khuynh hướng tự mỡnh thực hiện mỡnh, tự cho
mỡnh, qua bản thõn mỡnh, một tớnh khỏch quan trong thế giới khỏch quan và tự hoàn
thiện (tự thực hiện) mỡnh” [28, tr.288].
Từ các quan niệm đó nờu ở trờn, cú thể hiểu: Chủ thể - đó là con người với những
cấp độ khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp) đó và đang thực hiện một quá trỡnh hoạt
động nhằm cải tạo khách thể tương ứng.
Với cách hiểu khái niệm “chủ thể” như vậy thỡ chỉ cú thể quan niệm: Khỏch thể là
tất cả những gỡ mà chủ thể hướng vào nhằm nhận thức và cải tạo nó.
Như vậy, không phải tất cả hiện thực khách quan đều là khách thể mà chỉ có những
hiện thực khách quan mà con người hướng tới nhận thức và cải tạo mới trở thành khách
thể; tùy mức độ xác định chủ thể nhận thức, cải tạo thế giới khách quan là ai mới có thể
xác định được khách thể tương ứng. Khách thể có thể là những hiện tượng, quá trỡnh
thuộc giới tự nhiờn, cũng cú thể là những gỡ do con người tạo ra nhờ hoạt động lao động
sản xuất vật chất, là những yếu tố xó hội, những quan hệ kinh tế, quan hệ chớnh trị - xó
hội v.v…
Khách thể và chủ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này
là tiền đề tương tác của mặt kia, và con người chỉ trở thành chủ thể khi hoạt động tác
động vào thế giới khách quan, biến thế giới khách quan ấy thành khách thể của quá trỡnh hoạt động thực tiễn của mỡnh. Chủ thể nhận thức và cải tạo một cỏch chủ động sáng tạo
khách thể theo mục đích của mỡnh; nhưng chính khách thể bị tác động lại quy định chủ
thể. Bởi lẽ, khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và luôn vận động theo những quy luật vốn
có của nó, chỉ khi nào chủ thể nhận thức, hành động phù hợp với quy luật vận động của
khách thể, khi đó hoạt động của chủ thể mới đem lại hiệu quả tích cực.
* Về khái niệm: “cái chủ quan”, “cái khách quan”:
quan được chủ thể huy động sử dụng trực tiếp trong quá trỡnh tỏc động lên khách thể cụ
thể. Cho nên, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với cái chủ quan, hoặc với ý thức của chủ
thể sẽ là khụng đầy đủ và không làm rừ được đặc trưng của nhân tố chủ quan như là
những gỡ thuộc về hoạt động của chủ thể, NTCQ không phải là ý thức núi chung của chủ
thể, mà là ý thức trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chủ thể. Ngoài các yếu tố của chủ thể
như năng lực thể chất, ý thức chỉ đạo và định hướng hoạt động thực tiễn, thỡ NTCQ cũn
bao hàm cả bản thân hoạt động đó nữa, nếu thiếu hoạt động của con người thỡ khụng thể
thay đổi hiện thực và không thể trở thành NTCQ. Đề cập đến vấn đề này, C.Mác viết:
“Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gỡ hết. Muốn thực hiện được tư tưởng cần có
những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [35, tr.12].
Khái niệm NTCQ cũng không đồng nhất với khái niệm nhân tố con người. Nhân tố
con người là tất cả những gỡ thuộc về con người (mọi mặt của con người) trong hoạt
động cải tạo thế giới (tự nhiên, xó hội và cả bản thõn con người). NTCQ có phạm vi xem
xét hẹp hơn nhân tố con người, vỡ nú chỉ thể hiện vai trũ của chủ thể trong một hoạt động
xác định.
Cỏc nguyờn lý triết học mỏc xớt chỉ rừ con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh
nhưng đồng thời cũng là chủ thể của hoàn cảnh. Do đó, khi đặt trong mối quan hệ chung
nhất, đối diện với tự nhiên chúng ta có khái niệm con người. Khi đặt con người trong
trạng thái tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo theo mục đích
nhất định, lúc đó có khái niệm chủ thể và đối lập với nó là khái niệm khách thể.
Về phạm trù cái khách quan, cũng có rất nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau,
có ý kiến quy phạm trự khỏch quan về phạm trự vật chất, cú ý kiến cho rằng cỏi khỏch
quan bao hàm cả hiện tượng ý thức…Trờn thực tế, muốn khẳng định cái gỡ là khỏch quan phải đặt nó trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Không thể đồng nhất cái
khách quan với hiện thực khách quan hay thế giới vật chất, vỡ chỉ cú những hiện tượng ý
thức tồn tại bờn ngoài ý thức và ý chớ của chủ thể, bị chủ thể tác động biến đổi, thỡ ý
thức ấy đóng vai trũ là khỏch thể.
Như vậy, cỏi khỏch quan là tất cả những gỡ tồn tại ngoài chủ thể và khụng phụ
không thể thành công.
“Thật ra mục đích của con người là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế
giới khách quan làm tiền đề” [28, tr.201].
ĐKKQ quy định hoạt động thực tiễn của chủ thể, nó là yếu tố chi phối, quy định
phương pháp, cách thức, phương tiện tác động của chủ thể, mọi hoạt động của chủ thể
phải phù hợp với thực tiễn khách quan.
ĐKKQ quy định sự phát triển của nhân tố khách quan, những phẩm chất, yếu tố
của chủ thể phải tương ứng với ĐKKQ mà trong đó chủ thể hoạt động, khi ĐKKQ
thay đổi thỡ NTCQ cũng phải thay đổi cho phù hợp với ĐKKQ mới.
Thứ hai, NTCQ cú vai trũ tỏc động tích cực đến sự biến đổi của ĐKKQ.
NTCQ là những gỡ thuộc về chủ thể, cho nờn NTCQ tuy bị ĐKKQ quy định nhưng
nó không thụ động hoàn toàn mà có tính tích cực sáng tạo, tính độc lập tương đối so với
ĐKKQ. Vai trũ tớch cực sỏng tạo của NTCQ thể hiện ở chỗ: Trong hoạt động thực tiễn,
chủ thể vận dụng sáng tạo cái chủ quan của mỡnh để tỡm hiểu, nhận thức quy luật vận
động của cái khách quan, khi cả hai tương thích sẽ tạo nên sự chuyển hóa khả năng thành
hiện thực.
Với tư cách là chủ thể hoạt động, con người luôn chủ động lựa chọn những khả
năng tốt nhất, vừa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của mỡnh vừa khụng đi ngược lại tiến
trỡnh phỏt triển của lịch sử. Cỏc quy luật khỏch quan vận động đan xen nhau, nhưng chủ
thể hoạt động có khả năng dựa trên cơ sở những nhận thức đúng, phù hợp của mỡnh để
điều chỉnh hỡnh thức, trật tự tỏc động của quy luật khách quan, có thể tạo ra những yếu
tố làm xuất hiện những quy luật khách quan mới.
Trong quá trỡnh tỏc động trở lại quy luật khách quan, NTCQ cũng đồng thời tự
nâng cao khả năng nhận thức của mỡnh trong quỏ trỡnh biến đổi thế giới khách quan.
Tuy nhiên, NTCQ có vai trũ to lớn đến đâu, sức sáng tạo đến thế nào thỡ trong việc xem xột, giải quyết cỏc vấn đề vẫn phải xuất phát từ thực tế khách quan và phải tuân thủ các
nguyên tắc khách quan. Hơn nữa, bản thân chủ thể hoạt động cũng là sản phẩm của thế
giới khách quan, có nguồn gốc từ thế giới khách quan, toàn bộ cuộc sống, sinh hoạt, lao
trong quá trỡnh hỡnh thành, thỡ khi đó NTCQ mới có cơ sở khách quan để biến những
khả năng thành hiện thực, công cuộc cải biến xó hội mới thành cụng.
Khi phõn tớch tỡnh thế cỏch mạng ở Nga năm 1917, so sánh tỡnh hỡnh cỏch mạng
ở Nga khi đó với những tỡnh thế cỏch mạng trước đó cả ở Nga, ở Đức, và tất cả các thời
kỳ cách mạng Phương Tây trước đó. V.I.Lênin đó khẳng định: Cũng là những ĐKKQ
giống như thế, cũng là sự khủng hoảng chính trị của tầng lớp trên cùng, quần chúng nhân
dân bị áp bức nặng nề, cũng là ý thức muốn vựng lờn làm một cuộc cải biến xó hội…
Nhưng các cuộc cách mạng trước đó không thể nổ ra là vỡ thiếu đi sự chín muồi của
NTCQ, của giai cấp cách mạng, tức là thiếu đi khả năng phát động, tổ chức, tập hợp quần
chúng nhân dân tạo sức mạnh tổng hợp của các giai cấp bị trị trong cuộc đấu tranh cách
mạng ấy [27, tr. 268]. Như vậy, theo V.I.Lênin, nếu không xuất hiện các tỡnh thế cỏch
mạng (ĐKKQ), hoặc nếu không có sự biến đổi chủ quan của giai cấp cách mạng thỡ tỡnh
thế cỏch mạng (ĐKKQ) chỉ là khả năng khách quan, mà không thể là hiện thực.
Trên thực tế, không phải lúc nào các ĐKKQ cũng tự phát (tự nó) hỡnh thành, mà cú
lỳc cỏc ĐKKQ cũng phải được xúc tiến, nảy sinh thông qua các hoạt động tích cực của
con người. Sự năng động chủ quan của con người phải được đo bằng hiệu quả vật chất
chứ khụng chỉ là trong lý luận hay tư duy.
Một vấn đề thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa NTCQ và
ĐKKQ là ở chỗ: phát huy vai trũ NTCQ khụng thể tỏch rời những ĐKKQ đang có,
không thể hoạt động một cách tùy tiện trước quy luật của TN, của XH. Đó phải là sự biến
đổi không ngừng của bản thân chủ thể (từ năng lực, phẩm chất, đạo đức…đến khả năng
thiết kế, tổ chức hoạt động thực tiễn…). Khi đó mới thúc đẩy được kinh tế – xó hội phỏt
triển, mới cải tạo thế giới khỏch quan thành cụng, mới ngày một nâng cao hơn chất lượng
cuộc sống cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần, con người (chủ thể hành động)
ngày càng hoàn thiện bản thân mỡnh, trang bị cho mỡnh đầy đủ các điều kiện để vươn tới
cuộc sống đậm chất người hơn.
1.1.2. Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Văn hóa - Cho đến nay, không phải tất cả mọi người đó đồng ý với nhau về định
cầu thể xác ràng buộc, và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thỡ con người
mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của từ đó; Con vật chỉ tái sản xuất ra bản
thân nó, cũn con người thỡ tỏi sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiờn [37, tr.137].
Con người là một thực thể có ý thức, sống, hoạt động trên cơ sở hiểu rừ bản thõn,
hiểu rừ đối tượng định tác động, từ đó tự chịu trách nhiệm về mục tiêu, thái độ, hành vi,
phương hướng tác động đến đối tượng. Sự tự ý thức của con người được thể hiện rừ nột
trong đời sống tinh thần, trong sáng tạo nghệ thuật, họ sản xuất và xây dựng “theo các
quy luật cái đẹp” [38, tr.137], điều đó thể hiện rừ đầu óc chiến lược, năng lực phân tích,
tổng kết, dự báo, gắn với tầm nhỡn và nhón quan văn hóa của chủ thể hành động.
Trong thế giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với tư cách là
chủ thể của bản thân mỡnh, làm chủ giới tự nhiờn, hũa vào giới tự nhiờn nguyờn sơ, để
tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa món những nhu cầu, ham muốn chinh phục
tự nhiờn, xó hội …của bản thõn con người - Đó là văn hóa. C.Mác cho rằng, xét đến
cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động. Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người
nhằm cải biến tự nhiên và xó hội đều bắt đầu từ lao động. Chính lao động đó sỏng tạo ra
con người và xó hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng
động vật, tiến dần đến trỡnh độ trưởng thành về nhân cách, trỡnh độ trưởng thành về văn
hóa của mỗi cá nhân.
Trong quỏ trỡnh lao động, con người đó in dấu mỡnh vào trong từng khõu, từng yếu
tố, từng mặt, từng bộ phận…của thành quả lao động, làm cho tự nhiên tự hiện hỡnh trong
hoạt động của con người.
C.Mác viết: “…Bằng thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho “tồn tại”
của mỡnh phự hợp với bản chất của mỡnh” [38, tr.507].
Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hỡnh thành và phỏt triển trờn cơ sở sự hỡnh
thành và phỏt triển con người. Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ
hỡnh thành và phỏt triển bản chất người trong quá trỡnh con người chinh phục và biến
đổi tự nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ
giữa đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của xó hội loài
người. Nếu môi trường đầu tiên cho con người sự hỡnh thành và phỏt triển, quyết định sự
giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên một tầm cao mới,
mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người. Người nói rằng:
Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải là
do những người tự cho mỡnh là chuyờn gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… văn
hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người
đó tạo ra dưới ách áp bức của xó hội Tư bản, địa chủ và của xó hội quan liờu
[26, tr.402].
Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công CNXH, CNCS thỡ con người
mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trỡnh độ làm chủ của mỡnh trước tự
nhiên, xó hội và ngay cả trước bản thân mỡnh. Từ đó, con người và xó hội loài người mới
có điều kiện xây dựng và phát triển sự công bằng, bỡnh đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu
chí: chân, thiện, mỹ…mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người
mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trỡnh độ nhân văn đích thực.
Cũng như các bậc tiền bối của chủ nghĩa Mác, quan niệm về văn hóa của nhà văn
hóa lớn Hồ Chí Minh cũng rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn
hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam, với tầm nhỡn bao quỏt, Người đưa ra khái niệm về
văn hóa như sau:
Vỡ lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và
các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đó sản sinh ra nhằm thớch ứng những nhu cầu đời sống
và đũi hỏi của sự sinh tồn [39, tr.431].
Quan điểm trên của Người đó khỏi quỏt được nội dung rộng nhất của phạm trù văn
hóa. Chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà cũn
bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất. Người cũng chỉ ra nguồn gốc sâu xa của
văn hóa đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của
đời sống xó hội. Nú biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiờn, yếu tố xó hội trong con
trong quá trỡnh giao lưu quốc tế, đũi hỏi mỗi quốc gia phải nghiờn cứu kỹ, toàn diện văn hóa của các dân tộc khác, học lấy những gỡ tốt đẹp, làm giàu hơn cho văn hóa của chính
mỡnh, cú như thế văn hóa Việt Nam mới thật có tinh thần thuần túy Việt Nam, mới đủ
sức mạnh “soi đường cho quốc dân đi”.
Hồ Chí Minh đó để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng to lớn trong nhiều
lĩnh vực, mà văn hóa là một trong những lĩnh vực ấy. Những quan điểm của Người về
văn hóa, về giữ gỡn, bảo tồn văn hóa dân tộc đó trở thành phương châm hành động của
Đảng, của Nhà nước, của Nhân dân ta, đặc biệt là các nhà văn hóa.
Thấm nhuần lý luận Mỏc – Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng và Nhà nước ta đó
cú sự đổi mới nhận thức về văn hóa trên mọi phương diện. Nghị quyết bốn Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VII); và đặc biệt, đến nghị quyết Trung ương năm (khóa
VIII) đó đề cập đến toàn bộ các vấn đề văn hóa liên quan đến quốc tế dân sinh, đến xây
dựng đời sống tinh thần cho con người. Trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của nghị
quyết, quan điểm thứ nhất đó khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xó hội, vừa
là mục tiờu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xó hội” [16, tr.55], cho thấy:
chớnh sỏch kinh tế trong văn hóa mà Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đó đề cập
nhằm mục đích gắn văn hóa với hoạt động kinh tế, khai thác các tiềm năng kinh tế hỗ trợ
cho các hoạt động phát triển văn hóa và đồng thời cũng đảm bảo được các yêu cầu về
chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gỡn bản sắc văn hóa dân tộc. Khi đề cập
đến vấn đề “bản sắc văn hóa dân tộc”, Đảng ta khẳng định:
Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hun đúc nên qua lịch sử hàng ngàn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lũng yờu nước nồng nàn, ý chớ tự
cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đỡnh
- làng xó - Tổ quốc; lũng nhõn ỏi, khoan dung, trọng nghĩa tỡnh, đạo lý, đức
tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong
lối sống… bản sắc văn hóa cũn đậm nét cả trong các hỡnh thức biểu hiện mang
tớnh dõn tộc độc đáo [16, tr.56].
Tóm lại, văn hóa gắn với toàn bộ hoạt động sống của con người, là “thiên nhiên thứ
hai” với tư cách là sản phẩm mang tính tộc loại của con người. Văn hóa, về bản chất
thường hướng tới mục tiêu “nhân đạo hóa” con người, hướng tới sự phát triển và giải phóng những năng lực bản chất của con người, nhằm phát triển toàn diện con người,
hoàn thiện xó hội loài người. Cho nên, trong quá trỡnh phỏt triển của lịch sử, bờn cạnh sự
hội nhập, cố gắng phấn đấu để có thể ngang bằng nhau về kinh tế, mức sống, kỹ thuật,
văn minh thỡ vấn đề giữ gỡn, tụn vinh và phỏt huy những tinh hoa văn hóa sẽ làm nên sự
khác biệt, sự độc đáo giữa các dân tộc về lối sống, phương thức sống và giá trị cuộc sống.
Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc được rất nhiều quốc gia trên thể giới quan tâm (đặc
biệt là các nước đang phát triển). Trong “thập kỷ thế giới văn hóa phát triển” (1988 –
1997) UNESCO ghi rừ: "Mối quan tõm lớn của những xó hội đương thời là việc giữ gỡn
những nột độc đáo trong bản sắc văn hóa của dân tộc mỡnh và ngăn chặn sự sói mũn
những giỏ trị văn hóa do sự biến đổi của thị hiếu, lối sống, ảnh hưởng của nước ngoài"
[57, tr.79].
Văn hóa do con người sáng tạo ra, nhưng văn hóa không mất đi cùng với thế hệ
người tạo ra nó, mà văn hóa tồn tại trong những lớp trầm tích các di sản, được bổ sung
những cái tiên tiến, tạo nên dấu ấn riêng biệt cho mỗi dân tộc, đó chính là bản sắc văn
hóa dân tộc.
Có thể nói: Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần
của dân tộc, là những nét độc đáo rất riêng không hề trộn lẫn của dân tộc này với dân
tộc khác.
Đối với mỗi dân tộc, văn hóa là căn cước, là chứng chỉ, nú chỉ rừ anh là ai, thiếu nú
anh khụng tồn tại như một giá trị. Bản sắc dân tộc bao gồm cả hai mặt: Một mặt, nú là cỏi
cốt lừi bờn trong, cỏi sức mạnh tiềm tàng, bền vững, nú chi phối tư tưởng, hành vi của
dân tộc. Mặt khác, nó là biểu hiện ra bên ngoài thành những phong tục, tập quán trong sinh
hoạt, thường được gọi là hỡnh thức, màu sắc, hay sắc thỏi dõn tộc. Về mặt lịch sử, cỏi “tự
nhiờn thứ hai”, cỏi tự nhiờn rất người, hay văn hóa không phải được tạo ra một lần và tồn tại
mói mói, mà ở cỏc cộng đồng người khác nhau, không gian và phương thức sống khác nhau
văn hóa ấy; tức là, song hành giữa yếu tố văn hóa cụ thể cần bảo tồn, bảo vệ và những
con người cụ thể đó tạo ra sắc thỏi văn hóa của họ.
1.2. Vai trò nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc 1.2.1. Những điều kiện khách quan tác động đến vai trũ giữ gỡn, phỏt huy bản sắc
văn hóa dân tộc của nhân tố chủ quan trong giai đoạn hiện nay
Mỗi nền văn hóa đều là sản phẩm của một cộng đồng người, trong mối quan hệ giữa
con người với môi trường tự nhiên, môi trường xó hội; trong cỏc mối quan hệ ấy con
người đó sỏng tạo ra cỏc giỏ trị văn hóa, các hệ thống chuẩn mực: Chân, thiện, mỹ và các
quan hệ nhân văn. Chính vỡ thế, mụi trường sống, hoàn cảnh hiện thực mà chủ thể sáng
tạo văn hóa đang sống và hoạt động (ĐKKQ) là yếu tố quy định sự hỡnh thành cỏc giỏ trị
văn hóa, đến quá trỡnh bảo tồn, phỏt huy cỏc giỏ trị văn hóa đó. Khi nói đến văn hóa là
nói đến giá trị, nhưng giá trị văn hóa không tồn tại một cách đơn lẻ, nhất thời, mà được
tập hợp trong một môi trường nhất định, cụ thể, sinh động, với những con người, những
chủ thể sáng tạo, giữ gỡn, phỏt huy cỏc giỏ trị văn hóa đó.
Triết học Mỏc – Lờnin chỉ rừ, trong mối quan hệ giữa mụi trường, hoàn cảnh và con
người, giữa ĐKKQ và NTCQ… thỡ mụi trường hoàn cảnh, hay ĐKKQ giữ vị trí chi phối
chủ yếu đến mọi hoạt động của chủ thể, quyết định vai trũ của NTCQ. Quy luật hỡnh
thành và phỏt triển văn hóa thông qua mối tương quan giữa văn hóa với các phương diện
khác của đời sống xó hội chớnh là sự khẳng định vai trũ của con người trong quá trỡnh
chắt lọc những tinh hoa văn hóa tạo nên sự phong phú cho đời sống vật chất và tinh thần
của mỡnh. Những mặt, những nhõn tố (mang tớnh cụ thể) tạo nờn hoàn cảnh hiện thực
(cú tớnh thời điểm) ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người, đến sự sáng tạo, giữ
gỡn và phỏt triển văn hóa như: yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị - xó hội, xu hướng biến đổi
đạo đức, lối sống và nhu cầu hưởng thụ văn hóa
Thứ nhất, những tác động của môi trường kinh tế.
Văn hóa và môi trường kinh tế là những phương diện khác nhau của đời sống xó
hội, nhưng giữa chúng tồn tại mối quan hệ biện chứng; trong mối quan hệ đó, cơ sở kinh
mạnh…Điều này dẫn tới phân hóa giàu nghèo, suy thoái đạo đức cá nhân và gia đỡnh.
Một số người do kiếm được đồng tiền một cách dễ dàng, phi pháp nên có lối sống trác
táng, góp phần làm tăng các tệ nạn xó hội, súi mũn văn hóa truyền thống. Hơn nữa, trong
quá trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, một số cỏc quốc gia kộm phỏt triển bị phụ thuộc vào
cỏc nước giàu, dẫn tới nguy cơ bị đồng hóa, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, làm suy
giảm sức mạnh dân tộc và có thể dẫn đến mất chủ quyền quốc gia. Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng cao cũng bị tác động và ảnh hưởng tương tự: Điện khí hóa toàn quốc đó
làm cho cuộc sống mọi mặt của đồng bào được nâng lên rừ rệt, nhưng cũng có một thực
tế là lưới điện quốc gia phát triển đến đâu thỡ cối xay tay, cối gió gạo nước, đuống gỗ
(một loại cối gió gạo của người Mường)… vắng bóng đến đó. Cơ chế thị trường, kinh tế
hàng hóa, sản xuất công nghiệp phát triển thỡ nhà sàn, khung cửi, quần áo dân tộc…cũng
mai một dần; sự mở rộng của thị trường băng đĩa đó làm cho nhu cầu thưởng thức các
loại hỡnh nghệ thuật dõn gian của giới trẻ giảm đi và đang có nguy cơ mất hẳn.
Nhưng cho dù nhỡn nhận quỏ trỡnh tỏc động của quốc tế hóa kinh tế dưới góc độ
tích cực hay tiêu cực, thỡ chỳng ta vẫn phải khẳng định: quốc tế hóa kinh tế mà đỉnh cao
của nó là toàn cầu hóa là một xu thế khách quan không thể đảo ngược, nó đó, đang và sẽ
tiếp tục phát triển. Vấn đề là ở chỗ, xu thế khách quan này được diễn ra thông qua hoạt
động có ý thức của con người (chủ thể kinh tế). Nên đối với mỗi quốc gia, để không bị tụt
hậu về kinh tế trên trường quốc tế, cần chuẩn bị tốt nội lực, sáng suốt trong lựa chọn
đường đi nước bước, nhận thức đúng bản chất thời đại, để hạn chế đến mức thấp nhất
những tác động tiêu cực và hội nhập thành công.
Thứ hai, những tác động của lĩnh vực chính trị - tư tưởng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế như hiện
nay, ngoài những tác động tích cực thỡ quốc tế hóa kinh tế cũng sẽ tạo cơ hội để các thế
lực thù địch thông qua những tác động của tư tưởng chính trị để tuyên truyền những quan
điểm sai trái, các chiêu bài tự do, dân chủ…nhằm công kích đường lối lónh đạo của một
số quốc gia, lôi kéo quần chúng nhân dân vào những hoạt động chống lại lợi ích của
chính quốc gia mỡnh. Qua đó, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ sự thống