ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NINH THỊ LIÊN
VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN,
PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG
TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN CƯ
HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN
TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN
TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1.1. Khái niệm nhân tố chủ quan, văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân
tộc 7
1.1.1. Khái niệm nhân tố chủ quan 7
1.1.2. Văn hóa dân tộc 16
1.1.3. Bản sắc văn hóa dân tộc 26
1.2. Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc 29
1.2.1. Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc phối hợp lãnh, chỉ đạo
Ninh Bình hiện nay 90
3.1.2. Tổ chức việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình bằng hoạt động cụ thể, thiết thực 93
3.2. Giải pháp 96
3.2.1. Phát triển kinh tế, nâng cao dân trí phù hợp với đặc điểm đồng
bào dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình 96
3.2.2. Gắn tuyên truyền, vận động với những hoạt động thích hợp
nhằm nâng cao ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa độc
đáo của dân tộc Mường ở Ninh Bình giai đoạn hiện nay 104
3.2.3. Bảo tồn, khôi phục, phát huy các giá trị văn hóa vật chất và tinh
thần phải trở thành hoạt động thường nhật của cả cộng đồng dân tộc
Mường trong tỉnh 107
3.2.4. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người Mường
phải đáp ứng yêu cầu giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Mường 108
KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CNCS : Chủ nghĩa cộng sản
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ĐKKQ : Điều kiện khách quan
HĐND : Hội đồng nhân dân
NTCQ : Nhân tố chủ quan
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên
kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) Đảng chủ trương:
Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết
để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt
Nam. 2
Trong cộng đồng đa dân tộc, dân tộc Mường chiếm tỷ lệ dân số đông thứ
4 sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, họ cư trú trên vùng địa bàn đồi núi thấp thuộc
các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tây (cũ) Đặc biệt với kiểu địa hình phân
chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng
đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và phía Nam như tỉnh Ninh Bình, phù
hợp với phong tục tập quán canh tác, phát triển nghề thủ công của người Mường.
Sự phong phú về cảnh quan, môi trường đã tác động rất lớn đến đời sống của
người Mường ở đây, làm nên một đời sống văn hóa dân gian khá phong phú như
lễ hội, trang phục, thơ, ca, tín ngưỡng đậm tính triết lý nhân sinh. Trước sự tác
động và biến đổi của thế giới, đã có không ít những giá trị văn hóa truyền thống
của người Mường chỉ còn tồn tại trong ký ức của những người già. Trong rất
nhiều nguyên nhân dẫn tới sự mai một, đứt gãy, những giá trị văn hóa của các
dân tộc thiểu số, có nguyên nhân sâu xa nằm trong chính bản thân những con
người, những tầng lớp kế thừa văn hóa của dân tộc ấy. Cho nên, việc giáo dục
ý thức, thái độ tự vươn lên giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa của mỗi tộc
người là hết sức cần thiết.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Vai trò nhân tố chủ quan
trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình
hiện nay" cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta không phải
là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu với tầm cỡ,
quy mô và khác cạnh khác nhau.
nghệ thuật, Hà Nội, 2003; Trần Văn Bính (chủ biên), "Văn hóa các dân tộc Tây
Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
Phan Hữu Dật, "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam", Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004.
Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu thì trong các văn kiện của Đảng
cũng nêu rõ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng xã
hội chủ nghĩa hiện nay. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn 4
đề: "Vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay".
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ tính đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường, những
yêu cầu cấp thiết của việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc ít người
nói chung và dân tộc Mường nói riêng, luận văn đưa ra những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là: Chỉ ra vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc.
Hai là: Trình bày những điều kiện nảy sinh và tồn tại của văn hóa Mường;
chỉ rõ nét đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình.
Ba là: Tìm hiểu thực trạng và những vấn đề đặt ra của nhân tố chủ quan
trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình.
Bốn là: Nêu một số quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò
nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở
bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình hiện nay.
- Luận văn có thể được sử dụng phục vụ cho công tác văn hóa tư tưởng
của tỉnh Ninh Bình và làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy chuyên
ngành: Triết học,, CNXHKH, Văn hóa ở các trường chính trị tỉnh hoặc các
trường đại học, cao đẳng. 6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong việc
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình hiện nay.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong
việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay.
thức và ý chí, và đối lập với khách thể bên ngoài" [50, tr.192].
Từ những khái niệm trên cho thấy: Tùy từng đối tượng được xem xét mà
xác định chủ thể tương ứng, chủ thể có thể là cả loài người, một nhóm người, 8
một giai cấp, một đảng phái hay một tổ chức chính trị - xã hội nào đó, bằng
những hoạt động của mình nhằm cải tạo đối tượng khách thể, làm cho đối tượng
ấy (khách thể) biến đổi cho phù hợp với lợi ích của mình.
Như vậy, có thể hiểu: chủ thể là con người có ý chí, có ý thức, mang tính
sáng tạo với những cấp độ tồn tại khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp) bằng
hoạt động thực tiễn của mình đã và đang tác động đến khách thể.
Con người ở đây với tư cách là chủ thể có ý thức và ý chí, bằng hoạt động
mang tính sáng tạo của mình tác động vào đối tượng (khách thể) nhằm cải tạo
đối tượng (tự nhiên và xã hội) cho phù hợp với mục đích của chủ thể và phục vụ
chủ thể. Năng lực sáng tạo của chủ thể được thể hiện bằng phương pháp, cách
thức tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra. V.I.Lênin nói: "Khái
niệm ấy (= con người) là khuynh hướng tự mình thực hiện mình, tự cho mình,
qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới quan và tự hoàn thiện (tự
thực hiện) mình" [20, tr.228].
Với cách hiểu khái niệm “chủ thể” như vậy thì có thể quan niệm:
Khách thể là tất cả những đối tượng mà chủ thể bằng ý thức và hoạt động
thực tiễn của mình tác động vào chúng nhằm nhận thức và cải tạo chúng cho
phù hợp với mục đích con người.
Khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan mà chỉ là một bộ
phận của hiện thực khách quan. Hiện thực khách quan vô cùng phong phú nên
khách thể (với tư cách là bộ phận của thế giới khách quan) cũng vô cùng phong
phú, khách thể có thể là những sự vật, hiện tượng hay quá trình trong tự nhiên
cũng như trong đời sống xã hội, những quan hệ kinh tế, những quan hệ chính trị
- xã hội, kể cả những quan hệ tư tưởng cũng là những khách thể của những chủ
con người, những giai cấp, những chính đảng sáng tạo ra lịch sử" 31, tr.18.
Cũng có tác giả lại giới hạn và đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác
của con người. Như vậy, nhóm quan niệm nêu trên thường nhấn mạnh đặc trưng
sáng tạo của ý thức, tư tưởng, vai trò của ý thức trong việc phản ánh điều kiện
khách quan. Những quan niệm trên đây có nhiều giá trị và tính hợp lý, vì đã chỉ
ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người. Nhưng, nếu
đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có thức của con người; hoặc giới hạn 10
nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người, thì theo chúng tôi chưa
thật đầy đủ và như vậy dễ dẫn đến tình trạng "chủ quan hoá" hoạt động của con
người. Bởi vì, hoạt động của con người không chỉ thuần tuý thuộc về nhân tố
chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện khách quan.
Theo chúng tôi, nói tới "nhân tố chủ quan", trước hết chúng ta cần đề cập
tới đặc trưng cơ bản của nó là "tính tích cực, tính sáng tạo" của chủ thể hoạt
động. Bởi lẽ, các nguyên lý triết học Mác xít chỉ ra rằng, con người vừa là sản
phẩm, vừa là chủ thể của mọi quá trình diễn ra trong lịch sử - xã hội loài người.
Do đó, khi đặt con người với tư cách là chủ thể (Tuỳ ở cấp độ xem xét là nhóm,
giai cấp ) trong trạng thái đang tích cực hoạt động trước một đối tượng cần
nhận thức và cải tạo nó theo một mục đích nhất định, với đầy đủ các mặt yếu tố,
động lực, phẩm chất và năng lực tạo thành. Tính tích cực của chủ thể - Các
nhân tố tạo thành nguyên nhân và điều kiện của mọi hoạt động tích cực của chủ
thể, chúng ta có khách niệm nhân tố chủ quan và đối lập với nó là điều kiện
khách quan 35, tr.18-19.
Từ những nội dung phân tích trên đây, theo chúng tôi, giữa nhân tố chủ
quan và chủ thể có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau. Sự thống
nhất giữa khái niệm "chủ thể" và "nhân tố chủ quan" được thể hiện ở chỗ : nhân
tố chủ quan về tất yếu luôn thuộc về chủ thể. Còn giữa các khái niệm này có sự
khác nhau và tính độc lập tương đối. Vì nhân tố chủ quan, là khái niệm để chỉ
+ Những điều kiện khách quan là tất cả những gì tạo nên một hoàn cảnh
hiện thực quy định và tác động lên mọi hoạt động của chủ thể, tồn tại không phụ
thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động 3, tr.19.
+ Điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các nhân tố tạo nên một hoàn
cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tác động vào hoạt động
của chủ thể trong hoàn cảnh cụ thể đó 35, tr.12.
Như chúng ta đều biết, bất cứ một chủ thể lịch sử - xã hội nào, cho dù ở
các vị trí và địa vị xã hội khác nhau, trong hoạt động và tồn tại đều gắn liền với
một điều kiện khách quan xác định cụ thể. Do vậy, trong mỗi hoạt động của chủ
thể, các yếu tố hợp thành điều kiện khách quan rất phong phú và đa dạng, bao
gồm nhiều mặt. Như, các yếu tố, các kết cấu vật chất tồn tại dưới dạng có sẵn 12
trong tự nhiên; các yếu tố vật chất tồn tại dưới dạng xã hội. Những yếu tố có tính
vật chất, cùng với các yếu tố tinh thần như tư tưởng, tâm lý, tập quán đang tồn
tại hiện thực trong xã hội hợp thành một hoàn cảnh để chủ thể tồn tại và hoạt
động - Đó là điều kiện khách quan.
Do vậy, theo chúng tôi điều kiện khách quan đó là:
Tổng thể những mặt, những nhân tố, những mối quan hệ tồn tại ở bên
ngoài và độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh, một điều kiện hiện thực,
thường xuyên tác động và quy định hoạt động của chủ thể trong những hoạt
động xác định.
Như vậy, ĐKKQ là hoàn cảnh mà trong đó chủ thể tồn tại và hoạt động,
nó quy định hoạt động của chủ thể. Bất kỳ một hoạt động nào của chủ thể cũng
có thể được thực hiện khi có những điều kiện nhất định. Những điều kiện đó
đóng vai những tiền đề của hoạt động [53, tr.71-72].
Với quan niệm và những nội dung phân tích như trên, khi nói đến ĐKKQ
thỡ trước hết phải nói đến những điều kiện vật chất tạo nên một hoàn cảnh hiện
thực và độc lập với chủ thể xác định và quy định hoạt động của chủ thể đó. Nếu
những khả năng tốt nhất, vừa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của mình vừa không
đi ngược lại tiến trình phát triển của lịch sử. Các quy luật khách quan vận động
đan xen nhau, nhưng chủ thể hoạt động có khả năng dựa trên cơ sở những nhận
thức đúng, phù hợp của mình để điều chỉnh hình thức, trật tự tác động của quy
luật khách quan, có thể tạo ra những yếu tố làm xuất hiện những quy luật khách
quan mới.
Trong quá trình tác động trở lại quy luật khách quan, NTCQ cũng đồng
thời tự nâng cao khả năng nhận thức của mình trong quá trình biến đổi thế giới
khách quan. Tuy nhiên, NTCQ có vai trò to lớn đến đâu, sức sáng tạo đến thế
nào thì trong việc xem xét, giải quyết các vấn đề vẫn phải xuất phát từ thực tế
khách quan và phải tuân thủ các nguyên tắc khách quan. Hơn nữa, bản thân chủ
thể hoạt động cũng là sản phẩm của thế giới khách quan, có nguồn gốc từ thế
giới khách quan, toàn bộ cuộc sống, sinh hoạt, lao động, và phát triển của chủ
thể đều phản ánh những điều kiện, quy luật của thế giới khách quan - Mọi sự cố
gắng của chủ thể trong quá trình phản ánh, nhận thức và cải tạo thế giới cũng là 14
để đáp ứng một cách tốt nhất những mục đích và nhu cầu sống của chính mình
(cả vật chất lẫn tinh thần).
Nói tóm lại, trong mối quan hệ biện chứng giữa NTCQ và ĐKKQ thì
ĐKKQ là tính thứ nhất, quy định NTCQ cả về nội dung, phương hướng và tổ
chức hoạt động thực tiễn. Nhưng NTCQ không bị động trước hoàn cảnh khách
quan mà luôn lấy ĐKKQ là điểm xuất phát, tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan. Phát hiện, nắm bắt những khả năng khách quan, tạo ra những tiền đề
biến khả năng khách quan thành hiện thực, làm chủ cái khách quan, biến tính tất
yếu khách quan thành nội dung hoạt động tự do sáng tạo của mình. Tính biện
chứng trong mối quan hệ giữa NTCQ và ĐKKQ còn thể hiện ở chỗ: để đảm bảo
tính hiệu quả trong hoạt động thực tiễn thì bắt buộc NTCQ phải vận động, phát
triển, tự hoàn thiện những phẩm chất, nâng cao nhận thức, khả năng vận dụng, tổ
các giai cấp bị trị trong cuộc đấu tranh cách mạng ấy [19, tr.268]. Như vậy, theo
V.I.Lênin, nếu không xuất hiện các tình thế cách mạng (ĐKKQ), hoặc nếu không
có sự biến đổi chủ quan của giai cấp cách mạng thì tình thế cách mạng (ĐKKQ)
chỉ là khả năng khách quan, mà không thể là hiện thực.
Trên thực tế, không phải lúc nào các ĐKKQ cũng tự phát (tự nó) hình
thành, mà có lúc các ĐKKQ cũng phải được xúc tiến, nảy sinh thông qua các
hoạt động tích cực của con người. Sự năng động chủ quan của con người phải
được đo bằng hiệu quả vật chất chứ không chỉ là trong lý luận hay tư duy.
Một vấn đề thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa
NTCQ và ĐKKQ là ở chỗ: phát huy vai trò NTCQ không thể tách rời những
ĐKKQ đang có, không thể hoạt động một cách tùy tiện trước quy luật của tự
nhiên, của xã hội. Đó phải là sự biến đổi không ngừng của bản thân chủ thể (từ
năng lực, phẩm chất, đạo đức… đến khả năng thiết kế, tổ chức hoạt động thực
tiễn…). Khi đó mới thúc đẩy được kinh tế - xã hội phát triển, mới cải tạo thế giới
khách quan thành công, mới ngày một nâng cao hơn chất lượng cuộc sống cho
con người cả về vật chất lẫn tinh thần, con người (chủ thể hành động) ngày càng
hoàn thiện bản thân mình, trang bị cho mình đầy đủ các điều kiện để vươn tới
cuộc sống đậm chất người hơn. 16
1.1.2. Văn hóa dân tộc
Văn hóa - Cho đến nay, không phải tất cả mọi người đã đồng ý với nhau
về định nghĩa. Từ cổ chí kim, trong lịch sử loài người, xuất phát từ cách tiếp cận
và nhận thức khác nhau mà hình thành các định nghĩa về văn hóa. Năm 1952,
các nhà dân tộc học người Mỹ đã thống kê được hơn 300 định nghĩa mà các tác
giả thuộc nhiều nước khác nhau đã phát biểu về văn hóa, các định nghĩa ấy đã
khai thác vấn đề văn hóa dưới từng góc độ, từng mặt khác nhau, nhưng ở khía
cạnh nào đó cũng có sự thống nhất hoặc bổ sung cho nhau trong sự nhận thức về
văn hóa.
bản thân, hiểu rõ đối tượng định tác động, từ đó tự chịu trách nhiệm về mục tiêu,
thái độ, hành vi, phương hướng tác động đến đối tượng. Sự tự ý thức của con
người được thể hiện rõ nét trong đời sống tinh thần, trong sáng tạo nghệ thuật,
họ sản xuất và xây dựng “theo các quy luật cái đẹp” [29, tr.137], điều đó thể hiện
rõ đầu óc chiến lược, năng lực phân tích, tổng kết, dự báo, gắn với tầm nhìn và
nhãn quan văn hóa của chủ thể hành động.
Trong thế giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với
tư cách là chủ thể của bản thân mình, làm chủ giới tự nhiên, hòa vào giới tự
nhiên nguyên sơ, để tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa mãn những
nhu cầu, ham muốn chinh phục tự nhiên, xã hội… của bản thân con người - Đó
là văn hóa. C.Mác cho rằng, xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động.
Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
đều bắt đầu từ lao động. Chính lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài
người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động vật, tiến dần
đến trình độ trưởng thành về nhân cách, trình độ trưởng thành về văn hóa của
mỗi cá nhân.
Trong quá trình lao động, con người đã in dấu mình vào trong từng khâu,
từng yếu tố, từng mặt, từng bộ phận… của thành quả lao động, làm cho tự nhiên
tự hiện hình trong hoạt động của con người.
C.Mác viết: “…Bằng thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho
“tồn tại” của mình phù hợp với bản chất của mình” [29, tr.507]. 18
Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở sự
hình thành và phát triển con người. Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này
chính là mức độ hình thành và phát triển bản chất người trong quá trình con
người chinh phục và biến đổi tự nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với
cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ giữa đời sống tinh thần và không gian sống
vật chất của con người và của xã hội loài người. Nếu môi trường đầu tiên cho
hội loài người khỏi những áp bức bất công cả trong lao động cũng như trong mọi
hoạt động sáng tạo của họ.
Theo V.I.Lênin, muốn xây dựng một nền văn hóa mới, nền văn hóa vô sản
có khả năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất người, cần phải kế thừa có
phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên
một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người. Người nói rằng:
Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải là do
những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… văn hóa vô
sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra
dưới ách áp bức của xã hội Tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu [18, tr.402].
Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công CNXH, CNCS thì
con người mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trình độ làm chủ
của mình trước tự nhiên, xã hội và ngay cả trước bản thân mình. Từ đó, con
người và xã hội loài người mới có điều kiện xây dựng và phát triển sự công
bằng, bình đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu chí: chân, thiện, mỹ… mới được
xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người mới có đầy đủ điều kiện
đạt tới trình độ nhân văn đích thực.
Cũng như các bậc tiền bối của chủ nghĩa Mác, quan niệm về văn hóa của
nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh cũng rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ
truyền thống văn hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam, với tầm nhìn bao quát,
Người đưa ra khái niệm về văn hóa như sau:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các 20
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi