MỤC LỤC
Mở đầu
Chương I : Nguồn gốc lịch sử của người Mường ở Phú Thọ
I. Nguồn gốc lịch sử của người Mường ở Phú Thọ
Chương II : Tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Mường ở Phú Thọ
2.1. Khái niệm tín ngưỡng
2.2. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Mường ở
Phú Thọ hiện nay
Chương III : Hoạt động thờ cúng tổ tiên của người Mường ở
Phú Thọ hiện nay - Thực trạng và giải pháp
3.1. Thực trạng của xu hướng hoạt động thờ cúng tổ
tiên của người Mường ở Phú Thọ hiện nay
3.2. Phương hướng, giải pháp nhằm định hướng đúng
đắn hoạt động thờ cúng tổ tiên của người Mường ở
Phú Thọ hiện nay
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
1
Tờn ti : Mt vi tỡm hiu v tớn ngng th cỳng t tiờn ca dõn tc
Mng Phỳ Th hin nay.
dựng đời sống văn hố” do nhà nước phát động.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Xung quanh vấn đề tín ngưỡng của dân tộc Mường cũng được nhiều
nhà khoa học nghiên cứu, “Các hình thức tơn giáo ớ khai và sự phát triển
của nó” của Tơ-ca-Rép; Nxb Chính trị quốc gia 1994”; Việt Nam phong tục
của Phan Kế Bính, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1999 ; “Tín ngưỡng dân
gian Việt Nam” Lê Như Hoa, Nxb Văn hố thơng tin 2000 ; “Văn hố tâm
linh” Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1996 ; “Về tơn giáo tín ngưỡng Việt
Nam hiện nay” Đặng Nghiên Vạn, Nxb KHXH, Hà Nội, 1996…
Ngồi ra còn nhiều bài viết cơng bố trên các tạp chí : Cộng sản, Tư
tưởng văn hố, Thơng tin lý luận, Văn hố nghệ thuật, dân tộc học… Nói
chung là các cơng trình nghiên cứu của các tác giả nói trên nó rất đa dạng
có thể tóm lại thành 3 loại cơ bản sau :
Loại thứ nhất : Xem thờ cúng tổ tiên như một tập tục văn hố và
truyền thống đạo đức.
Loại thứ hai : Xem tín ngưỡng vừa là tập tục văn hố vừa là truyền
thống đạo đức.
Loại thứ ba : Xem tín ngưỡng như là một loại hình tín ngưỡng, tơn
giáo.
3. MỤC ĐÍCH - NHIỆM VỤ :
*Mục đích : Bước đầu trình bày một cách tương đối có hệ thống về
nguồn gốc, bản chất và tín ngưỡng biểu hiện về mặt triết học trong tín
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
ngng th cỳng t tiờn ca ngi Mng Phỳ Th. Mt khỏc, Phỳ Th
cũn l cỏi nụi ca dõn tc Mng núi chung (nu xột v thi gian hỡnh
thanh). T vic i kho cu ú ra nhng phng hng, gii phỏp
nhm phỏt huy cỏc yu t tớch cc, khc phc v lm gim dn cỏc yu t
tiờu cc ca tớn ngng th t tiờn trong nhõn dõn v xõy dng thnh cụng
học và xã hội học, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, lơgic, só sánh,
mơ tả v.v…
6. NHỮNG ĐĨNG GĨP VỀ MẶT KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN :
* Báo cáo góp phần làm rõ tín ngưỡng của người Mường - đặc biệt là
phong tục thờ cúng tổ tiên có rất nhiều đặc sắc .
* Góp phần làm rõ thực trạng xu hướng vận động của tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Mường ở Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
* Đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước phát huy mặt tích cực và
hạn chế mặt tiêu cức của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cho phù hợp với u
cầu sự nghiệp xây dựng nền văn hố đậm đà bản sắc dân tộc.
7. Ý NGHĨA THỰC TIỄN :
* Kết quả của báo cáo góp phần vào việc giữ gìn và phát huy những
giá trị văn hố truyền thống của nước ta hiện nay. Hơn thế nó còn dùng làm
tài liệu tham khảo cho những mơn học có liên quan tới văn hố truyền
thống và tín ngưỡng tơn giáo.
8. KẾT CẤU CỦA BÁO CÁO :
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
Ngoi phn m u, kt lun, danh mc ti liu tham kho, bỏo cỏo
gm 3 chng , 5 tit.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
6
Chương I
NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI MƯỜNG PHÚ THỌ.
I. NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở PHÚ THỌ.
- Hiện nay dân số của người Mường đứng hàng thứ sáu trong đại gia
đình 54 dân tộc Việt Nam và với dân số đó thì họ sinh sống tập trung ở các
tỉnh sau : Hồ Bình, Phú Thọ, Thanh Hố, Sơn La, Hà Giang, Lạng Sơn,
Mường, nó thể tín ngưỡng của người Mường trong từng giai đoạn lịch sử.
Trải qua hàng nghìn năm lao động sáng tạo người Mường đã tạo nên
những trung tâm nối tiếp cho mình trong cộng đồng Mường cả nước :
Thanh Sơn, n Lập, Hạ Hồ, Thanh Ba. Thanh Sơn là vùng núi và là
huyện rộng nhất của tỉnh Phú Thọ và có số lượng người Mường đơng nhất,
n Lập là huyện Trung du và người Mường sống tập trung ở ven sơng và
các sườn núi. Người Mường thì di cư theo hướng tây, còn người Dao diểu
trắng xuống phía Nam, còn người Mường đang có xu hướng dừng lại để
định canh, định cư để ổn định cho đời sống.
Theo sách dân tộc học Việt Nam đã khẳng định rằng người Mường
có khá nhiều tên : Moc, Mual, Moi, Mọi Bi, Áo tá (Ậu tá), và phân ra thành
nhiều loại mường khác nhau : Mường Bi, Mường vang, Mường động,
Mường thành. Tuy ngơn ngữ họ có khác nhau chút ít nhưng phong tục tập
qn của họ giống nhau. Ngồi ra xétvề đời sống - hay nói cách khác là
trang phục của người Mường với các dân tộc khác. Ở Thanh sơn - Phú Thọ
những người Mường thì họ áo váy đen và áo cóm quần thì là quần chân
q. Váy đen thường là con trai mặc và phụ nữ thường mặc áo cóm, những
ngày hội lớn thì người phụ nữ Mường mặc bộ quần áo dài thêu rất đẹp.
Đặc trưng nữa của văn hố Mường ở Phú Thọ là : “Cơm đồ nhà gác,
nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới” do đa phần là họ sống ở các sườn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
đồi và các vùng đồi núi, Trung du, vùng xâu, vùng xa, cộng sự khó khăn về
giao thơng, thơng tin liên lạc… Mặt khác hầu hết là những người dân
Mường họ đều trồng lúa (nước và nương) và họ còn săn bắn hái lượm ở
những thung lũng. Bữa cơm của họ thì rất đặc biệt, hầu như là họ ăn cơm
nếp quanh năm nhưng họ lại có rất nhiều cách chế biến cơm nếp khác nhau
như : nấu, đồ bằng đồ đất, cơm nam, đồ cùng với rất nhiều loại lá và nó có
mùi rất thơm, mầu rất đẹp. Ngồi cơm nếp họ còn ăn “lợn lửng” đây là loại
ca xúm ch cú ba gian v lm bng g, thng c lp bng lỏ c - l
mt c trng rt riờng ca ngi Mng Phỳ Th m cỏc ni khỏc
khụng cú.
Ngụi ỡnh ca ngi Mng thỡ thng cỏc v thn linh, thn ỏt,
thn nỳi, thn sụng, ngi cú cụng xõy dng bn lng v h thng cỳng
vo nhng ngy l tt, ngy ly hn lỳa, h in, thng in, mựng 1, hụm
rm, thng l cú cỏc hoa qu ngon h kim c trong rng - h cú
nhng bi khn rt c bit. Sau ỡnh l miu ca ngi Mng, thng
lm cỏc xúm rt s si, h an nhng tm phờn v ph lờn ú bng cỏc
tm vi. Sau ú h t bỏt nhang lờn trờn, mỏi thng l lỏ c, thng c
t trờn 4 cc tre v h th cỏc Th tự, Th lang, tc th vt thiờng thn
linh chỳa t (th th th), khi khn thỡ h khn cựng cỏc ma nỳi, ma sui,
ma rng
Nhng ngụi ỡnh, miu th ny ca ngi dõn tc Mng l nú trc
ht l th hin mong mun c m ca dõn tc Mng cu cho ma
thun, giú ho, cu cho cõy trỏi c mựa, lỳa xanh tt, nng bụng
nhng sau ú nú cũn th hin tớn ngng nh v nhng ngi c coi nh
l t tiờn gõy dng lờn bn mng (tc th t tiờn) v nh ó trỡnh by
trờn trong nh ca tng gia ỡnh ngi Mng h cũn cú cỏc bỏt hng,
ch th riờng ụng b, cha m ó sinh thnh ra mỡnh m sau khi h mt h
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
10
khụng bao gi b lóng quờn v ngi Mng quan nim rng ; con ngi
sau khi cht thỡ ch phn xỏc l cht cũn phn hn thỡ c u thai sang
mt kip khỏc - tc l h c sng mt th gii khỏc - th gii ca cỏc
thn linh.
Chc chn rng bt c ai khi núi n i sng tõm linh ca dõn tc
Mng li khụng nhc n Mo Mng . Cng nh ngi Vit (Kinh)
sng gn bú vi nhau trong cỏc xúm, lng thỡ ai m ch bit n tuyờn
bản chất dân tộc. Rất nhiều tập tục kiêng ky, người Mường còn giữ và duy
trì trong đời sống đương đại đã đưa chúng ta lần trở về gần gũi bên nhau,
nếp sống Mường đang có sự hồ hợp để tìm về cội nguồn của một nền văn
hố Đơng Sơn rực rỡ thồi đầu dựng nước của dân tộc.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Chương II
TÍN NGƯỠNG - TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
CỦA DÂN TỘC MƯỜNG Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY.
2.1 : KHÁI NIỆM TÍN NGƯỠNG :
2.1.1 : Các quan điểm ngồi Mác xít về tín ngưỡng :
Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử xã hội rrên thế giới, trên thế
giới có hàng ngàn các loại tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng.
Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, các cách hiểu tín
ngưỡng, vì vậy mà nó rất khác nhau. Để đưa ra một nét đặc trưng nhất về
tín ngưỡng thì cần điểm qua một số quan điểm khác nhau về tín ngưỡng
trong giới nghiên cứu.
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về tín ngưỡng :
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với đại biểu như Platon và Hêghen…
đều xuất phát từ thực thể “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các hiện
tượng lịch sử xã hội, trong đó có tín ngưỡng. Nói chung họ đều cho rằng tín
ngưỡng, tơn giáo là một sức mạnh kỳ bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng,
là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người. Các ơng đã lấy “tinh thần”
hoặc “ý thức” để thay thế cho con người hiện thực, họ đã thần bí hố hiện
tượng tín ngưỡng, họ khơng thấy được mối quan hệ giữa con người với thế
giới hiện thực, khơng thấy được mặt xã hội của tín ngưỡng.
Quan điểm thần học của tíng ngưỡng:
Các nhà thần học như Tomalđa canh, Pnơntilích K.lê machơ, U.oat,
Etơrơtcho v.v.. xem tín ngưỡng tơn giáo là tin vào cái thiêng liêng, cái
vào những vật linh”, các vật ấy là mama hay Wakan mang tính diêu nhân
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
14
và đều có linh hồn (animé). Ơng cho rằng : “Mặt trời và các vì tinh tú, cây
cối, sơng ngòi, gió và mây trở nên những tạo vật sống động và cũng có
cuộc sống như người và sinh vật” (5).
Phoi-ơ-bắc: “ Xuất phát từ sự thực là sự tha hố về mặt tơn giáo, từ
sự phân hố thế giới thành thế giới tơn giáo, thế giới tưởng tượng và thế
giới hiện thực” (6) đã hồ tan thế giới tơn giáo và cơ sở trần tục của nó
khơng thấy rằng “tình cảm tơn giáo” cũng là sản phẩm xã hội (7). Từ đó
ơng có chủ trương thay tín ngưỡng cơ đốc bằng một tơn giáo khác đó là
tình u thương giữa người với người trên trần gian.
Tóm lại, các cách tiếp cận trên về tín ngưỡng do hạn chế về lịch sử
và lợi ích giai cấp nên đã đi đến những kết luận chưa có cơ sở khoa học.
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng, tín ngưỡng là hiện tượng thần bí siêu thực,
chỉ có thể cảm nhận, tin và khơng thể lý giải được, hoặc cũng chỉ là hiện
tượng tự nhiên mang tính bẩm sinh.
Quan điểm của xã hội học chủ yếu đi sâu vào phân tích chức năng xã
hội, vai trò và ảnh hưởng của tơn giáo, tín ngưỡng, nhưng lại phân tích tín
ngưỡng - tơn giáo tách rời đời sống tinh thần phong phú của con người
chưa thấy được ranh giới giữa các hiện tượng tơn giáo và phi tơn giáo.
Còn các quan điểm khác, thì chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu sự thể
hiện của nội tâm, đó là niềm tin, tâm lý tơn giáo, song còn chưa thấy được
mặt xã hội của tín ngưỡng, tơn giáo.
quan điểm của Phoi-ơ-Bắc đã chỉ ra được nguồn gốc nhận thức của
tín ngưỡng, tơn giáo. Đấu tranh chống lại quan điểm duy tâm và tơn giáo
trong quan niệm con người, về thượng đế, tuy nhiên khi phân tích và phê
phán chủ nghĩa duy tâm, tơn giáo, ơng đã khơng thấy được chức năng của
tơn giáo và nguồn gốc xã hội của nó, đặc biệt là chưa thấy được chức năng
16
ngng m, thnh kớnh vi nhng th lc cú nh hng trong quan h vi
con ngi (11).
Trờn õy l cỏc quan im v tớn ngng ca cỏc nh khoa hc Vit
Nam. Chỳng ta tr li quan im ca cỏc nh kinh in v ch ngha Mỏc-
Lờnin v tớn ngng. Cỏc Mỏc cho rng : i sng xó hi, v thc cht l
cú tớnh thc tin. Tt c nhng s thn bớ a lý lun n ch ngha thn bớ,
u c gii ỏp mt cỏch hp lý trong th tin ca con ngiv trong s
hiu bit thc tin y (12). Nh vy, tớn ngng v bn cht khụng phi l
sn phm ca thn thỏnh, l cỏi siờu nhiờn, thn bớ m l sn phm ca xó
hi . L mt hin tng xó hi, khụng tỏch ri xó hi, mang bn cht xó
hi, tớn ngng cng l hin tng thuc i sng tinh thn ca xó hi,
chu s quy nh ca i sng vt cht.
C.Mỏc cho rng, cn phi xut phỏt t con ngi ang hot ng,
hin thc ca h m chỳng ta mụ t s phỏt trin ca nhng phn ỏnh t
tng v ting vang t tng ca quỏ trỡnh y (13). õy khụng phi tinh
thn i sng, ý thc ca i sng hin thc nú quyt nh i sng hin
thc, m ngc li tớn ngng, tụn giỏo cú ngun gc t hot ng thc
tin vt cht trong quỏ trỡnh phỏt trin ca lch s, theo s phỏt trin ca
lch s thỡ cỏc hin tng thc tin, tớnh thn bớ ca tớn ngng dn c
lm rừ. ú l mi quan h gia tớn ngng v hot ng thc tin.
Ch ngha duy tõm xut phỏt t cỏc phm trự mang tớnh t liu nh
t ý thc, tinh thn tuyt i, ý chớ thỏnh linh gii thớch lch s,
coi ú l tin h cu lch s. Ngc li, ch ngha Mỏc-Lờnin li cho
rng hot ng sn xut vt cht l im xut phỏt ca lch s nhõn loi.
Tớn ngng, tụn giỏo l mt hin tng lch s, l mt sn phm ca mt
thi i nht nh. C.Mỏc núi cú th kớch vo cỏc quan h hin tn
thỡ cn phi xoỏ b cỏi thụng ho quan thiờng liờng ca chỳng. S phờ
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
18
bên trong của tín ngưỡng quy định mọi nội dung của tín ngưỡng. Đó là ý
thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin chủ yếu, yếu tố bên ngồi được biểu hiện
bằng các hình thức bên ngồi, đó là hệ thống lễ nghi được biểu hiện thơng
qua tập tục, thói quen truyền thống… tín ngưỡng nói chung là một bộ phận
ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiện tồn.
Tín ngưỡng, theo cách hiểu thơng thường là tín ngưỡng, tơn giáo.
Thực ra về nội dung phản ánh và hình thức thì tín ngưỡng và tơn giáo, tuy
có sự tương đồng song cũng có sự khác biệt nhất định, được thể hiện ở chỗ
:
1- Tín ngưỡng và tơn giáo đều là sự phản ánh hư ảo vào ý thức xã
hội và chịu sự quy định của chính tồn tại xã hội đã sinh ra chúng. Đồcn là
sự phản ánh chân thực, là cách lý giải của con người về các hiện tượng
xung quanh cuộc sống của chính con người. Tín ngưỡng, tơn giáo đều có
nguồn gốc xã hội, nhận thức, tâm lý trong q trình hình thành và tồn tại,
đều có chức nơng nghiệp đền bù hư ảo và xoa Dịu nỗi đau hiện thực và
hướng tới sự giải thốt về tinh thần.
Ph.Ănghen cho rằng : “Tất cả mọi tơn giáo chẳng qua chỉ là sự phản
ánh hư ảo vào đầu óc con người - của những lực lượng bên ngồi chi phối
cuộc sống hàng ngày của họ ; chỉ là sự phản ánh trong đó có lực lượng trần
thế đã mang hình thức siêu thần thế” (16) và “bên cạnh những lực lượng
siêu nhiên, lại còn có các lực lượng xã hội tác động - những lực lượng này
đối lập với con người một cách cũng xa lạ lúc đầu cũng khơng thể hiểu
được đối với họ và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngồi giống như
bản thân những lực lượng tự nhiên vậy” (17).
Như vậy tín ngưỡng, tơn giáo là một tiểu hệ thống các kiến trúc
thượng tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng đã sinh ra chúng và phản ánh sự bất
lực của con người trước các lực lượng tự nhiên và xã hội. Nhìn tổng qt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
20
1- Tín ngưỡng xét về mặt lôgic hình thức thì là khái niệm có nội hàm
hẹp hơn tôn giáo. Bởi vậy tôn giáo thì lúc nào cũng là tín ngưỡng, con mọi
hình thức tín ngưỡng chưa chắc đã phải là tôn giáo.
2- Tín ngưỡng được hình thành ngay từ trong cuộc sống rất phong
phú và đa dạng, chủ yếu là do xúc cảm và kinh nghiệm mang lại. Nó phản
ánh thiếu sự tính chất sàng lọc, khái quát, thiếu cơ sở lý luận chặt chẽ.
Thường mang tính dân gian đời thường. Còn tôn giáo được hình thành trên
cơ sở lý luận chặt chẽ, có cơ sở thế giới quan là chủ nghĩa duy tâm. Mặt
khác tôn giáo đi giải thích thế giới từ những thực tế tinh thần khách quan có
trước, sáng tạo và chi phối thế giới hiện thực và hàng loạt các kinh, sách ra
đời để chứng minh cho sự đúng đắn của đức tin tôn giáo. Nó được diễn ra
như : linh hồn, thượng đế, thiên đàng, địa ngục, niết bàn…
3- Tín ngưỡng có kết cấu rất đơn giản, nó được hình thành và tồn tại
dựa vào cơ sở của các phép lạ, đấng siêu nhiên, vào thế giới vô hình như :
thần linh, tổ tiên, thần sông, núi, âm ty, địa ngục, ma, quỉ… niềm tin ấy nó
mang tính huyền bí hoặc mờ ảo, không rõ ràng, chưa đạt đến chính xác và
khái quát cao, mang tính giản đơn và dựa vào cảm tính là chính. Còn tôn
giáo thì có cấu trúc khá phức tạp có mối quan hệ qua lại với thế giới quan,
nhân sinh quan, ý thức, tâm lý, tình cảm, niềm tin, đức tin…
Ở Tôn giáo, thì đức tin được đề cao, song cũng đòi hỏi sự lý giải
mang tính hệ thống, lôgic xây dựng và củng cố trên cơ sở của thế giới quan
tôn giáo các chức sắc trong tổ chức tôn giáo thường tuyên truyền, củng cố
và khẳng định, niềm tin tôn giáo thông qua các hoạt động tôn giáo được
tiến hành định kỳ.
Trong tín ngưỡng, tôn giáo thì nghi lễ và các giáo chủ, kinh sách
đóng vai trò hết sức quan trọng vì thế mà tín ngưỡng, tôn giáo có tác động
to lớn đối với đời sống xã hội.
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
22
Trên những cơ sở đó thì, tác giả đi sâu vào nghiên cứu tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Mường ở Phú Thọ.
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
23
2.2. TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở PHÚ THỌ.
2.2.1. Nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Mường ở Phú Thọ.
Trước hết nên hiểu như thế nào là tổ tiên. Khái niệm tổ tiên là khái
niệm dùng để chỉ những người cùng huyết thống đã mất như kỵ, cụ, ơng,
bà, cha, mẹ… là những người đã có cơng sinh thành và ni dưỡng và có
ảnh hưởng đến đời sống vật chất tinh thần của con cháu thế hệ sau.
Tổ tiên trong xã hội ngun thuỷ có nguồn gốc từ Tơ tem giáo thị
tộc. Từ tổ tiên tơ - tem chuyển sang tổ tiên người thực là q trình chuyển
từ chế độ thị tộc mẫu hệ, sang chế độ thị tộc phụ hệ. Tổ tiên tơ-tem giáo
trong thời kỳ thị tộc mẫu hệ là những vật trong tự nhiên được thần thánh
hố, được coi là vật tổ của tại tộc và nó che chở cho các gia đình trong thị
tộc để cầu mưa thuận gió hồ, mùa màng tốt tươi, bội thu. Thời kỳ thị phụ
hệ thì thường tổ tiên được tơn thờ là những người đứng đầu thị tộc và nắm
quyền uy trong tay. Khi họ mất, thì mọi người trong bộ tộc đó sẽ lập miếu
thờ và cầu mong người đó che chở cho gia đình - Thị tộc. Đó chính là
những yếu tố tạo nên biểu tượng về thờ cúng tổ tiên của người Mường nói
riêng và các dân tộc khác trong cả nước ta nói chung.
Tổ tiên trong xã hội có giai cấp được thể hiện đầy đủ hơn, họ thường
là những người đàn ơng giữ vị trí chủ chốt trong gia đình, gia tộc, đã mất
có quyền thừa kế và di chúc tài sản theo quan niệm của chế độ phụ quyền.
C.Mác khi nghiên cứu “quyền thừa kế” trong gia đình cổ đại la mã và cho
rằng : “Người chủ gia đình có quyền lực tuyệt đối với tồn bộ những cái
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN