Tỷ giá hối đoái Gánh nặng nợ nần và chi phí nguyên liệu tăng lên cùng với sụt
giảm của thị trờng tiêu dùng lẫn thị trờng xuất khẩu đã làm nhiều
doanh nghiệp bị thua lỗ từ đó sẽ ảnh hởng xấu đến nguồn thu ngân
sách. Bên cạnh đó, sự xa sụt của nền kinh tế tất yếu đòi hỏi phải ra
tăng một số khoản chi. Báo cáo của Ngân hàng nhà nớc về hoạt
động tiền tệ, tín dụng Ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 1998 đã chỉ
rõ " Thu ngân sách 6 tháng thực hiện đạt 30% so với kế hoạch năm.
Chi ngân sách khó khăn hơn mức bội thu bội chi có xu hớng gia
tăng".
Thứ t , Tăng trởng kinh tế dự trữ quốc gia và nợ nớc ngoài.
Khủng hoảng khu vực đã gián tiếp ảnh hởng đến cán cân
vãng lai, đến đầu t của nớc ngoài.Từ đó, gây ra khó khăn cho sự
phát triển kinh tế nói chung (tốc độ tăng trởng 5,8% trong năm
1998 là mức tăng trởng thấp nhất kể từ năm 1989). Nề kinh tế khó
khăn sẽ tác động suy giảm đến tổng cầu, giảm thu nhập và tiêu dùng
của c dân. thị trờng suy yếu một phần sẽ tác động ngay lập tức
đến các Ngân hàng thơng mại. Dự trữ quốc gia tất yếu sẽ phải
chịu sức ép suy giảm một phần do nguồn cung ngoại tệ giảm bớt,
một phần do đáp ứng nhu cầu ngoại tệ thiết yêú cho nền kinh tế và
hỗc trọ cho đồng Việt Nam vào những lúc cao điểm. Trong bối cảnh
đó, chính sách TGHĐ của Việt Nam về cơ bản không có gì khác so
với giai đoạn từ năm 1993 đến khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính
Đông nam á. Nhng là giai đoạn với những điều chỉnh nhỏ, liên tục
trong chính sách TGHĐ, nói chung và công tác quản lý ngoại hối
nói riêng nhằm hạn chế những tác động của cuộc khủng hoangr.
Nếu trong giai đoạn từ cuối năm 1992 dến tháng 7 năm 1997 chỉ có
một lần duy nhất điều chỉnh biên độ giao dịch từ 1% đến 5% vào
ngày 27/2/2997 thì từ tháng 7/ 1997 đến đàu năm 1999 có nhiều lần
trờng nên không có ý nghĩa kinh tế. Tuy vậy khi có sự thay đổi của
tỷ giá vẫn có những tác động đến nền kinh tế.
Đến nay khi nền kinh tế vận động mạnh theo cơ chế thị trờng
thì việc xác định tỷ giá nh trên không còn phù hợp với quan hệ
cung cầu trên thị trờng và thông lệ quốc tế. Từ 26/2/99 TGHĐ
Tỷ giá hối đoái chính thức công bố hàng ngày đợc xác định trên cơ sở bình quân
mua bán thực tế trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng của ngày
giao dịch gần nhất trớc đó, đồng thời biên độ giao dịch cũng đợc
rút xuống là 0,1%.
(Quyết định 64/1999 QĐ - NHNN7 và 65/1999/QĐ-NHNN7).
Có thể nói đây là một bớc đổi mới rất quan trọng không
những trong quan niệm, trong t duy mà cả trong thực tiễn quản lý,
với cơ chế này làm cho tỷ giá hối đoái trên thị trờng vận động một
cách khách quan phản ảnh đúng hơn các quan hệ cung cầu về ngoại
tệ ở trên thị trờng, đồng thời cũng phù hợp với cơ chế điều hành tỷ
giá của nhiều nớc trên thế giới.
Song song với việc thay đổi cơ chế điều hành tỷ giá NHNN
Việt Nam cũng đã có quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất
(QĐ số 241/2000/QD NHNN1 ngày 2/8/2000 bằng việc bãi bỏ cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản thay bằng và tổ chức tài chính đợc
quyền ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng nhng không
đợc vợt qua mức lãi suất cơ bản và biên độ quy định trong từng
thời kì. Tỷ giá hối đoái
Nớc ta có điểm xuất phát thấp , tụt hậu nhiều năm trên con đờng
hội nhập nên những khó khăn khi thực hiện mở cửa nền kinh tế
không phải chỉ là vấn đề của riêng tỷ giá, thế và lực của ta còn rất
yếu.
- Thứ năm, đô la hoá ngày càng diễn biến phức tạp do nhiều
nguyên nhân , đặc biệt là tâm lý găm giữ đồng USD chờ tiếp tục lên
giá của dân chúng và tâm lý sợ rủi ro tỷ giá, đây là thói quen có tính
chất lịch sử do nhiều năm tiền VND liên tục mất giá để lại.
Do vậy, việc phá giá Đồng Việt Nam không phải là phơng
thuốc hữu hiệu cho sự phát triển chung của nền Kinh tế vì một số lý
do sau:
- Một là, phá giá đồng Việt Nam sẽ không cải thiện đợc
cán cân thanh toán . Do chế độ tỷ giá hiện nay không còn là trở ngại
chính của XK, các nhà xuất khẩu cần có những cải tiến trong chất
lợng sản phẩm, mẫu mã, hạ giá thành và xâm chiếm thị trờng tiêu
thụ trớc khi đòi hỏi ở cơ chế tỷ giá . Vì cơ chế tỷ giá chỉ phát
huy tác dụng tích cực khi có hàng loạt các yếu tố đó hỗ trợ. Hơn thế,
phá giá mạnh lại gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nớc
vốn trong tình trạng tài chính yếu kém lại phải nhập khẩu nhiều
máy móc, thiết bị để hiện đại hoá dây truyền sản xuất. Nói cách
khác, phá giá thì XK lợi bất, NK đã cập hại
- Hai là, các khoản nợ nớc ngoài của Chính phủ, theo một cơ
chế tơng tự, sẽ tăng lên khi quy đổi ra nội tệ nếu tiến hành phá giá.
- Ba là, phá giá mạnh trong điều kiện cha có sức ép thực sự
dữ dội từ phía thị trờng sẽ gây tâm lý bất ổn và các xáo trộn toàn
diện về Kinh tế.
- Bốn là, chính sách phá giá nhằm chuyển dịch cơ cấu nền
Kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh chỉ thực sự có hiệu quả khi đi
dụng một chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn.