LUẬN VĂN: DÂN TỘC MƯỜNG Ở PHÚ THỌ - Pdf 15



LUẬN VĂN:

DÂN TỘC MƯỜNG Ở PHÚ THỌ

1. Đặc điểm kinh tế và đời sống vật chất
- Về nguồn gốc, lịch sử:
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được thành lập ngày 5/5/1903;
năm 1968 sát nhập với Vĩnh Phúc gọi là tỉnh Vĩnh Phú; đến ngày 1/1/1997 tỉnh Phú Thọ

dân Mường, việc trao đổi, mua bán hàng hoá trong vùng Mường cũng diễn ra phong
phú và nhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi, đây là điều kiện thuận lợi để người
dân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
đồng bào.
Nghề thủ công truyền thống của người Mường chủ yếu là nghề mộc, đan lát, dệt
vải. Trước đây, gia đình người Mường nào cũng có khung cửi, họ tự trồng bông, trồng
dâu, nuôi tằm và dệt vải, người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những
người trong gia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng. Sự khéo léo thể hiện
trong những vuông vải trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ nữ
Mường. Hiện nay, huyện Thanh Sơn phục hồi được 3 làng nghề dệt vải ở Tân Phú, Lai
Đồng, Xuân Đài nhưng cũng gặp rất nhiều khó khăn (người biết dệt vải theo cách cổ
truyền không nhiều, vốn và đầu ra cho sản phẩm rất khó khăn). Mặc dù rất khéo léo
nhưng nghề mộc của người Mường chỉ dừng lại ở phạm vi tương trợ, giúp nhau dựng
nhà, làm khung cửi, làm đuống, cối giã gạo hoặc phục vụ cho sản xuất vui chơi chứ
không chuyên mộc, không làm hàng hoá; việc đóng các đồ gia dụng, làm gạch, xây
nhà chỉ phổ biến trong thời gian gần đây.
Chính những nét đặc thù trong hoàn cảnh sống và kinh tế đã góp phần làm nên
những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể độc đáo của người Mường ở Phú Thọ. Tuy
nhiên, nhìn từ góc độ bảo tồn, phát huy những tinh hoa văn hoá cổ truyền thì tốc độ phát
triển nhanh và mạnh của kinh tế cũng làm cho các giá trị văn hoá Mường truyền thống
bị lãng quên, đặc biệt là các giá trị văn hoá tinh thần; những câu hát ví, những điệu múa
dân gian, những lễ hội cổ truyền của người Mường đang mai một dần, trong số ít các
thể loại văn hoá còn tồn tại và được phục hồi hiện nay cũng bị Kinh hoá khá cao.
2. Đặc điểm xã hội và lịch sử

của các dòng họ trong mỗi mường phụ thuộc vào nề nếp, gia phong của dòng họ đó,
quan hệ hôn nhân cũng phụ thuộc vào yếu tố này rất nhiều.
Qua tìm hiểu và so sánh thì thấy rằng thiết chế xã hội của người Mường ở Phú
Thọ và người Mường ở những nơi khác có những điểm tương đồng, cũng là thiết chế xã
hội theo kiểu xóm, mường, nhưng mường của người Mường ở Phú Thọ không có các
mường nhỏ dưới quyền mường lớn. Quan hệ giữa tầng lớp quý tộc thống trị với tầng lớp
bị trị cũng rất rõ ràng, bộ máy cai trị của Thổ tù trong các Mường ở Phú Thọ được tổ
chức đơn giản hơn, họ không có nhiều người giúp việc (các ậu) như ở Hoà Bình và
Thanh Hoá, không trực tiếp quản lý các làng, việc phân định dòng họ nhà Lang không
khắt khe như những mường ở nơi khác.
Dưới thời phong kiến và thực dân, năm 1883 triều đình nhà Nguyễn đầu hàng và
trở thành tay sai cho thực dân. Thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách hành chính,
sắp đặt lại bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương. Một hệ thống hành chính mới
được hình thành và bao trùm lên cơ cấu tổ chức xã hội cũ, nhưng các tổ chức việc vẫn
do các nhà lang đảm nhiệm nên hầu như các hoạt động truyền thống, đặc biệt là các lễ
hội vẫn được duy trì, các Thổ lang, Thổ tù vẫn được dân làng lo phục dịch, biếu xén
như xưa.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định xoá bỏ cơ cấu chính quyền cũ, thay vào đó là
một bộ máy hành chính mới và hệ thống các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Hệ
thống tổ chức hành chính mới được áp dụng đồng bộ trong cả nước đã làm cho tổ chức
xã hội cổ truyền của người Mường thay đổi cơ bản. Dù vậy, cơ cấu tổ chức hành chính
mới vẫn được xây dựng trên cơ sở là các làng và xóm trước đây, nên không có sự xáo
trộn về địa bàn quản lý hành chính, những mối quan hệ làng xóm, những tập tục, lễ nghi
truyền thống vẫn được duy trì, kế tục và phát huy với nhiều mức độ khác nhau.
- Về đặc điểm gia đình và hôn nhân:
Gia đình là một tế bào xã hội, là tổ chức phức tạp bao gồm nhiều yếu tố hợp
thành như: sinh học, tâm lý, kinh tế, văn hoá Do vậy, tổ chức gia đình không giống
như bất cứ một tổ chức xã hội nào khác, nó được hình thành bởi quan hệ tình yêu và Gia đình nhỏ: Đây là dạng gia đình chỉ gồm có vợ, chồng và con cái của họ; họ
sống, sản xuất và chi tiêu độc lập. Tuy vậy, vị trí của người vợ trong gia đình vẫn không
được cải thiện, họ vẫn phải phụ thuộc vào người cha, người chồng, sự phân công lao
động trong gia đình vẫn theo giới tính và độ tuổi như đã nêu.
Theo luật tục cổ truyền của người Mường, người anh cả có trách nhiệm nuôi
dưỡng cha mẹ già và thờ cúng tổ tiên nên có nhiều đặc quyền hơn các em như: được
phân chia tài sản nhiều hơn, được các em và mọi người trong dòng họ hỗ trợ khi có
công việc lớn, giỗ tết v.v Người Mường còn nặng quan niệm "trọng nam hơn trọng
nữ", "con gái là con người ta, con dâu mới là con nhà mình", nên em gái không được
chia bất cứ tài sản gì của bố mẹ để lại, khi đi lấy chồng chỉ được mang theo tư trang cá
nhân và những tài sản tự mình lao động mà có. Tư tưởng trọng nam hơn trọng nữ của
người Mường xuất phát từ những hủ tục nặng nề, tốn kém tiền của trong các khâu:
thách cưới, hỏi và tổ chức đám cưới. Do vậy, tự nhiên người phụ nữ bị biến thành một
thứ hàng hoá trao đổi. Quan niệm phổ biến của người Mường khi lấy vợ cho con là lấy
người về lao động và sinh con nối dõi tông đường cho nên tình trạng lấy chồng, lấy vợ
sớm và sinh nhiều con trong các gia đình người Mường cổ truyền cũng bắt đầu từ
nguyên nhân này.
Trong giai đoạn hiện nay, các gia đình lớn của người Mường có xu thế tách
thành các tiểu gia đình và gia đình hạt nhân, xu thế ấy trở nên khá phổ biến trong thời
kỳ phát triển kinh tế thị trường hiện nay. Quan hệ nam - nữ trong mỗi gia đình được
bình đẳng hơn, vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình được khẳng định, quan hệ
hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu được chú trọng, các tiêu chuẩn kết hôn môn đăng hộ
đối không quá khắt khe như trong quan niệm cổ truyền. Cùng với đó các chức năng của
gia đình kết hợp với nhau hài hoà hơn, và được điều chỉnh theo tiêu chí của gia đình
hiện đại. Vấn đề thực hiện kế hoạch hoá gia đình đã phần nào làm cho quan niệm "đông
con nhiều cháu mới là có phúc" trong chức năng tái sản xuất ra con người của các cư
dân Mường mờ dần (nhưng chưa hẳn đã hết). Chức năng kinh tế được chú tý phát

Lô. Nơi truyền rằng có kinh đô Văn Lang và hiện nay còn có đền thờ các Vua Hùng
trên núi Nghĩa Lĩnh Những di chỉ khảo cổ của nền văn hoá Sơn Vi, Phùng Nguyên,
Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, đã gắn truyền thuyết vào với hiện thực đời thường,
minh chứng cho sự xuất hiện của cư dân Việt Mường (người Việt cổ) trên đất Phú
Thọ từ hơn mười ngàn năm trước.
Văn hoá trống đồng: Việc tìm thấy trống đồng trong quá trình khảo cổ là một
trong những phát hiện rất quan trọng. Từ 4 chiếc trống đồng đầu tiên được đưa về bảo
tàng của tỉnh (năm 1961) cả 4 chiếc trống này đều được phát hiện ở vùng đồng bào
Mường sinh sống là Thu Ngạc, Lai Đồng, Khả Cửu và Sơn Hùng (huyện Thanh Sơn).
Từ đó cho đến nay, tỉnh Phú Thọ đã sưu tầm được 69 chiếc trống đồng các loại, và 6
chiếc bị thất lạc trong những hoàn cảnh khác nhau, nếu tính cả số trống đồng bị thất lạc
thì Phú Thọ có tới 75 chiếc (74 chiếc có nguồn gốc trong tỉnh, một chiếc do nước bạn
Lào tặng). Một con số minh chứng cho sự giàu có về trống đồng của tỉnh. Tuy nhiên, sự
phân bố trống đồng ở Phú Thọ không đồng đều giữa các huyện, thị, thành mà tập trung
chủ yếu ở vùng Mường. Theo thống kê của tác giả Nguyễn Anh Tuấn thì huyện Thanh
Sơn có 58 trống đồng, trong đó có 6 chiếc bị thất lạc (không rõ địa chỉ), 20 chiếc bị thất
lạc vì nhiều lý do (cháy nhà, giặc Pháp đốt, Mỹ ném bom, bán cho đồng nát ), vùng
Mường Yên Lập tìm thấy 10 trống, số còn lại rải rác ở các vùng Tam Nông, Thanh
Thủy, Việt Trì Trong số trống đồng tìm được có 7 trống đồng loại I (trống Đông Sơn),
còn đại đa số là trống đồng loại II theo sự phân loại của Heger (học giả người áo). Khi
đề cập đến trống đồng, có người gọi loại trống này là trống Mường. Có nhiều lý do để
gọi đó là trống Mường, nhưng có lẽ thuyết phục hơn cả đó là loại trống này gắn với
trường ca "Đẻ đất Đẻ nước" của người Mường. Người Mường tổ chức đánh trống đồng
(chàm thau) vào các dịp hội xuân, lễ hội cầu mưa, cầu mùa, đám cưới, đón khách Tại
nơi tổ chức lễ hội, người ta làm giá treo trống bằng một cây sào đặt nằm ngang trên 4
cây tre buộc chéo ở hai đầu, dưới đáy trống đào một hố nông vừa bằng đường kính đáy
trống để tạo âm thanh cộng hưởng. Quy định khi "chàm thau" là phải có người 'cái" hai

một, dẫn đầu là người mang cồng boòng beng, rồi đến cồng đúm, cồng khệ, cồng đàm.
Đầu tiên phường bùa đến những nhà có hẹn trước để hát sắc bùa, theo tục lệ thì chủ nhà
sẽ tập trung anh, em để đón nhưng cổng nhà vẫn đóng, phường bùa sẽ phải đánh cồng
và hát bài hát mở cổng:
"Xúc sắc xúc xử
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào ".
Chủ nhà mở cổng đón, phường bùa đi vào sân, vừa đi vừa đánh cồng và hát bài
hát chúc tụng, ngợi ca:
" Chúc tết nhà ông
Vườn trước có cau, vườn sau có mít
Vựa lúa nếp còn đến tháng năm
Gạo tẻ tháng mười chưa hết "
Sau cuộc hát, chủ nhà mang thóc gạo tặng phường bùa, nắm thóc trên tay chủ
nhà được vãi nhẹ vào chiếc cồng đàm, người cầm cồng sẽ ngửa cồng đỡ lấy; thóc, gạo
rơi vào lòng chiếc cồng giống như gieo mạ, tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, tốt tươi
của mùa màng trong năm. Nhận thóc gạo từ chủ nhà, phường bùa hát bài tạ ơn rồi tiếp
tục đi sang nhà khác.
Múa trống đu: Đây là một trong những hình thức múa trống độc đáo của tất cả
các làng người Mường ở Phú Thọ, nhưng nay chỉ còn được tổ chức ở xã Tất Thắng,
huyện Thanh Sơn. Khi múa trống, người ta đặt một chiếc trống cơm lên trên mặt một
chiếc trống cái, người đánh trống là một ông già và 6 đến 8 cặp trai, gái tay cầm kèm
kẹp (hai thanh tre dài 40cm, rộng 4cm) xếp thành vòng xung quanh. Ông già tay cầm
trống cơm, tay kia gõ vào trống cái theo nhịp, mỗi lần di chuyển ông thường gõ một
tiếng vào mặt trống cái và dứ trống cơm về phía các cặp trai gái cho họ gõ cùng. Điệu
múa vui vẻ, rộn ràng, giống như người cha và đàn con đang vui đùa với nhau, mừng
mùa màng bội thu và gia đình hạnh phúc. Có người cho rằng: có thể xuất xứ của điệu

hai nam hát đối đáp với hai nữ, vừa hát vừa nhìn nhau, đối hợp câu, hợp giọng, phản
ánh được tình kết nghĩa anh em và cảnh quan của miền trung du cũng như cuộc sống
sinh hoạt của nhân dân trong vùng.
Ngoài các hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân gian nêu trên, người Mường
ở Phú Thọ còn có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng khác như: ném còn, múa
mỡi, múa đâm ống
Trong tục cưới: Cũng giống như một số các dân tộc khác, việc cưới xin là một
trong những sự kiện quan trọng của một đời người, kiếp người, đây không chỉ là dịp vui
cho riêng đôi trai gái, mà là ngày hội cho cả hai họ và cả mường. Trước khi tiến tới hôn
nhân, đôi trai gái có quyền được gặp gỡ hẹn hò trong các lễ hội, trong các phiên chợ,
trong các buổi cùng nhau đi làm đồng; họ có thể gặp gỡ, có thể tặng nhau những kỷ vật
làm tin như chằm bạc (vòng bạc), chiếc túi vải tự dệt nhưng quan trọng hơn cả vẫn là
những quyết định của cha mẹ. Người Mường nặng quan niệm "môn đăng hộ đối", quan
niệm hôn nhân ngoại tộc (chín đời vẫn góp giỗ nên không được lấy nhau); từ đó việc
kén vợ, chọn chồng cho con rất khắt khe, nhiều khi những quy định ấy lại trở thành tai
hoạ, trở thành nguyên nhân cho sự đổ vỡ những quan hệ tình cảm của đôi trai gái. Hôn
nhân của người Mường xưa có rất nhiều thủ tục, có nơi từ lúc nhà trai đem miếng trầu
đầu tiên đến xin nhà gái cho đôi trẻ qua lại tìm hiểu đến lúc tổ chức đám cưới (thường là
3 năm) phải có đủ 12 "cái lễ", hình thức rất nhiêu khê và phức tạp, gây tốn kém tiền của
không ít; trong thời gian 3 năm đó chàng trai phải mang đến nhà gái (đôi gà, yến gạo
nếp, chục lít rượu) và các loại bánh phù hợp với các ngày lễ; đặc biệt là dịp tết nguyên
đán, rằm tháng giêng, tết nguyên tiêu (3/3), tết 5/5, lễ xá tội vong nhân (rằm tháng 7),
tết cơm mới (10/10) là không thể thiếu. Hiện nay, ở một số vùng mường hẻo lánh ở
Phú Thọ vẫn còn những nghi thức này, tuy việc sắm lễ có nhẹ hơn so với trước. Trong
đám cưới của người Mường, thách cưới là do nhà gái đưa ra, họ quan niệm nuôi con
khôn lớn để nhà trai lấy về nên cha mẹ cô dâu cần được nhà trai trả công xứng đáng; lễ
vật thách cưới chủ yếu là đồ ăn, thức uống để tiếp đãi họ hàng (xưa còn có thêm bạc

người qua đời, cho đến lúc đưa người về "Mường ma" yên ổn, những người trong gia
đình và dân làng tổ chức rất nhiều các nghi lễ phức tạp. Đặc biệt, là 12 đêm mo. Trong
những đêm mo ấy, thầy cúng sẽ lần lượt đưa linh hồn người chết lên trời, về âm phủ để
hỏi về việc sống, việc chết của con người, sau đó trở về Mường người để ngắm cảnh cói
trần lần cuối. Người Mường quan niệm, chết không phải là hết, là kết thúc, mà là sự
thay đổi môi trường sống của con người từ "mường người" sang "mường ma". Khi còn
sống ở "mường người", đạo lý là hành động cư xử tốt đẹp, là sự chăm sóc tận tình với
nhau; đến khi chết, đạo lý ấy biến thành trách nhiệm và bổn phận của người sống đối
với người chết "nghĩa tử là nghĩa tận", là sự đưa tiễn người đến "mường ma" một cách
long trọng và đủ đầy. Không có chữ viết, nên "tang ca" là cách mà người Mường (qua
người hành lễ - Bố mo) "ôn lại lần cuối) cho người chết, cũng là một lần nói cho người
sống về cách đối xử với nhau, về quan niệm sinh thành, về linh hồn, về cõi sống, cõi
chết, về môi trường tự nhiên Có thể hình thức tổ chức tang ma và các "bài cúng" trong
các đêm mo của người Mường ở Phú Thọ không hoàn toàn giống như những sưu tầm
của các nhà nghiên cứu đã công bố, cũng không chi tiết như trong trường ca "Đẻ đất, đẻ
nước" đã ghi. Nhưng những tư tưởng, tình cảm của người sống đối với người chết,
những mong muốn, ước mơ của người đang sống được thể hiện trong 12 đêm mo thì có
lẽ không khác so với các nghiên cứu trước đây. Đối với người Mường, sự mất mát về
con người là nỗi mất mát chung, nên thường khi trong làng có một người qua đời, các
gia đình trong làng không phân biệt sang hèn đều mang đến cho tang gia một xuất gạo,
gà, rượu và muối để cùng lo tang lễ. Đến nay, các tiêu chí mới trong quy định xây dựng
làng, xã văn hoá đã giúp nghi lễ tang ma của người Mường tiến hành đơn giản, tiết kiệm
hơn, nhưng những nét cơ bản trong tín ngưỡng vẫn được duy trì ở một số làng Mường ở
vùng sâu, vùng xa.
Nếu tách bỏ những yếu tố mê tín, những hủ tục trong tang lễ thì chúng ta sẽ tìm
thấy trong các "đêm mo" những triết lý và quan niệm nhân sinh, những yếu tố văn hoá
dân gian truyền thống của cư dân Mường trong lịch sử.

8. Nguyễn Ngọc Thanh (2005), Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh
Phú Thọ, Viện Khoa học xã hội nhân văn, Viện Dân tộc học, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status