BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________________ Nguyễn Đặng Hải Dương ĐẶC ĐIỂM SỬ THI DÂN TỘC CHĂM
Ở PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HỒ QUỐC HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn với Tiến
sĩ Hồ Quốc Hùng đã tận tình hướng dẫn, cung cấp và truyền
thụ cho chúng tôi những kiến thức quý báu trong nghiên cứu và
hoàn thành luận văn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Phòng
Chăm vùng khác. Vì vậy, tìm hiểu đặc điểm sử thi Chăm ở Phú Yên ta sẽ thấy nét đặc trưng riêng,
vừa có nét ảnh hưởng của sử thi Tây Nguyên qua nếp sống, nếp nghĩ của tư duy người Chăm. Đó là
sự hài hoà, pha trộn tư duy Ch
ăm nguyên thuỷ và tư duy của cộng đồng cư dân trong cuộc sống hoà
nhập trên địa bàn sinh sống.
Đề tài “Đặc điểm sử thi dân tộc Chăm ở Phú Yên” góp phần vào việc giữ gìn những giá trị
văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số. Hiện nay, vấn đề giữ gìn và phát huy những giá trị
văn hoá của các dân tộc Việt Nam không chỉ là công việc của riêng dân tộc đó mà đã trở
thành
nhiệm vụ quan trọng của xã hội và nhất là đối với các nhà khoa học.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
Việc sưu tầm, nghiên cứu sử thi của các dân tộc thiểu số đang được tiến hành từ nhiều năm
nay và đã được viện Văn hoá cho in 16 tác phẩm hay tập sử thi hoàn chỉnh trong kho tàng sử thi Tây
Nguyên. Trong quá trình sưu khảo, có nhiều công trình nghiên cứu về sử thi Tây Nguyên, nhưng
chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu riêng về sử thi dân tộc Chăm ở Phú Yên. Luận văn này
nhằm tìm hiểu thể loại với mong muốn tìm ra nét đặc trưng của nó tồn tại trong tộc người Chăm vốn
sống lâu đời ở vùng đất Phú Yên.
Với những nỗ lực và kết quả của việc nghiên cứu, chúng tôi mong muốn góp phần vào vi
ệc
bảo tồn và gìn giữ di sản văn hoá tộc người Chăm ở Phú Yên đang có nguy cơ bị mai một dần. Đây
cũng là đóng góp nhỏ thiết thực trong quá trình gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
3. Lịch sử vấn đề:
Sử thi là tài sản quí báu của văn học việt Nam và của mọi dân tộc trên thế giới. Đó là tiếng nói
khẳng định những giá trị v
ăn hoá đặc sắc của dân tộc. Với những giá trị quí báu ấy, sử thi đã thu hút
rất nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu.
Sử thi ở Việt Nam được biết đến khi L.Sabatier công bố bản sưu tầm sử thi “Đăm San” vào
thập niên 30 của thế kỉ XX. Đây là bản sử thi đầu tiên mở đầu cho quá trình sưu tầm sử thi cho đến
thời điểm hiện tại. Đế
n năm 1963, tập Trường ca Tây Nguyên, do Y Điêng, Y Yung, Kơxo Blêu,
vụ khoa học mà luận văn của chúng tôi hướng đế
n khi nghiên cứu về sử thi Chăm ở Phú Yên.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là 5 tác phẩm sử thi của dân tộc Chăm. Chúng tôi cố
gắng làm rõ đặc điểm về cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ của nó. Từ những yếu tố này, có thể so sánh
với những tác phẩm sử thi cùng loại ở Tây Nguyên để xem mối quan hệ và những tương đồng về tư
duy ngh
ệ thuật giữa các tộc người có quá trình lịch sử khác nhau.
Những tác phẩm khảo sát gồm:
- Trường ca Chi Liêu
- Trường ca Tiếng cồng ông bà Hơ Bia Lơ Đă
- Trường ca Anh em Chi Blơng
- Chi Bri, Chi Brit
- Trường ca Hbia Tà Lúi Ka Li Pu
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điền dã:
Ngoài văn bản đã có, chúng tôi đặt nhiệm vụ đi điền dã để trực tiếp kiểm tra s
ự tồn tại hiện
hữu của các sử thi. Phương pháp này cần thiết cho luận văn nhằm tìm hiểu về vùng đất, phong tục,
lối sống của tộc người Chăm Hroi trên tỉnh Phú Yên và sự lưu truyền sử thi Chăm - Phú Yên.
Chúng tôi đã đi điền dã ở vùng núi huyện Sơn Hoà, trung tâm của sử thi Chăm - Phú Yên và tìm
hiểu kiến thức thực tế về đời sống người Chă
m Hroi nơi đây. Bên cạnh đó, chúng tôi tìm đến người
sưu tầm sử thi Chăm - Phú Yên là ông Ka Sô Liễng, người dân tộc Chăm sưu tầm và biên dịch sử
thi Chăm - Phú Yên để tìm hiểu thêm về trình thức truyền miệng (oral- formulaic theory), không
gian diễn xướng của sử thi.
- Phương pháp phân tích tổng hợp:
Từ việc nghiên cứu những đặc điểm cụ thể của sử thi Chăm - Phú Yên, chúng tôi có cơ sở để
khái quát thành những đặc điểm mang tính chất đặc thù của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp thống kê:
1.2.4.Trình thức kể và không gian diễn xướng sử thi Chăm - PhúYên
1.2.5. Các sử
thi được khảo sát
Chương II. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện sử thi dân tộc Chăm ở Phú Yên
2.1. Đề tài
2.2. Kết cấu cốt truyện
2.2.1. Tính hoàn chỉnh trong kết cấu sử thi Chăm - Phú Yên
2.2.2. Kết cấu đa sự kiện của sử thi Chăm - Phú Yên
2.3. Một số môtip trong cốt truyện sử thi Chăm - Phú Yên
2.3.1. Môtip “Sự cản trở trên đường đi”
2.3.2. Môtip “Băng rừng vượt núi”
2.3.3. Môtip “Sự giúp đỡ thần kì”
2.3.4. Môtip “Rèn luyện trước khi chiến đấu”
2.3.5. Môtip “Thuyết phục kẻ thù giảng hoà”
2.3.6. Môtip “Không thu nhận của cải, buôn làng kẻ đối địch khi thắng trận”
Chương III. Đặc điểm cấu tạo nhân vật sử thi dân tộc Chăm ở Phú Yên
3.1. Nhân vật anh hùng
3.1.1. Đặc điểm về xuất thân, lai lịch
3.1.2. Đặc điểm về vẻ đẹp ngoại hình và sức mạnh
3.1.3. Đặc điểm về tâm lý, tính cách
3.1.4. Đặc điểm về hành động
3.1.4.1. Nhân vật anh hùng trong làm lụng
3.1.4.2. Nhân vật anh hùng trong hôn nhân
3.1.4.3. Nhân vật anh hùng trong chiến đấu
3.2. Các nhân vật khác
3.2.1. Nhóm nhân vật đối địch
3.2.2. Nhóm nhân vật người đẹp
3.2.3. Nhóm nhân vật dân làng
3.3.4. Nhóm nhân vật thần linh
Chương IV. Ngôn ngữ sử
ng đất mỏng, lẫn nhiều đá, nghèo chất hữu cơ và đạm.
Đất đen, đất đỏ, vàng có lợi thế về trồng trọt và chăn nuôi. Điều đó cho thấy vùng núi Phú Yên có
nhiều lợi thế trong việc phát triển nông nghiệp với hai nghề chính là trồng trọt và chăn nuôi. Rừng
núi Phú Yên là nơi tập trung nhiều loại gỗ quí và nhiều loại thổ sản hiếm với nhiều loại dược th
ảo là
những nguyên liệu quí. Rừng còn là nơi trú ngụ của nhiều động vật lớn như bò, cọp, gấu, hươu, nai,
thỉnh thoảng còn có tê giác.
Như vậy, vùng núi Phú Yên nơi địa bàn người Chăm và các tộc người khác sinh sống, địa
hình thường bị chia cắt bởi sông suối và núi đồi. Đất đai tuy rộng lớn nhưng hầu hết nằm ở địa bàn
đất kém màu mỡ, khả năng khai thác hạn ch
ế. Tuy vậy, trong quá trình sinh sống, lao động và sản
xuất, các dân tộc đã biết cách hoà nhập với thiên nhiên, tạo ra những giá trị văn hoá phong phú và
đa dạng, còn lưu lại đến ngày nay.
1.1.2. Sự phân bố dân cư các dân tộc thiểu số ở Phú Yên:
Phú Yên có 3 huyện miền núi là Sông Hinh, Sơn Hoà, Đồng Xuân. Đây là các huyện có người
Chăm và các dân tộc thiểu số khác sinh sống. Huyện Sông Hinh nằm ở phía Tây Nam tỉnh, tiếp giáp
với huyện Ninh Hoà (tỉ
nh Khánh Hoà), phía Bắc giáp huyện Sơn Hoà , phía Tây giáp huyện
Krôngpa (tỉnh Gia Lai). Nơi này tập trung người Chăm, Ê đê, Ba na, Tày, Nùng. Người Ê đê là dân
tộc thiểu số cư trú đông nhất. Số dân cư Chăm ở đây khoảng 1270 người. Huyện Sơn Hoà nằm ở
phía Tây tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp huyện Sông Hinh, phía Bắc giáp huyện Đồng Xuân, phía
Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp huyện Phú Hoà. Huyện này tập trung dân tộc Chăm, Ê đê, Ba
na là chính. Ở huyện Sơn Hoà, người Chăm cư trú khoảng 9403 người và là tộc người cư trú đông
nhất. Huyện Đồng Xuân nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp huyện Sơn Hoà, phía
Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp huyện Tuy An và Sông Cầu.
Huyện này rải rác là cư dân Chăm và Ba na. Số dân cư Chă
m ở đây khoảng 6842 người.
Như vậy, tổng số người Chăm ở tỉnh Phú Yên khoảng 17.515 người sống tập trung ở ba
huyện miền núi: Sơn Hoà, Sông Hinh và Đồng Xuân. (Số liệu thống kê năm 2000 của Sở văn hoá
thông tin tỉnh Phú Yên)
Ninh Thuận, Bình Thuận và các nơi khác. Tuy nhiên, họ vẫn tự nhận mình là người Chăm. Điều đó
ph
ản ánh khá rõ trong tên gọi, nguồn gốc dân tộc, và trong một số đặc trưng về văn hoá.
Người Chăm - Phú Yên có nhiều tên gọi dân tộc gắn với địa danh nơi họ sống hoặc đặc điểm
nơi họ sống. Chẳng hạn như người Chăm sống ở suối Hà Đang, huyện Đồng Xuân tự nhận mình là
người Chăm Hà Đang. Người Chăm tại Thuận H
ải gọi những cư dân gốc Chăm sinh sống tại các
tỉnh Phú Yên và Bình Định là H’roi hay Hờ Roi. Nói chung, Chăm Hroi là tên gọi tộc người Chăm
sống ở vùng núi phía Tây Bình Định và Phú Yên. Nguồn gốc của tên Chăm Hroi này được Ka Sô
Liễng, nhà sưu tầm văn học dân gian giải thích: “Đây là tên gọi chung chỉ người Chăm sống ở vùng
thấp gần người Kinh nhằm phân biệt một bộ phận người Chăm sống ở
rừng già, thường gọi là Chăm
Dlay Yưa”. Tên gọi này đã phân biệt cộng đồng Chăm sống ở vùng núi Bình Định, Phú Yên và
cộng đồng Chăm sống tại đồng bằng của Ninh Thuận, Bình Thuận, và các tỉnh Nam Bộ.
Như vậy, có thể gọi người Chăm sống tách biệt với cộng đồng Chăm gốc ở Ninh Thuận, Bình
Thuận và hiện tại đang sống ở Bình Định, Phú Yên là Ch
ăm Hroi. Tên gọi người Chăm ở Phú Yên
nhằm xác định rõ địa danh và nơi sinh sống của cộng đồng người Chăm Hroi là ở Phú Yên để phân
biệt với người Chăm Hroi sinh sống ở Bình Định.
1.1.4. Một số đặc điểm văn hoá người Chăm - Phú Yên:
Dân tộc Chăm cũng giống như các dân tộc ít người khác sinh sống ở Phú Yên, họ sống dọc
theo dãy Trường Sơn t
ừ Sông Hinh đến huyện Vân Canh tỉnh Bình Định. Người Chăm Hroi tìm nơi
hiểm hóc như đỉnh núi cao, thung lũng có núi non bao bọc xung quanh để sinh sống. Do cư trú trong
những vùng đất có điều kiện tự nhiên và địa hình không thuận lợi, trong hoạt động kinh tế, người
Chăm - Phú Yên tồn tại nhiều loại hình như săn bắt, hái lượm, làm ruộng, các nghề thủ công, trồng
cây, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Làm rẫy là loại hình sản xuất nông nghi
ệp chủ yếu của những người Chăm - Phú Yên. Họ
chọn đất làm rẫy ở rừng thưa vì rừng già là nơi Yàng ngự trị, không ai được xâm phạm. Trước khi
Mơ Lăm (cúng Ma ác), Yàng Núi, Yàng Rừng, Yàng Anh em.
Trong lễ hội, tín ngưỡng, người Chăm - Phú Yên có nhiều lễ hội. Lễ hội tín ngưỡng theo vòng
đời người là lễ hội được xoay theo những bước quan trọ
ng trong đời một con người như sinh đẻ,
trưởng thành, hôn nhân, tang ma. Một số lễ như: lễ cưa răng là một lễ quan trọng để đánh dấu sự
trưởng thành của một người đến tuổi trưởng thành, lễ mừng sức khoẻ, lễ bỏ mả. Một số lễ hội theo
vòng cây trồng như: lễ tìm đất, cầu mưa, cúng xin cây, cúng đầu mùa, lễ cúng cơm mới, lễ
đưa lúa
vào kho. Ngoài ra, người Chăm - Phú Yên còn có một số lễ tục khác trong đời sống thường nhật
như: lễ cúng đầu phục (cúng cổng làng), cúng bến nước, cúng đất, lễ đổ đầu, cúng rửa xả xui, cúng
trừ ma lai.
Những biểu hiện trong sinh hoạt văn hóa trên đây cho thấy, người Chăm - Phú Yên có ảnh
hưởng sâu nặng với các dân tộc thiểu số nơi đây như dân tộc Ba na, Ê đê. Bởi lẽ
, cùng sống và sinh
hoạt trong một địa bàn không rộng lắm, các dân tộc này ở xen kẽ gần gũi với nhau. Do vậy, ngôn
ngữ và văn hoá có sự ảnh hưởng qua lại với nhau một cách mạnh mẽ. Cùng với sự cách ly với cộng
đồng người Chăm đã lâu đời và không còn sự tiếp xúc, giao lưu, người Chăm - Phú Yên đã không
còn giữ lại được những nét văn hoá truyền thống của người Chăm gốc trong quan niệm, sinh ho
ạt
vật chất và tinh thần.
1.1.5. So sánh người Chăm ở Phú Yên và người Chăm ở vùng lân cận:
Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận là một cộng đồng có số dân chiếm đa số trong cộng
đồng người Chăm ở Việt Nam, còn lưu giữ nhiều bản sắc và phong tục cổ truyền của nhất của tộc
người. Do vậy, so sánh người Chăm ở Phú Yên với ngườ
i Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, nhất là
người Chăm theo đạo Bà là môn là cách thức tìm ra những nét văn hoá của cộng đồng mà người
Chăm ở Phú Yên còn lưu giữ được hoặc đã thay đổi, tiếp biến trong quá trình lịch sử.
Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận có khoảng trên 60 nghìn người, cư trú tương đối
tập trung. Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận theo hai tôn giáo chính là Bàlamôn và Hồi
giáo.
• Về tín ngưỡng, lễ hội
: người Chăm - Phú Yên vẫn còn lưu giữ nhiều lễ hội đặc sắc của cư
dân Chăm trong vòng đời người và nông nghiệp. Nhưng nếu lễ hội Katê là lễ hội lớn nhất của người
Chăm theo đạo Bà la môn thì lễ đổ đầu- một lễ hội thể hiện sự sinh sôi nảy nở, biểu hiện tính phồn
thực với ý nghĩa tạo ra mọi sự số
ng mới, là lễ hội lớn nhất trong năm của người Chăm Hroi. Trên
thực tế, trong quá trình cộng cư với các tộc người Tây Nguyên, người Chăm - Phú Yên đã ít nhiều
ảnh hưởng qua một số tập tục. Người Chăm - Phú Yên đã thể hiện lối sống của một cộng đồng sống
ở vùng miền núi với những lễ như lễ trỉa lúa, cầu mưa, đốt rẫ
y…Những lễ nghi khác như đâm trâu
xoay cột, cúng Yàng anh em, cúng trừ ma lai liên quan đến những phong tục và tập quán lâu đời của
cư dân dân tộc Tây Nguyên hơn là tập quán của người Chăm. Lễ tang ma của người Chăm - Phú
Yên là dựng nhà mồ với cách làm tương tự như phong tục người Ba na, chỉ khác chút ít ở cách dựng
nhà mồ. Tất cả những lễ này đều có cúng Yàng với mong muốn được thần linh phù hộ cho mọi việc
xuôi chèo mát mái. Nh
ững sự thay đổi đó đã thể hiện sự hoà nhập sâu sắc với mảnh đất người Chăm
- Phú Yên đang sống. Đó là hệ quả của quá trình xa cách lâu ngày với cộng đồng Chăm gốc.
• Về đền tháp
: nếu người Chăm xưa kia để lại nhiều dấu tích về những ngọn tháp hùng vĩ ở
những nơi họ đã sống, thì ở vùng núi Phía Tây Phú Yên lại không có những ngọn tháp Chăm ấy mà
lại xuất hiện những nhà rông- là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng, nhất là những buôn làng sống
cận cư với người Ba na.
Một nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trên là do địa hình ở Nam Trung Bộ v
ới phía Tây được
bao bọc bởi dãy núi cao Trường Sơn, phía Đông là biển sâu, ở giữa là những mảnh đồng bằng nhỏ
hẹp bị chia cắt bởi các dãy núi ăn ra tận biển thành các thung lũng, những con sông ngắn, thác cao.
Địa hình hiểm trở với đèo, dốc, núi cao, vực sâu đã khiến cho việc giao lưu, đi lại khó khăn hơn
giữa các vùng. Gs. Lê Bá Thảo có viết: “Nam Trung Bộ được cấu tạo chủ yế
u bởi sườn đông dãy
Trường Sơn hay cao nguyên, các đồng bằng thì nhỏ hẹp, bờ biển thì bị chia cắt thành nhiều vũng,
ịch và lưu trữ thông qua nhà sưu tầm văn học dân gian Ka
Sô Liễng. Ông là người Chăm, rất có tâm huyết với văn học dân gian, am hiểu tiếng Việt và những
ngôn ngữ của những dân tộc khác. Ông đã sưu tầm và dịch thuật những tác phẩm này. Nhờ sự biên
dịch của ông, những tác phẩm tưởng chừng đã thất lạc hoặc chỉ còn trong tâm trí vài người già đã
sống lại một cách rõ ràng và đầy đủ nhất. Bởi lẽ, khi tìm được một tác phẩm sử thi và ghi âm lại, tác
phẩm đó vẫn còn xa cách với người nghe bởi khoảng cách của ngôn ngữ và phong tục tập quán. Qua
sự chuyển giao sử thi dân tộc Chăm và một số dân tộc khác như Ê đê, Mơ nông, Ba na củ
a ông,
những tác phẩm sử thi đã có thể đến với người đọc một cách khá trọn vẹn về nội dung.
Năm 2000, tỉnh Phú Yên đã cho in ấn lần lượt những tác phẩm sử thi dân tộc Chăm và lưu
truyền trong phạm vi của tỉnh. Năm 2002, dự án in thành sách kho tàng sử thi Tây Nguyên đã được
thực hiện, và hai tác phẩm sử thi của dân tộc Chăm đã được xuất bản rộng rãi trong cả n
ước. Đó là
hai tác phẩm sử thi: “Chi Bri - Chi Brit” và “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă”. Những tác phẩm sử
thi này được in theo hai thứ tiếng: tiếng Việt và tiếng Chăm.
Sử thi dân tộc Chăm - Phú Yên chỉ có một nguồn sưu tầm là từ nghệ nhân Ka Sô Liễng. Tư
liệu được khảo sát là những tư liệu đã được xử lý về ngôn ngữ và đã qua sự sắp xếp, biên dịch của
ông. Do đó, không có ngu
ồn tư liệu thứ hai để so sánh về phương thức dịch thuật hoặc đối chiếu sự
giống hay khác nhau trong cùng một tác phẩm nhưng có hai nguồn tư liệu sưu tầm khác nhau.
Ông Ka Sô Liễng đã tìm được những nghệ nhân còn thuộc những sử thi này và ghi âm lại tác
phẩm. Cho đến nay, những nghệ nhân hát sử thi này có người còn sống nhưng cũng có người đã
mất. Và nghệ nhân kể sử thi cũng không h
ẳn thuộc hoàn toàn tác phẩm. Ông Ka Sô Liễng đã đi sưu
tầm một sử thi không chỉ là một nghệ nhân kể mà là nhiều nghệ nhân kể. Mỗi người nhớ một đoạn,
và ông đã biên dịch lại cho hoàn chỉnh. Đây là trường hợp của sử thi “Hbia Tà Lúi Ka Li Pu”.
Sử thi dân tộc Chăm - Phú Yên được sưu tầm không chỉ nằm trên một vùng đất mà là nhiều
vùng đất, nhiều xã nơi tập trung người Chă
m sinh sống. Vùng trung tâm văn hoá sử thi Chăm - Phú
Yên là huyện Sơn Hoà, cách thành phố Tuy Hoà 70km. Đây là nơi người Chăm sống tập trung nhất.
ận cách diễn xướng Hri và so sánh với tài liệu ông biên
soạn về đời sống của tộc người Chăm ở Phú Yên. Chúng tôi cũng cảm nhận được sự hồn hậu, chân
thật của những con người nơi vùng đất này cũng như vẻ đẹp còn rất nguyên sơ của vùng núi Ea Chà
Rang. Điều quan trọng là qua đó thấy được không khí thẩm mỹ của sử thi và các trình thức kể
chuyện.
Đợt thứ
hai chúng tôi trở lại Ea Chà Rang là vào tháng 8 năm 2008. Lúc bấy giờ nghệ nhân Ka
Sô Liễng đã khoẻ hơn sau đợt phẫu thuật. Ông đã cung cấp cho chúng tôi ba tác phẩm sử thi do ông
đánh máy nữa. Đó là những sử thi: “Anh em Chi Blơng”, “Hbia Tà Lúi Ka Li Pu”, “Chi Lơ Kok”
(sử thi Ê đê ở Phú Yên có nội dung tương tự như “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă”). Ông cũng hào
hứng giải thích những tập tục của người Chăm trong những sử thi này, nhất là trong sử thi “Hbia Tà
Lúi Ka Li Pu”. Ông b
ảo rằng khi khoẻ lại ông sẽ đi thăm các vùng Tây Nguyên để sưu tầm tiếp tục
những sử thi đang còn tồn tại ở đó. Nghệ nhân Ka Sô Liễng đã hát Hri cho chúng tôi nghe, và đồng
thời cung cấp những cuốn băng ghi âm ông đã miệt mài ghi âm bà con hát Hri.
Những Hri này được truyền kể bằng hình thức hát, kể và được cộng đồng yêu thích. Trình thức
diễn xướng sử thi bao gồm: người hát phải sử dụ
ng nhiều thủ pháp nghệ thuật như ngâm, hát với tiết
tấu lúc nhẹ nhàng, khoan thai, lúc bay bổng dữ dội theo diễn biến và bối cảnh câu chuyện nhằm làm
nổi bật nội dung mà tác phẩm muốn diễn tả. Chính vì lưu truyền bằng hình thức diễn xướng, sử thi
rất dễ biến đổi và có nhiều bản có nội dung tương đồng nhau. Người Gia Rai, người Ê đê ở Sơn Hoà
và Sông Hinh có thể kể được “Chi Lơ Kok”. Hoặc sử thi “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă” và “Chi
Lơ Kok” cùng kể về người anh hùng Xing Chi Ngã. Sử thi “Xing Nhã” (dân tộc Ê đê ở Tây
Nguyên) lại có nội dung t
ương tự như “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă”. Hình thức lưu truyền bằng
miệng đã cho thấy sự di chuyển của sử thi trong một khoảng cách địa lý xa đáng ngạc nhiên của
những tác phẩm sử thi ở Tây Nguyên đến vùng núi Phú Yên. Điều này có thể lý giải như sau: Phú
Yên nằm giữa lưu vực sông Đà Rằng, con sông này là con sông tiếp nối sông Ba chảy qua khu vực
trung tâm của người Ê đê, Gia Rai ở Tây Nguyên. Sử
thi cũng lan truyền theo văn hoá dọc con sông
bỏ theo Kjăm Jông. Tuy nhiên, hiện nay, những người thuộc sử thi, biết sử thi ngày càng ít đi vì
nhiều lý do. Ông Ka Sô Liễng lo lắng và trăn trở rằng sẽ có lúc những tác phẩm sử thi đang vẫn còn
đâu đó trong cộng đồng không được biết đến vì người thuộc những tác phẩm ấy qua đời và không
có sự truyền lại cho con cháu đời sau. Đó là điều đáng tiếc cho sử thi Chăm cũng như sử thi nh
ững
dân tộc khác. Sự mai một của những tác phẩm sử thi “sống” sẽ là sự thiếu hụt lớn cho kho tàng văn
học dân gian, và văn hoá dân gian. “Những người già rồi sẽ mất đi, những câu chuyện cổ cũng sẽ
mất đi, nếu người ta không lưu giữ”, ông Ka Sô Liễng nói điều này với một sự thở dài.
Một điều cũng đáng chú ý là khi khảo sát các sử thi khác đ
ã được in thành sách, chúng tôi
thấy có nhiều lời chỉ dẫn, lời kể của người kể sử thi xen vào nội dung cốt truyện. Đó là lời dẫn
chuyện, lời mô tả, đánh giá, nhận xét của người kể lồng vào bối cảnh, sự kiện của sử thi. Chúng tôi
trực tiếp nghe Ka Sô Liễng diễn xướng và suốt trong thời gian diễn xướng của người kể, Hri được
hình thành phần lớn t
ừ các mẫu đối thoại của nhân vật trong sử thi. Diễn biến câu chuyện như một
vở kịch mà người kể chỉ là người tường thuật, không hề thêm bớt, nhận xét, mô tả, đánh giá gì trong
mọi chi tiết cốt truyện. Và ông Ka Sô Liễng cũng xác nhận đây là cách hát kể Hri của người Chăm.
Chúng tôi bổ sung sự tìm hiểu âm hưởng, nhạc điệu sử thi bằng việc nghe những băng ghi âm. Qua
đó, chúng tôi cũng tái tạo lại phần nào một không gian truyện kể cùng âm điệu lúc say sưa, lúc nhịp
nhàng trong lời hát sử thi. Và việc tìm về với buôn làng Chăm, tìm đến không gian văn hoá nơi còn
những khu rừng hoang sơ, đã làm sống lại trong tâm trí chúng tôi một không gian sử thi đầy mê
hoặc và tràn đầy màu sắc cùng âm hưởng hào hùng của những khát vọng, niềm tin. Quả thật, sử thi
phải được đặt trong một không gian sống đúng nghĩa củ
a nó thì mới thực sự trở nên bay bổng, diệu
kì và sự sống từ đó thoát ra mang theo tất cả vẻ đẹp sống động của núi rừng và từng câu chữ bỗng
trở nên là một sự sống thực sự.
Như vậy, tìm hiểu về sử thi dân tộc Chăm, ngoài việc dựa trên những văn bản đã được sưu tầm
và biên dịch, chúng tôi còn quan sát cách diễn xướng của nó. Đi
ều đó ít nhiều rút ngắn khoảng cách
giữa văn bản tiếng Chăm và văn bản tiếng Việt.
- Bang ra: mẹ nuôi Xing Nhã
- Xing Yuê: cha nuôi Xing Nhã
- Giarơ Bú: kẻ thù của hai cha con
Xing Nhã
- Hbia Guê: vợ của Giarơ Bú
- Prong Mưng: em trai Giarơ Bú
- Gỗn: ông trời, tốt
- Chi Lơ Kôk: cha Xing Chi Ngã
- Hbia Lơ Đă: mẹ Xing Chi Ngã
- Xing Chi Ngã: nhân vật chính
-
Hbia Mơ Giang: người yêu Xing
Chi Ngã
- Hbia Mơ Chuôi: mẹ nuôi Xing Chi
Ngã
- Chi Lơ Mê: cha nuôi Xing Chi Ngã
- Chi Lơ Bú: kẻ thù của hai cha con
Xing Chi Ngã
- Hbia Lơ Gôi: vợ của Chi Lơ Bú
- Prong Mưng: em trai Chi Lơ Bú
- Yàng: ông trời, xấu
Hệ thống nhân vật của hai tác phẩm này có sự thống nhất. Số lượng nhân vật có mối liên hệ
chính với nhân vật trung tâm cũng có sự giống nhau. “Xing Nhã” thì có thêm nhân vật Hbia Blao là
người yêu thứ hai của Xing Nhã. Cách gọi tên cũng na ná như nhau. Những cái tên là sự biến âm
của cùng nhân vật. Ví dụ: Xing Chi Ngã cũng gần giống như Xing Nhã, Giarơ Kốt tương tự như Chi
Lơ Kok. Tên nhân vật Hbia Lơ Đă, Prong Mưng thì giống nhau.
Bảng 1. 2. So sánh c
ốt truyện của “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă” và “Xing Nhã”:
Cốt truyện “Xing Nhã” Cốt truyện “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ
Đă”
của họ tên là Hbia Lơ Đă bị goá
chồng.
- Chi Lơ Kok đi tìm nơi có
chiêng, gặp Chi Lơ Mê và kết
nghĩa anh em.
- Hbia Lơ Đă gặp Chi Lơ Kok, lấy
nhau, dựng làng.
- Chi Lơ Kok đến làng Chi Lơ Bú,
kết nghĩa
- Chi Lơ Bú kéo quân đánh làng
Chi Lơ Kok vì muốn cướp bộ
chiêng.
-
Hbia Mơ Chuôi bế Xing Chi
Ngă chạy trốn.
- Chi Lơ Kok bị Yàng bắt lên trời,
để cho Chi Lơ Bú thắng, chiếm
làng và bắt Hbia Lơ Đă cùng
dân làng về làm nô lệ.
+ Cuộc đời Xing Chi Ngã
:
- Xing Chi Ngã bị rơi vào gốc
cây, được vợ chồng Hbia Mơ
sống sót. Xinh Nhã được ông
Trời cứu thoát và ở với vợ
chồng Xinh Yuê.
- Xing Nhã chơi quay, gặp nàng
Bra Tang và hò hẹn.
- Xing Nhã chuẩn bị trả thù.
- Bang Ra ngăn cản.
- Xing Chi Ngã tiêu diệt bọn Chi
Lơ Bú và giải thoát cho mẹ
cùng dân làng.
- Xing Chi Ngã cưới Hbia Mơ
Giang.
- Tổ chức ăn mừng chiến thắng.
Cốt truyện Sử thi “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ Đă” và “Xing Nhã” có nét thống nhất. Sự khác
biệt nằm ở đoạn đầu tác phẩm và sự kiện về sự giúp đỡ của thần linh. “Tiếng cồng ông bà Hbia Lơ
Đă” có đoạn nói về lý do Chi Lơ Bú ghen ghét với Chi Lơ Kok là bởi Yàng xúi giục vì không chịu
được tiếng chiêng của gia đình Hbia Lơ Đă. Và tác phẩm này có sự bổ sung quan trọng về sự g
ặp gỡ
của Chi Lơ Kok với Hbia Lơ Đă. Đây có thể xem như sự bổ sung cho “Xing Nhã”. Vì ở “Xing
Nhã”, phần mở đầu đã là Gia rơ Kốt cưới Hbia Lơ Đă, không có hai sự kiện trên. Sự kiện sự giúp đỡ
của thần linh cũng là một sự khác biệt trong hai sử thi. Nếu Gỗn là ông trời tốt đã giúp Xing Nhã
hồi phục và trở về chiến đấu với Chi Lơ Bú thì Yàng trong “Tiế
ng cồng ông bà Hbia Lơ Đă” lại
được miêu tả là Yàng xấu, hãm hại Chi Lơ Kok và Xing Chi Ngã. Điều này cũng thể hiện quan
niệm Yàng có nhiều kiểu, Yàng tốt và Yàng xấu- Yàng tốt thì giúp người, Yàng xấu thì hại người
của người Chăm - Phú Yên.
• Sử thi “Trường ca Chi Liêu”:
Sử thi “Trường ca Chi Liêu” do nghệ nhân Ây rõ kể, ở xã Phước Tân, huyện Sơn Hoà. Ka Sô
Liễng ghi chép, biên dịch và viết lời giới thiệu. Tác phẩm do Hội liên hiệp văn học và nghệ thuật
tỉnh Phú Yên in năm 2000, in thành 2 tập, không có phần tiếng Chăm.
• Sử thi “Trường ca Hbia Tà Lúi Ka Li Pu”:
Sử thi này do nghệ nhân Ma Kh
ử ở buôn Ea Chà Rang kể lại. Theo lời Ka Sô Liễng, sử thi này
có nhiều người nhớ và kể lại được, tuy nhiên mỗi người chỉ nhớ được một phần. Ông đã cất công
ghi chép lại nhiều đoạn đó rồi nối lại với nhau theo cốt truyện của nó. Sau đó ông đem đến kể cho
hôn nhân với sự đấu tranh để tìm kiếm và bảo vệ nó. Có thể tìm thấy những sử thi Tây Nguyên nằm
trong loại đề tài này như: “Đăm Kteh Mlan”, “Grăn Kiêng” (dân tộc Ê đê). Loại đề tài sử thi về
chiến tranh là loại đề tài thông qua chiến tranh để thực hiện những mục đích lớn lao của cuộc đời
con người và bảo vệ cộng đồng như: chiến tranh giành lại vợ; tự vệ trướ
c sự xâm hại của kẻ thù với
gia đình, dân làng; khôi phục, trả thù thế lực đối địch đã cướp bóc của cải, đem lại sự bình yên cho
cộng đồng. Loại sử thi về đề tài chiến tranh chiếm đa số trong số lượng đề tài sử thi, như “Đăm
San”, “Xing Nhã” (dân tộc Ê đê).
Không ngoại lệ, sử thi Chăm - Phú Yên xoay quanh hành động khôi phục lại gia đình, buôn
làng, cứu giúp con người, trừ
ng trị kẻ thù có mưu đồ chiếm đoạt tài sản, hãm hại người khác. Người
anh hùng hoặc trực tiếp dùng sức mạnh để khôi phục và bảo vệ, giúp đỡ mọi người, trả thù cho gia
đình hoặc kết hợp là người tham gia vào cuộc chiến đó, góp phần quyết định cho chiến thắng.
Người hỗ trợ là dân làng, hoặc anh em của người anh hùng. Chống giặc ở đây là chống những th
ế
lực thù địch đi chiếm các vùng đất khác, hoặc muốn chiếm ngôi vua, hoặc là những kẻ thù có mưu
đồ hãm hại dân làng, cướp của quí. Chống giặc còn là chống những ác quỉ có phép thuật với sức
mạnh ghê gớm làm hại tính mạng và cuộc sống buôn làng. Bên cạnh chiến đấu chống giặc, người
anh hùng còn chiến đấu chống lại những tập tục làm hại cuộc sống con người. Cả n
ăm tác phẩm sử
thi ở Phú Yên đều xoay quanh những cuộc chiến đấu bảo vệ và đem lại cuộc sống bình yên cho
cộng đồng. Chẳng hạn trong sử thi “Chi Bri, Chi Brit”, có các sự kiện chính kể về những chiến công
trong chiến đấu của hai anh em trong việc săn bắt thú dữ, diệt ác quỷ, giúp đỡ người đẹp, tiêu diệt