Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y – DƢỢC
VŨ VĂN XUÂN
ĐẶC ĐIỂM LÂY NHIỄM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS VÀ SỰ QUAN
TÂM CHĂM SÓC HỖ TRỢ, ĐIỀU TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI PHÕNG
KHÁM NGOẠI TRÖ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG
MÃ SỐ : 60.72.73 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG
MÃ SỐ : 60.72.73
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Quý Thái
Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và của gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Quý
BKT : Bơm kim tiêm
BLTQĐTD : Bệnh lây truyền qua đường tình dục
CDC : (Center for Disease Control and Prevention)
ELISA : (Enzyme – Linked Immunsorbent Assay)
GMD : Gái mại dâm
HIV : (Human Immunodeficiency Virus): Vi rút gây
suy giảm miễn dịch
HVNC : Hành vi nguy cơ
NCMT : Nghiện chích ma tuý
NN HIV/AIDS : Người nhiễm HIV/AIDS
NTCH : Nhiễm trùng cơ hội
QHTD : Quan hệ tình dục
TCMT : Tiêm chích ma tuý
TVXNTN : Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
UNAIDS : Chương trình AIDS Liên Hợp Quốc
(Joinut United Nations Program on HIV/AIDS)
WHO : (World Health Organization): Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5 Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
7
Chƣơng 3.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.
Thông tin chung của người nhiễm HIV/AIDS
24
3.2.
Hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan ở NN
HIV/AIDS.
32
3.3.
Sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người
NN HIV/AIDS
38
Chƣơng 4
BÀN LUẬN
4.1.
Thực trạng về người nhiễm HIV/AIDS hiện đang điều trị tại
phòng khám ngoại trú BVĐK tỉnh Bắc Giang
43
4.2.
Hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan ở NN
HIV/AIDS.
45
4.3.
Sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người
NN HIV/AIDS
52
Bảng 3. 4
Phân bố NN HIV/AIDS theo trình độ học vấn và nơi cư trú.
27
Bảng 3. 5
Tình trạng hôn nhân của NN HIV/AIDS
28
Bảng 3. 6
Tình trạng có con của người nhiễm HIV/AIDS
29
Bảng 3. 7
Tình trạng sống chung của người nhiễm HIV/AIDS
30
Bảng 3. 8
Thời gian biết nhiễm HIV của người nhiễm HIV/AIDS
31
Bảng 3. 9
Lý do xét nghiệm HIV của người nhiễm HIV/AIDS
31
Bảng 3. 10
Thời gian sử dụng ma tuý và TCMT ở NN HIV/AIDS
32
Bảng 3. 11
Tiêm chích ma tuý trong tháng qua và dùng chung BKT ở
người NN HIV/AIDS
33
Bảng 3. 12
Mức độ TCMT trong 1 tháng qua ở người TCMT bị nhiễm
HIV/AIDS
33
Bảng 3. 13
Thái độ của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS
38
Bảng 3. 21
Thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS
39
Bảng 3. 22
Đơn vị hỗ trợ và loại hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS
39
Bảng 3. 23
Người nhiễm HIV/AIDS nhận được các hỗ trợ cho phòng
chống HIV trong 6 tháng qua
40
Bảng 3. 24
Nơi khám, chữa khi ốm đau của NN HIV/AIDS
41
Bảng 3. 25
Mong muốn /nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS
42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
AIDS, 519 người đã chết do AIDS, [45]. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng
đây là số liệu báo cáo, con số phát hiện chưa phản ánh đúng tình hình nhiễm
HIV ở Bắc Giang, con số phát hiện này có thể được ví như là một phần nổi của
tảng băng chìm. Vấn đề đặt ra hiện nay là số nhiễm HIV ngày càng tăng, số
người phát triển thành AIDS ngày càng nhiều. Trong khi đó, công tác quản lý, tư
vấn, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV/AIDS tại nhà còn nhiều bất
cập, sự kỳ thị, đối xử với người nhiễm HIV/AIDS là hành vi xa lánh, từ chối,
tách biệt, ngược đãi, phỉ báng rất phổ biến và chưa được các cấp, các ngành quan
tâm đúng mức. Bên cạnh đó, nhu cầu về chăm sóc, điều trị của người nhiễm
HIV/AIDS và những người có nguy cơ bị lây nhiễm HIV/AIDS còn ít được các
nghiên cứu đề cập tới, đặc biệt lây nhiễm HIV từ người nhiễm HIV/AIDS ra
cộng đồng vẫn chưa được nghiên cứu đầu tư để làm cơ sở cho việc chăm sóc và
điều trị người nhiễm HIV/AIDS. Do vậy, để sớm tìm ra các giải pháp can thiệp
nhằm ngăn chặn sự lây lan của đại dịch từ các nhóm đối tượng có nguy cơ cao
vào cộng đồng, với mong muốn làm giảm các tác động của đại dịch HIV/AIDS,
nâng cao chất lượng tư vấn, chăm sóc, điều trị và quản lý quy trình điều trị cho
người nhiễm HIV/AIDS đáp ứng nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lây nhiễm ở bệnh nhân HIV/AIDS và sự
quan tâm chăm sóc hỗ trợ, điều trị của cộng đồng tại phòng khám ngoại trú
bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang” nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm HIV/AIDS hiện đang điều trị tại
phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
2. Nhận xét sự quan tâm chăm sóc hỗ trợ, điều trị của cộng đồng với người
nhiễm HIV/AIDS tại địa điểm nghiên cứu nói trên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11
tăng năm 2007. Những khu vực có nhiều người sống chung với HIV/AIDS nhất
vẫn là khu vực miền nam châu Phi, chiếm hai phần ba số trường hợp nhiễm
HIV/AIDS toàn cầu (tương đương 22 triệu ca), tiếp đó là khu vực Nam và Đông
– Nam Á (4,2 triệu ca), Mỹ la tinh 1,7 triệu ca Báo cáo cho biết tại châu Á, gần
một nửa số bị nhiễm HIV ở Trung Quốc năm 2006 được cho là do sử dụng các
dụng cụ tiêm chích bị nhiễm HIV. Việc sử dụng chung kim tiêm có HIV và quan
hệ tình dục không an toàn cũng là nguyên nhân chủ yếu làm lây lan đại dịch này
tại Việt Nam và Malaysia, nơi hai phần ba các trường hợp nhiễm HIV. [ 43 ]
1.1.2. Tại Việt Nam
Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam đã và đang trở thành hiểm hoạ của mỗi cá
nhân, gia đình và cộng đồng. Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát
hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối tháng 12 năm 1990, đến năm 1993
dịch bắt đầu bùng nổ, phát hiện 1.100 người nhiễm, tập trung trong nhóm nghiện
chích ma tuý tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ sau 5 năm, dịch đã lan tràn mạnh
mẽ trên phạm vi cả nước. Kể từ năm 2000 đến năm 2005, số người nhiễm HIV
tăng gấp đôi, mỗi năm Việt Nam phát hiện thêm trung bình 12.000 đến 15.000
trường hợp nhiễm HIV. Tính đến nay, Việt Nam có 149, 653 người nhiễm HIV
hiện còn sống, 32, 400 người bị nhiễm AIDS và 43, 265 người tử vong do AIDS.
ước tính đến năm 2010, Việt Nam có khoảng 311.500 người bị nhiễm HIV/AIDS
và trong số đó sẽ có trên 100 nghìn người tử vong. Các tỉnh miền núi, biên giới
phía Bắc hiện là những địa phương có số lượng người nhiễm HIV/AIDS tăng
nhanh. Trong tổng số 10 tỉnh, thành có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất nước có
tới 5 tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó, Sơn La và Điện Biên có tỷ lệ người nhiễm
HIV nhiều chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp là các tỉnh, Yên Bái, Cao
Bằng và Bắc Kạn. Đáng mừng là Hà Nội, Quảng Ninh vốn là nững nơi có đông
xã/phường, một số tỉnh/thành phố có 100% số xã/phường đã có người nhiễm
HIV/AIDS. Hiện nay dịch HIV/AIDS vẫn có nguy cơ tiếp tục gia tăng, diễn biến
của dịch ngày càng phức tạp về quy mô, diện mắc và hình thái lây truyền. Theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13
số liệu của Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý,
mại dâm đến 31/3/2009, 10 tỉnh ở Việt Nam có số người nhiễm HIV cao nhất.
Bảng 1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại một số tỉnh, thành phố
(Số liệu tính đến ngày 31/3/2009) :[11] :[47]
TT
Địa phƣơng
Số nhiễm HIV/AIDS
1
Thành phố Hồ Chí Minh
37.585
2
Quảng Ninh
606,71
3
Hà Nội
14.419
4
Hải Phòng
6.288
5
Nghệ An
3.370
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
14
bàn tương đối phức tạp và khó kiểm soát, Các địa bàn trọng điểm về buôn bán và
sử dụng ma túy là Tân Yên, thành phố Bắc Giang và Hiệp Hòa; các dịch vụ vui
chơi giải trí, nhà nghỉ, khách sạn cùng với hoạt động mại dâm phát triển tại thành
phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Hiệp Hòa. theo kết quả điều tra vẽ bản đồ
điểm nóng về ma túy, mại dâm năm 2007, số người nghiện chích ma túy trên địa
bàn tỉnh tiếp cận được là 2.789 người; số gái mại dâm là 830 người, tập trung
chủ yếu tại thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hòa, Lục
Ngạn. Hàng Năm, có khoảng 50.000 lượt người dân của tỉnh Bắc Giang cũng
tiếp nhận trung bình hàng năm khoảng 20.000 lượt người là học sinh, sinh viên,
công nhân trong các khu công nghiệp, xây dựng, bộ đội Đó là những yếu tố
nguy cơ làm tăng tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng và bên cạnh những mặt
tích cực đã có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại hình tệ nạn xã hội, trong
đó có tệ nạn ma tuý và mại dâm - nguyên nhân chính làm cho Bắc Giang nhanh
chóng trở thành một điểm nóng của đại dịch HIV/AIDS trong vài năm gần đây.
Cùng với sự phát triển của tệ nạn ma tuý thì số lượng người nhiễm HIV
được phát hiện gia tăng với tốc độ rất nhanh chóng, hiện nay Bắc Giang là tỉnh
có tỷ lệ báo cáo nhiễm HIV cao đứng hàng thứ 8 tỉnh thành trên toàn quốc. Ca
nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Bắc Giang vào tháng 7 năm 1996. Theo
báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc giang tính đến ngày
31/5/2009, tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS được phát hiện là 2.889 người,
trong đó: 1.511 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS; 519 người chết do
AIDS. Đây là chỉ số đã làm xét nghiệm và quản lý được, trong thực tê số người
nhiễm còn cao hơn nhiều.
Tất cả 10 huyện/thành phố đều phát hiện có người nhiễm, địa bàn có số
người nhiễm cao nhất là thành phố Bắc Giang (chiếm gần 50%) tổng số người đã
1.519
Số tử vong do AIDS
153
181
492
521
519
1.2. Đặc điểm lây nhiễm ở NN HIV/AIDS
1.2.1. Các hành vi nguy cơ
Ai cũng có thể nhiễm HIV nếu có hành vi không an toàn. Tuy nhiên
những hành vi dưới đây có thể coi là các yếu tố nguy cơ trong lây nhiễm HIV.
Nguy cơ nhiễm HIV qua một lần tiếp xúc cao nhất là truyền máu bị nhiễm HIV,
rồi đến mẹ truyền cho con, dùng chung BKT, QHTD không an toàn. Lây do tiếp
xúc với các vật phẩm có chứa HIV qua chăm sóc y tế rất thấp. Tuy nhiên, nếu so
sánh tỉ lệ người nhiễm HIV theo từng phương thức trong tổng số người nhiễm
HIV lại thấy rằng: số người nhiễm HIV lây theo đường tình dục (đặc biệt tình
dục khác giới) chiếm tỷ lệ cao nhất các số liệu cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV
trong nhóm gái mại dâm đã tăng từ 0,8% (1994) lên tới 5,5% (1998) và 14,4%
(1999) đối với các tỉnh giáp biên giới với Campuchia [49], rồi đến dùng chung
BKT trong nhóm NCMT, mẹ truyền cho con, truyền máu và rất thấp trong chăm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
16
sóc y tế theo O`Brien F nghiên cứu trên 40.000 người hiến máu ở Ca na đa năm
2006 cho thấy có khoảng 0,25% người hiến máu lần đầu và 0,13% người hiến
máu nhắc lại đã dấu không cho biết về việc mình đã từng chích ma túy [55].
+ Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV của người NCMT
Tính đến 12/2008 cả nước có hơn 173,600 người nghiện chích ma túy,
vùng ở Trung Quốc, Ấn Độ và Myanma, số phụ nữ nhiễm HIV qua QHTD với
người NCMT nhiều hơn và qua bất kỳ con đường nào, 83 người NCMT ở Rio
De Janeiro, Braxin không sử dụng BCS với bạn tình thường xuyên. và 63%
không bao giờ dùng với bạn tình không thường xuyên. Tỷ lệ người NCMT có
QHTD với gái mại dâm cao, từ dó HIV lan truyền vào cộng đồng thấy rõ trong
diễn biến dịch ở Thái Lan. Nghiên cứu trên 212 nam NCMT ở thành phố
Quebec, Canada, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT có bán dâm là 30%, so với
dưới 10% ở những người không bán dâm. Tiêm chích ma tuý cũng góp phần làm
lây truyền HIV qua đường mẹ – con, 40% trẻ nhiễm HIV ở Uragoay sinh ra từ
mẹ NCMT. Đáng lưu ý, do tác động lên hệ thống miễn dịch của cơ thể chủ, HIV
gây rối loạn bệnh lý ở người nhiễm nhiễm HIV/AIDS và dẫn đến tử vong.
+ Nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình dục:
Đến tháng 12/2008, riêng đối tượng bán dâm có hồ sơ quản lý là 15.136
(tăng 1,9%), 3,12 số này nhiễm HIV. Một số tỉnh có tỷ lệ gái mại dâm nhiễm
HIV ở mức cao như: Điện Biên 14,96%, Hà Nội 12,25%, Hải Phòng là 10,75%
[50]. Quan hệ tình dục không an toàn là nguy cơ lây nhiễm HIV đặc biệt người
nghiện chích ma tuý có quan hệ tình dục với gái mại dâm nhưng tỷ lệ dùng bao
cao su thấp. Người ta thấy rằng 83,00 % người NCMT ở Rio De Janeiro (Braxin)
không sử dụng bao cao su với bạn tình thường xuyên và 63, 00% không bao giờ
dùng với bạn tình không thường xuyên. Theo nghiên cứu của Moes và các tác
giả khác năm 1991 ở Nairobi, kênia trên 500 GMD, 80,00% trong số đó đã bị
nhiễm HIV. Một GMD có trung bình 4 bạn tình một ngày, sau khi can thiệp phát
BCS và điều trị STDs miễn phí cho số phụ nữ đó thì việc sử dụng BCS tăng từ
10,00% lên 80,00%, ngăn chặn được khoảng 10.200 trường hợp nhiễm mới
trong một năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
19
người nhiễm cũng như cho gia đình họ là rất quan trọng [41], [11], [21]
1.3.2. Tình hình chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS ở Bắc Giang.
Tính đến ngày 31/7/2009, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có một điểm điều
trị duy nhất cho người nhiễm HIV/AIDS, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang
gồm có 636 người nhiễm hiện đang quản lý điều trị, có 210 đang điều trị ARV;
tổng hiện có 23 trẻ em, 12 trẻ em đang điều trị ARV, 11 trẻ chưa dùng. Hệ thống
quản lý điều trị: 1 BS phụ trách; 2 BS điều trị; Tư vấn viên 2 người; Điều dưỡng
viên 2 người; Hộ lý 1 người; cấp phát thuốc 1 người; cộng tác viên 10 người
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiến hành các nghiên cứu tại phòng khám
ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang để xác định thực trạng về chăm sóc
và hỗ trợ, điều trị người nhiễm HIV/AIDS, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
can thiệp nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch vào các nhóm đối tượng có nguy
cơ cao và đặc biệt là ngăn chặn hữu hiệu sự lây lan dịch HIV/AIDS vào cộng
đồng, cũng như thực hiện công tác quản lý, chăm sóc và hỗ trợ, điều trị người
nhiễm HIV/AIDS đặt hiệu quả tốt hơn và làm cho cuộc đời của những người
nhiễm HIV/AIDS được sống lâu hơn, khoẻ mạnh hơn [7], [10].
Đứng trước thực trạng số người nhiễm HIV/AIDS mới vẫn tiếp tục có xu
hướng gia tăng, trong khi đó số người chuyển sang giai đoạn AIDS ngày càng
nhiều đòi hỏi tỉnh Bắc Giang có những giải pháp cụ thể đối với nhóm này nhằm
hạn chế tác động đến kinh tế – xã hội do HIV/AIDS gây ra. Những giải pháp này
đã được thể hiện trong “Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” với nội dung: phát triển hệ thống chăm sóc, hỗ
trợ toàn diện: tăng cường khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ cho
người nhiễm HIV/AIDS và phát huy tính chủ động tham gia của người nhiễm
HIV/AIDS và chống phân biệt đối xử.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
21
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu:
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả tiến cứu
2.3.2. Mẫu nghiên cứu:
* Cỡ mẫu: Cỡ mẫu toàn bộ gồm 360 người
* Phương pháp chọn mẫu:
- Chọn địa điểm nghiên cứu: Chọn chủ đích phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Bắc Giang
- Chọn đối tượng nghiên cứu (người nhiễm HIV/AIDS): Vì số đối tượng điều trị
ngoại trú tại phòng khám tương ứng với cỡ mẫu nghiên cứu nên tiến hành chọn
toàn bộ số đối tượng hiện có tại địa điểm nghiên cứu. Như vậy cỡ mẫu n = 360.
2.3.3. Biến số nghiên cứu
* Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Tỷ lệ người nhiễm theo tuổi, giới,
nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS của NN
HIV/AIDS
* Đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm HIV/AIDS:
- Tỷ lệ sử dụng ma tuý của NN HIV/AIDS
- Tình hình tiêm chích ở gái mại dâm
- Tỷ lệ tiếp xúc bạn tình của NN HIV/AIDS
- Số lần QHTD qua các loại bạn tình
- Tỷ lệ dùng BCS khi quan hệ tình dục
- Tỷ lệ sinh con và ý định sinh con sau nhiễm HIV
* Sự quan tâm chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người NN
HIV/AIDS
- Thái độ gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS
- Thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS
- Thực trạng đơn vị hỗ trợ loại hỗ trợ cho NN HIV/AIDS
Phiếu được xây dựng với sự thống nhất cao của các chuyên gia về HIV/AIDS và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
23
chuyên gia về y tế công cộng. Phiếu được điều tra thử trước khi tiến hành triển
khai chính thức. Điều tra viên là các thạc sỹ, bác sỹ có nhiều kinh nghiệm về
HIV/AIDS của phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang và
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh, được tập huấn kỹ và làm thử trước khi
tiến hành chính thức.
- Sai số do số liệu: Số liệu được giám sát chặt chẽ trong quá trình điều tra, được
làm sạch ngay tại địa điểm điều tra. Số liệu được sắp xếp, xử lý và phiên giải bởi
chính chủ nhiệm đề tài.
2.3.6. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
- Đề tài chỉ nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm HIV/AIDS
và sự quan tâm chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người NN
HIV/AIDS, ngoài ra không nhằm bất cứ mục tiêu nào khác ảnh hưởng đến sức
khoẻ đối tượng nghiên cứu.
- Đề tài được tiến hành với sự đồng ý thống nhất của chính quyền và y tế các cấp
thuộc địa bàn điều tra của tỉnh Bắc Giang.
- Đề tài được tiến hành khi các đối tượng nghiên cứu đã được thông báo đầy đủ
về mục đích của nghiên cứu, đối tượng hoàn toàn tự nguyện và hợp tác tham gia
nghiên cứu. Đối tượng vắng mặt trong thời gian nghiên cứu, hoặc không thể
tham gia nghiên cứu sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu.
- Mọi thông tin cá nhân được đảm bảo bí mật tuyệt đối.
- Sau khi kết thúc phỏng vấn, đối tượng được tư vấn, cung cấp thông tin và giới
thiệu đến cơ quan có thể liên hệ khi có vấn đề nảy sinh.
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới các cơ quan chức năng địa phương
làm cơ sở để lập kế hoạch can thiệp cho các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ và điều
tuý, không phải là gái mại dâm và không mắc
BLTQĐTD
124
34,4
Tổng số
360
100,0
Nhận xét: Người nhiễm HIV/AIDS có sử dụng ma tuý chiếm cao nhất
(38,3%), tiếp theo là người nhiễm HIV/AIDS mắc bệnh lây truyền qua đường
tình dục chiếm 14,4%, người nhiễm HIV/AIDS có quan hệ tình dục với gái mại
dâm chiếm 12,8%. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS không nghiện chích ma tuý,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
25
không phải là gái mại dâm và không mắc BLTQĐTD chiếm 34,4%. Có thể
nhóm đối tượng này lây nhiễm từ vợ chồng và người yêu của họ
Bảng 3.2. Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo độ tuổi và giới tính (n =360)
Giới
Độ tuổi
Nam
Nữ
Tổng số
Số
lƣợng
64,8
78
53,1
216
60,0
40 – 49
19
8,9
5
3,4
24
6,7
> 50
3
1,4
1
0,7
4
1,1
Tổng số
213
59,2
147
40,8
360
100,0
Nhận xét: Tỷ lệ NN HIV/AIDS nhóm tuổi từ 30 – 39 là cao nhất (60,0%),
tiếp đến là nhóm 20 – 29 tuổi (31,9%); nhóm từ 40 trở lên là (6,7%); đặc biệt có
(0,3%) người nhiễm HIV/AIDS ở độ tuổi từ 15 – 19.