giải pháp tăng cường quan hệ đối tác công - tư trong cung ứng dịch vụ công ở việt nam hiện nay_3 - Pdf 25

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN MÔN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CÔNG- TƯ
TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: TS. Hoàng Mai
Học viên: Nguyễn Văn Nam
Lớp: Hành chính công 16M
Huế, 2013

Quan hệ Đối tác Công – Tư (PPP) được coi là một trong những công cụ hữu
hiệu để Nhà nước có được cơ sở hạ tầng cần thiết phục vụ lợi ích công và phát triển
kinh tế-xã hội. Tầm quan trọng của hình thức hợp tác này đã được khẳng định
không chỉ ở các nước châu Âu mà còn cả ở các nước ASEAN và nhiều nước khác
trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển PPP được xem là công cụ
cải cách quan trọng lĩnh vực quản lý công. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu
quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, sử dụng được kỹ năng,
công nghệ hiện đại và tính hiệu quả trong quản lý của khu vực tư nhân; buộc khu
vực nhà nước ngay từ đầu phải chú trọng vào đầu ra và lợi ích; đưa vốn tư nhân vào
và giúp giảm nhẹ gánh tài chính cho dự án; rủi ro được chia sẻ giữa các đối tác
khác nhau…
Trong thời gian đến, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA sẽ ngày
càng hạn chế do Việt Nam đã là nước được xếp hạng có thu nhập trung bình, điều
này dẫn đến việc thu hút ODA sẽ ngày càng khó khăn. Trong bối cảnh đó, PPP
được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng, phát triển cơ sợ
hạ tầng thông qua khai thác, tận dụng nguồn vốn của khu vực tư nhân và sự hợp tác
của nhà nước.
1.1. Dịch vụ công
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ công
Có rất nhiều quan điểm tiếp cận dịch vụ công (public service). Tựu trung bản
chất của dịch vụ công vẫn là « hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực
thi chức năng quản lí hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công

- Bên cạnh đó, hiện nay còn có luồng ý kiến cho rằng có loại thứ ba của dịch
vụ công, đó là dịch vụ hành chính công. Loại này liên quan đến hoạt động thực thi
pháp luật của các cơ quan nhà nước, cụ thể như các hoạt động thẩm định hồ sơ, ký
phê duyệt, tổ chức cho đăng ký, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép khai thác khoáng sản, trật tự an toàn xã
hội, hải quan, chứng thực
1.1.3 Xu hướng đổi mới cung ứng dịch vụ công
Với sức ép từ nhu cầu dịch vụ công thì vai trò cung ứng dịch vụ của các đối
tượng sẽ có sự thay đổi: chuyển từ sự độc quyền của Nhà nước sang hướng mở
rộng cung ứng các dịch vụ này ra ngoài khu vực nhà nước.
Điều này giúp giảm tải được gánh nặng cho Nhà nước và tạo điều kiện phát
huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy tính chủ động sáng
tạo và tích cực của khu vực tư nhân. Các tổ chức được nhận thầu cung ứng độc
quyền một loại dịch vụ công nào đó luôn có nguy cơ bị xóa bỏ hợp đồng nếu làm
ăn kém hiệu quả; tạo ra hiệu quả cung ứng dịch vụ công cao hơn. Điều này giúp tạo
ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển, đem lại sự thuận lợi cho người
dân trong việc thụ hưởng những chính sách công của Nhà nước.
Các thuật ngữ quen thuộc trong xu hướng đổi mới cung ứng dịch vụ công đó
là: tư nhân hoá (Privatization), sự tham gia của khu vực tư nhân
(Private Sector Participation/PSP) và gần đây là quan hệ đối tác công-tư (Public-
Private Partnership/PPP). Và mô hình mà xã hội đang tiến dần đến là mô hình quan
hệ đối tác công- tư PPP với quan hệ bình đẳng cùng chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và
rủi ro giữa chính quyền, bên cung ứng và cộng đồng tiêu dùng.
1.2. Mô hình hợp tác công - tư
1.2.1. Khái niệm và lợi ích của mô hình hợp tác công - tư
Trong hai thập kỷ qua, PPP đã trở thành một từ phổ biến cho các học giả và
nhà hoạch định chính sách trên thế giới. Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu định
nghĩa về PPP, tuy nhiên chưa có định nghĩa nào rõ ràng, thống nhất, tích cực. Chưa
có một định nghĩa riêng nào về PPP có thể giới thiệu về các nguồn lực hoặc khả
năng chuyên môn của khu vực tư nhân trong việc cung cấp và phân phối một cách

Rủi ro kinh
doanh
Thời gian
hoạt động
(năm)
Hợp đồng
dịch vụ
Nhà nước Nhà nước Nhà nước Nhà nước
Nhà nước
và tư nhân
1-2
Hợp đồng
quản lý
Nhà nước Nhà nước Nhà nước Nhà nước
Nhà nước
và tư nhân
3 - 5
Hợp đồng
cho thuê
Public Public Tư nhân
Nhà nước và
tư nhân
Tư nhân 8 - 15
Nhượng
quyền/
BOT
Public Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân 20 - 30
Bán/
BOO
Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân

Một số dự án hợp tác công - tư tiêu biểu ở nước ta : Khu đô thị Phú Mĩ
Hưng (1993) ; BOT nâng cấp đường câo tốc quốc lộ 1A An Sương-An Lạc ; BOT
mở rộng xa lộ Hà nội, BOO nước Kênh Đông, nước Thủ Đức ; BOT cầu Ông Thìn
dài 285m – Bình Chánh, cầu Bình Triệu II- Quận Bình Thạnh-Thủ Đức, cầu Phú
Mĩ, Rạch Chiếc …
Trong đó, có những dự án áp dụng mô hình hợp tác công - tư vô cùng thành
công. Như khu đô thị Phú Mĩ Hưng - mô hình đầu tiên áp dụng hình thức BOT đổi
đất lấy hạ tầng – đã thành công mang lợi ích cho cả hai. Nhà nước không những đã
thu được lợi ích tài chính từ dự án mà còn cơ sở hạ tầng gồm một mô hình đô thị
kiểu mẫu và đường sá hiện đại.
Tóm lại, theo thống kê cho thấy mô hình PPP tuy đã phổ biến ở Việt Nam
theo hình thức chủ yếu là BOO và BOT nhưng còn quá khiêm tốn và khi triển khai
cũng cần những điều kiện nhất định khác.
2.2. Những thuận lợi công và thách thức trong việc đổi mới cung ứng dịch vụ
công theo mô hình hợp tác công – tư tại Việt Nam hiện nay
2.1.1. Những thuận lợi trong việc áp dụng mô hình hợp tác công- tư
Với mô hình này chúng ta sẽ không cần phải khoảng vốn lớn ban đầu để xây
dựng các dự án, giảm gánh nặng ngân sách và nợ nước ngoài ngày càng tăng. Việc
cung cấp các dịch vụ của khu vực tư nhân do Chính phủ chi trả có thể làm thay đổi
gánh nặng kinh phí từ phương thức truyền thống thanh toán trước một khoản tiền
lớn sang một loạt các khoản thanh toán thường niên dễ quản lý và dự đoán trước
hơn trong suốt thời gian của dự án, tạo sự minh bạch trong chi tiêu. Điều này có
nghĩa là với cùng một lượng vốn nhà nước đầu tư, nếu như trước kia tập trung vào
xây dựng được một công trình thì nay có thể phát triển hai đến ba công trình tương
tự nhờ có phần vốn tham gia của tư nhân.
Các dự án theo hình thức PPP có kết quả tốt hơn. Sự tham gia của khu vực tư
nhân vào cung cấp dịch vụ môi trường có tiềm năng mang lại những lợi ích như:
thực hiện tốt hơn, tầm bao phủ rộng hơn và tính bền vững cao hơn nhờ vào hiệu
quả đạt được với năng lực quản lý, sự sáng tạo, khả năng định hướng theo yêu cầu
của khách hàng, khả năng thu hồi chi phí cao hơn và việc sử dụng kỹ thuật tiên tiến

quan phát triển dự án) và nhà đầu tư tư nhân trong việc chịu chi phí và rủi ro khi
phát triển dự án; quyền ưu tiên thực sự của các dự án được phát triển theo mô hình
PPP; thủ tục mua sắm phức tạp và lắt léo bao gồm cả việc ký kết những hợp đồng
qua thương lượng với các doanh nghiệp được ưu tiên thay vì một hệ thống đấu thầu
cạnh tranh cởi mở và minh bạch; các kỳ vọng và chỉ tiêu không thực tế về bù đắp
chi phí và tỷ suất lợi nhuận trong các dự án PPP, đặc biệt là cách thức ấn định và
điều chỉnh mức giá và lệ phí mà người sử dụng phải trả; Tài trợ cho dự án: các quy
định chặt chẽ quá mức về dự trữ và quy đổi ngoại hối, và chuyển ngoại tệ; không rõ
ràng về vấn đề bảo đảm nợ vay và quyền được can thiệp của người cho vay trong
trường hợp chậm trả nợ hoặc khi dự án hoạt động yếu kém; PPP ngụ ý Nhà nước
mất kiểm soát quản lý và vì vậy dẫn đến sự khó chấp thuận trên giác độ chính trị.
3. Các giải pháp tăng cường quan hệ đối tác công- tư trong cung ứng dịch vụ
công ở việt nam hiện nay
Để có thể tăng cường quan hệ cũng như hiệu quả của đối tác công- tư trong
cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, thì cần tiến hành nhiều giải pháp đồng
bộ khu vực tư nhân và Nhà nước. Trong khuôn khổ tiểu luận, xin được đề xuất các
giải pháp mang tính căn bản trong hoạt động quản lý nhà nước cần thiết phải thực
hiện trong thời gian tới nhằm đạt được mục tiêu trên
3.1. Xây dưng khuôn khổ pháp lý, chính sách hỗ trợ cho dư án PPP
Điều kiện tiên quyết đối với triển khai mọi mối quan hệ đối tác đó là an toàn
pháp lý. Song song với các hoạt động triển khai thí điểm PPP, Chính phủ cần tiến
hành nghiên cứu để sớm hoàn thành khung pháp lý về PPP, đảm bảo sự rõ ràng về
vai trò của Chính phủ, thời hạn chuyển giao, quyền sở hữu dự án tài sản, quy chế
ký kết hợp đồng, đấu thầu cạnh tranh, quy chế thanh toán và quản lý phí dịch vụ,…
trong các dự án PPP; giải quyết được các mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật
hiện hànhXây dựng môi trường pháp lý, quy định và chính sách thuận lợi là yếu tố
quan ữọng cho một quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân bền vững.
Đồng thời, cũng cần có một số linh hoạt để sửa đổi và cập nhật cần thiết khi
lĩnh vực liên quan dự án có sự thay đổi. Khi việc phân quyền đang ngày càng được
triển khai sâu rộng, các chính phủ có thêm nhiệm vụ cần phải xác định mỗi vai trò

công được đảm bảo do gắn với lợi ích trực tiếp của nhà đầu tư trong việc khai thác
và vận hành công trình;
- Tận dụng được kinh nghiệm của tư nhân về quản lý, kinh doanh hiệu quả,
ứng dụng khoa học công nghệ (chuyển giao khoa học công nghệ), tiết kiệm chi phí
trong xây dựng, bảo dưỡng và vận hành của khu vực tư nhân;
- Chuyển gánh nặng thanh toán từ người chịu thuế sang người tiêu dùng;
- Tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà đầu tư, giảm gánh
nặng ngân sách và nợ nước ngoài ngày càng tăng.
- Được sự ủng hộ của Chính phủ về chủ trương áp dụng thử nghiệm hình
thức hợp tác nhà nước tư nhân.
Do vậy chúng ta cần phải nghiên cứu để sớm hoàn thành khung pháp lý về
PPP, tạo môi trường thuận lợi cho mô hình PPP phát triển, thành lập một cơ quan
quản lý nhà nước về PPP có đủ năng lực thực hiện đàm phát ký kết các hợp đồng
PPP, hỗ trợ địa phương hay giải quyết các vướng mắc liên quan.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status