Một số giải pháp tăng cường quan hệ đối tác công tư trong cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam TIỂU LUẬN MÔN HỌC PHÂN CẤP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC - Pdf 24

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: PHÂN CẤP QUẢN LÝ HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC
ĐỀ TÀI:
Một số giải pháp tăng cường quan hệ đối tác công tư
trong cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam
Học viên: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Lớp Cao học Hành chính công 16M

Huế, năm 2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG CHƯƠNG I: XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG VÀ QUAN HỆ
HỢP TÁC CÔNG TƯ - CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2. Quan hệ hợp tác công tư: 2
2.1. Khái niệm: 2
1.2. Lợi ích của mối quan hệ hợp tác công tư đối với nhà nước và đối với tư
nhân 3
1.3. Đặc điểm của của quan hệ đối tác công tư 3
1.4. Các hình thức của PPP ( Bảng 1) 4
1.5. Quan điểm của Đảng và nhà nước về quá trình hình thành các khái niệm xã
hội hóa và quan hệ đối tác công-tư ở Việt Nam 7
1.6. Những định hướng cơ bản: 10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI PPP Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY 10
2.1. Thực trạng 10
2.2. Những thuận lợi và hạn chế khi thực hiện dự án PPP 12
2.2.1. Thuận lợi của PPP 12

nhà hoạch định chính sách về việc tiếp cận và thực hiện một số giải pháp tăng
cường quan hệ hợp tác công tư ở Việt Nam theo mô hình hình thức hợp tác công
tư (PPP), một hình thức phân cấp quản lý nhà nước mới ở Việt Nam hiện nay.
Nội dung bài tiểu luận này sẽ tập trung nghiên cứu kỹ về cơ sở lý luận về hình
thức PPP , tìm hiểu thực trạng triền khai PPP hiện nay. Từ đó mạnh dạn đưa ra
một số giải pháp nhằm tăng cường quan hệ hợp tác công tư trong cung ứng
dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay.
1
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG VÀ QUAN HỆ HỢP
TÁC CÔNG TƯ - CƠ SỞ LÝ LUẬN
2. Quan hệ hợp tác công tư:
2.1. Khái niệm:
Có nhiều cách hiểu về mối quan hệ của PPP:
(1) Darrin Grimsey và Mervin K. Lewis thì đưa ra định nghĩa là “một mối
quan hệ chia sẻ rủi ro dựa trên nguyện vọng của khu vực công với một hoặc
nhiều đối tác thuộc khu vực tư nhân hay thiện nguyện cùng chia sẻ việc cung
ứng một đầu ra (outcome) và/hoặc dịch vụ công cộng được thỏa thuận công
khai.”(1)
(2) Từ điển Bách khoa mở Wikipedia lại mô tả đó là: “một dịch vụ của
chính quyền hay thương vụ tư nhân được cấp vốn và vận hành thông qua quan
hệ đối tác giữa chính quyền với một hoặc nhiều công ty thuộc khu vực tư nhân,
thể hiện bằng một hợp đồng giữa hai bên, trong đó bên tư nhân cung ứng dịch
vụ công/dự án và đảm nhiệm rủi ro về tài chính, kỹ thuật và vận hành.”
(3) Ở nước ta, trong Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư
vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo quyết định 71/2010, PPP được
định nghĩa là “việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát
triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án”.
Quy chế nêu rõ “tổng hợp các hình thức tham gia của Nhà nước bao gồm:
Vốn Nhà nước, các ưu đãi đầu tư, các chính sách tài chính có liên quan, được

Nâng cao tính minh bạch và phòng chống tham nhũng
Đối với tư nhận Có công việc ổn định, có ý nghĩa
1.3. Đặc điểm của của quan hệ đối tác công tư
Thuật ngữ PPP miêu tả một loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ
chức nhà nước và tổ chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và dịch
vụ khác . Một số thuật ngữ có thể được sư dụng để miêu tả dạng hoạt động này
là sự tham gia của khu vục tư nhân và tư nhân hóa
Mối quan hệ này bao gồm những đặc điểm sau:
Mối quan hệ hợp tác công tư thể hiện khuôn khổ có sự tham gia của khu vực
tư nhân nhưng vẫn ghi nhận và thiết lập vai trò của Chính phủ đảm bảo đáp ứng
các nghĩa vụ xã hội và đạt được thành công trong cải cách của khu vực Nhà
nước và đầu tư công.
Một số quan hệ hợp tác công - tư chặt chẽ phân định một cách hợp lý các
nhiệm vụ, nghĩa vụ và rủi ro mà mỗi đối tác nhà nước và đối tác tư nhân phải
gánh vác. Đối tác nhà nước trong mối quan hệ hợp tác công tư là các tổ chức
chính phủ , bao gồm các bộ ngành , các chính quyền địa phương hoặc các doanh
nghiệp Nhà nước. Đối tác tư nhân có thể là đối tác trong nước hoặc đối tác nước
ngoài, và có thể là doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư có chuyên môn về tài
chính hoặc kỹ thuật liên quan đến dự án.Mối quan hệ đối tác Nhà nước – tư
nhân cũng có thể bao gồm các tổ chức phi Chính phủ hoặc tổ chức cộng đồng
đại diện cho những tổ chức và cái nhân mà dự án có thể tác động rực tiếp.
Mối quan hệ hợp tác công – tư hiệu quả ghi nhận rằng khu vực Nhà nước và
khu vực tư nhân có những lợi thế tương đối nhất định so với khu vực còn lại khi
thực hiện những nhiệm vụ cụ thể. Đóng góp của Chính phủ cho mối quan hệ đối
tác Nhà nước – Tư nhân có thể dưới dạng vốn đầu tư, chuyển giao tài sản, hoặc
các đóng góp hiện vật khác hỗ trợ cho mối quan hệ đối tác này. Chính phủ cũng
góp phần trong các yếu tố về trách nhiệm xã hội, ý thức thức môi trường, kiến
thức bản địa và khả năng huy động sự ủng hộ chính trị. Vai trò của khu vực tư
nhân trong mối quan hệ đối tác là sử dụng chuyên môn về thương mại, quản lý,
điều hành và sáng tạo của mình để vận hành hoạt động kinh doanh một cách

+Hợp đông thầu hoặc cho thuê: Theo hợp đồng cho thuê , đối tác tư nhân chịu
trách nhiệm về toàn bộ dịch vụ và thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến chất
lượng và tiêu chuẩn của dịch vụ. Ngoại trừ các khoản đầu tư mới và đầu tư thay
thế thuộc trách nhiệm về cơ quan nhà nước, nhà điều hành có trách nhiệm cung
cấp dịch vụ với chi phí và rủi ro do mình gánh chịu.Theo hợp đồng này, trách
nhiệm cung cấp dịch vụ được chuyển từ khu vực nhà nước sang khu vực tư
nhân và rủi ro tài chính đối với việc điều hành và duy trì dịch vụ hoàn toàn do
nhà điều hành tư nhân gánh chịu. Việc cho thuê không bao gồm việc bán bất cứ
tài sản nào cho khu vực tư nhân.
Hệ thống ban đầu được thiết lập trên nguồn tài chính của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền và được ký hợp đồng giao cho công ty tư nhân điều hành và duy
4
trì hệ thống. Một phần chi phí dịch vụ được chuyển cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để thanh toán các khoản vay tài trợ cho việc mở rộng hệ thống
Hợp đồng giao thầu khác với hợp đồng cho thuê ở chỗ cho phép khu vực tư
nhân thu từ khách hàng thanh toán cho nhà nước có thẩm quyền ký hợp đồng
giao thầu một khoản phí giao thầu cụ thể và giữ lại khoản doanh thu còn lại.
Phí giao thầu thường được tính theo một tỷ lệ thỏa thuận trong mỗi đơn vị dịch
vụ được bán ra.
+Nhượng quyền:Hoạt động nhượng quyền cho phép nhà điều hành tư
nhân( người được nhượng quyền ) chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ dịch vụ
trong khu vực cụ thể, bao gồm điều hành, duy tu bào dưỡng, thu phí, quản lý,
xây dựng và tu bổ hệ thống. Đặc biệt là nhà điều hành tư nhân chịu trách nhiệm
đối với toàn bộ các khoản đầu tư
Mặc dù nhà điều hành tư nhân chịu trách nhiệm cung cấp các tài sản này
vẫn thuộc sở hữu của Khu vực nhà nước( cả trong thời gian chuyển nhượng
quyền). Khu vực nhà nước chịu trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn hoạt động
và đảm bảo rằng người được nhượng quyền đáp ứng được các tiêu chuẩn này.
Và vai trò của khu vực nhà nước chuyển từ việc cung cấp dịch vụ sang một
người điều tiết , quản lý giá và chất lượng dịch vụ.

điều hành cơ sở dịch vụ mà không chuyển lại quyền sở hữu cho khu vực Nhà
ước. Theo một hợp đồng thết kế -xây dựng- kinh doanh( DBO) sở hữu không
khi nào nằm trong tay tư nhân. Thay vào đó, một hợp đồng được lập ra cho việc
thiết kế, xây dựng và điều hành dự án cơ sở hạ tầng.
Các hợp đồng thiết kế-xây dựng- cấp vốn- kinh doanh(DBFO) Design- Build
- Finance - Operate), khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành
công trình nhưng nó vẫn thuộc sở hữu nhà nước. Với cách tiếp cận DBFO trách
nhiệm thiết kế, xây dựng cấp vốn, điều hành được gói cùng với nhau và được
chuyển cho các đối tác tư nhân. Các thảo thuận DBFO khác nhau rất nhiều về
mức độ trách nhiệm tài chính được chuyển giao cho đối tác tư nhân.
+ Liên doanh
Liên doanh là phương án thay thế cho việc tư nhân hoá toàn bộ, theo đó
cơ sở hạ tầng được sở hữu và điều hành bởi khu vực Nhà nước và nhà điều hành
tư nhân. Trong một liên doanh, các đối tác nhà nước và tư nhân có thể thành lập
một công ty mới hoặc thực hiện việc liên doanh sở hữu trong một công ty hiện
có ( qua việc bán cổ phần). Một yêu cầu chủ chốt cho cấu trúc này là có một môi
trường quản trị công ty tốt, đặc biệt khả năng của công ty trong việc duy trì độc
lập với chính phủ. Trong hình thức này, đối tác tư nhân sẽ đảm nhiệm vai trò
điều hành và một giám đốc thường được xây dựng dựa trên tỷ lệ phần vốn góp
hoặc dựa trên năng lực và trình độ.
Quan trọng hơn trong cơ cấu liên doanh , cả đối tác nhà nước và tư nhân phải
sắn sàng đầu tư vào công ty và cùng chia sẻ những rủi ro nhất định.
Bảng1: Các hình thức hợp tác công tư
Hình thức Thời gian Quyền sở
hữu
Vốn đầu tư Rủi ro Vận hành
và bảo trì
Hợp đồng
dịch vụ
1-2 Nhà nước Nhà nước Nhà nước Nhà nước

vậy, đến Báo cáo tổng kết Chương trình khoa học-công nghệ cấp nhà nước
(KC11) về “Nâng cao hiệu quả quản lý và xây dựng đô thị” (1991-1995) của Bộ
Xây dựng thì đã nêu lên vấn đề “xóa bỏ bao cấp trong dịch vụ công cộng đô
thị, thu hút nguồn lực tài chính của Nhà nước, của bản thân đô thị, nguồn vốn
vay của các tổ chức tài chính quốc tế, nguồn vốn viện trợ của các chính phủ,
vốn đầu tư của nước ngoài và thu hút sự tham gia của tư nhân và cộng đồng
dân cư”. Thế nhưng mới dừng lại ở kết quả nghiên cứu mà thôi.
Về đường lối của Đảng thì Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) chưa
đề cập rõ ràng và nhất quán đến PPP. Trong khi nhấn mạnh “ tập trung nguồn
lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu
như kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội…”(tr.93) thì cũng đưa ra chủ trương “cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực…,
không phải để tư nhân hóa” (tr.94), “đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho
các hoạt động khoa học và công nghệ” (tr.107),”thu hút nguồn đầu tư từ các
cộng đồng, các giới, trong và ngoài nước cho giáo dục, đào tạo” (tr.110). Thực
hiện chủ trương này, tháng 3/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 06 về việc
hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khám chữa bệnh, giáo dục đào
tạo, nghiên cứu khoa học.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thừ IX (2001) đã đề cập cụ thể hơn đến “tạo
điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào
xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội…” (tr.99), “các chính sách
xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa”(tr.108), và “thực hiện chủ
trương xã hội hóa giáo dục”(tr.111). Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã
hội đến năm 2000 cũng đề cập đến “các doanh nghiệp và nhân dân … góp phần
cùng Nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và công trình phúc lợi”
(tr.31).
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X (2006) tiến thêm một bước, nhấn mạnh “
doanh nghiệp cổ phần…thúc đẩy xã hội hóa sản xuất, kinh doanh và sở hữu”
(tr.83), “huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng đồng bộ kết
cấu hạ tầng kinh tế-xã hội,…hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các đô thị lớn,

Qua việc trích dẫn nói trên có thể thấy ở nước ta có nhiều cách gọi việc tư
nhân tham gia vào lĩnh vực hạ tầng và cung ứng dịch vụ công cộng như:
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước;
- Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư;
- Thu hút nguồn đầu tư;
- Hợp tác đầu tư với nước ngoài;
- Các doanh nghiệp và nhân dân cùng góp phần;
- Xã hội hóa;
- Các thành phần kinh tế tham gia phát triển lĩnh vực kết cấu hạ tầng;
- Đầu tư theo quan hệ đối tác công-tư.
Chủ trương xã hội hóa được nêu ra chủ yếu cho các ngành giáo dục đào tạo
và y tế, mở rộng cho khoa học công nghệ, văn hóa và thể dục, thể thao. Đối với
dịch vụ hạ tầng kỹ thuật thì nhấn mạnh đến sự tham gia đầu tư, hình thức đối tác
công-tư.
Như vậy, trong nội dung vủa bài tiều luận này đề tài nghiên cứu này thì
nghiên cứu chủ trương xã hội hóa dịch vụ công cộng đô thị với 5 ngành dịch vụ
cụ thể đã nêu, chính là nghiên cứu áp dụng phương thức quan hệ đối tác công-
tư vào các ngành dịch vụ công cộng đó.
8
1.6. Những định hướng cơ bản:
 Hợp tác công tư phải được coi là giải pháp chủ yếu để cải thiện chất
lượng cung ứng dịch vụ công ở nước ta và trong tương lai đối với các lĩnh vực
đầu tư được khuyến khích là:
a) Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ;
b) Đường sắt, cầu đường sắt, hầm đường sắt:
c) Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông;
d) Hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom,
xử lý nước thải, rác thải;
đ) Nhà máy điện, đường dây tải điện:
e) Các công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa,

Đặc biệt là sau khi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành Quy
chế Thí điểm đầu tư theo hình thức PPP được ban hành và chính thức có hiệu
lực từ ngày15/1/2011. Điều này đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư trong và
ngoài nước đang dồn vào mô hình hợp tác nhà nước và tư nhân (PPP).
Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông Vận tải thực hiện thí điểm mô hình
PPP ở dự án đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết và hiện nay Bộ Giao thông
Vận tải đã thành lập tổ công tác liên ngành với sự tham gia của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để triển khai dưới sự hỗ trợ của
Ngân hàng Thế giới (WB).
Bảng 2: Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài năm 2010 theo hình thức
(Tính từ 01/01/2010 đến 21/12/2010)
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài
Tuy mô hình này đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu nhưng hành lang pháp lý
của chúng ta chưa hoàn thiện, còn thiếu đồng bộ. Ông Ben Darche - Tư vấn
quốc tế về PPP - cho biết: Kinh nghiệm thực hiện PPP của nhiều nước trên thế
giới cho thấy, việc các luật thiếu thống nhất, thiếu các văn bản hướng dẫn thực
hiện thỏa đáng là những yếu tố góp phần làm các dự án PPP thất bại. Phải đặc
biệt quan tâm đến các quy định về trách nhiệm tài chính đối với hỗ trợ tài chính
của Chính phủ, cơ chế lãi suất, cũng như quy định rõ cơ quan nhà nước chịu
trách nhiệm thực hiện các dự án PPP. Ngoài ra, vấn đề tiên quyết đối với việc
huy động các nhà đầu tư thực hiện mô hình PPP chính là cơ hội tìm kiếm lợi
nhuận từ các dự án. nhưng một số doanh nghiệp còn băn khoăn về ràng buộc
bảo lãnh vốn vay của Chính phủ và tỷ lệ góp vốn 30-70 trong một dự án PPP.
Mới đây nhất chính là Văn bản số 1482/TTg-KTN, ngày 9.9.2008 của
Thủ tướng Chính phủ đã giao Tập đoàn Bitexco lập dự án đầu tư dự án đường
cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết - với tổng mức kinh phí lên tới 14.355 tỉ đồng,
10
thời gian thi công 36 tháng theo mô hình PPP. Đây là cũng là dự án trọng điểm
nằm trong hệ thống đường cao tốc Bắc - Nam, có tổng chiều dài 100km. Thiết
kế đường cao tốc này thuộc loại A, vận tốc thiết kế 120km/h, mặt cắt ngang

- PPP ngụ ý việc khu vực công cộng mất quyền kiểm soát quản lý và vì vậy
khó có thể chấp nhận trên góc độ chính trị. Liệu khu vực công có đủ năng lực và
kỹ năng để áp dụng phương pháp PPP và thiết lập môi trường pháp lý để khuyến
khích thích đáng không? Liệu khu vực tư nhân có đủ năng lực chuyên môn để
đảm bảo thực hiện PPP không? Không thể chuyển giao rủi ro tuyệt đối.
- PPP đòi hỏi nguồn vốn lớn nhưng thu hồi lợi nhuận lâu dài, do vậy các
nhà đầu tư phải cân nhắc khi tham gia hợp tác.
-Năng lực đàm phán, ký kết hợp đồng của cơ quan Nhà nước còn hạn chế,
dẫn đến sự chậm trễ trong triển khai dự án, làm nản lòng nhà đầu tư, hoặc không
kiểm soát chất lượng, tiến độ của dự án;
11
- Năng lực của các doanh nghiệp hợp tác tư nhân trong nước vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu của hợp đồng hợp tác công tư, nhất là với dự án lớn, đòi hỏi
nguồn vốn đầu tư lớn và kỹ thuật cao
- Khung pháp lý để triển khai hợp tác công tư mặc dù đã được triển khai
xây dựng và ngày càng hoàn thiện nhưng vẫn chưa đủ, chưa tạo được niềm tin
để thu hút sự hợp tác của tư nhân.Nhận thức về hợp tác công tư của các cơ
quan nhà nước và TN vẫn còn rất hạn chế, khó đi đến sự đồng thuận và do đó
ảnh hưởng đến sự liên kết.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ
ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mô hình hợp tác công tư (PPP) trong việc đầu tư nâng cao chất lượng các
dịch vụ công được coi là hướng đi đúng đắn của Việt Nam trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, không nên được nhìn nhận như một “hạt đậu thần” và để mô hình
này có thể thực sự hoàn thiện và đem lại lợi ích như mong muốn rất cần có
những phương pháp tiếp cận PPP phù hợp nhằm đạt được những kết quả về cơ
sở hạ tầng tôt hơn. Chúng tôi cho rằng cần có một số biện pháp đồng bộ khi áp
dụng hình thức PPP vào Việt Nam để có hiệu quả:
Thứ nhất là xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác công

phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công đối với từng loại hình dịch vụ, từng
khu vực, địa bàn, tạo điều kiện cho việc phát triển PPP của các thành phần kinh
tế không bị mất cân đối và phát triển đúng hướng, theo đúng quy hoạch của nhà
nước.
Nhà nước xây dựng và công bố rõ ràng các điều kiện thành lập các cơ sở
cung cấp dịch vụ công; ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn về chất lượng cung cấp
dịch vụ công và các chế tài bắt buộc tất cả các đơn vị cung cấp dịch vụ công
phải thực hiện theo đúng tiêu chuẩn chất lượng quy định.
Xây dựng cơ chế, tổ chức và biện pháp để giám sát, thanh tra, kiểm tra việc bảo
đảm chất lượng cung cấp dịch vụ công theo tiêu chí, chuẩn mực do nhà nước
quy định.
Phối hợp chặt chẽ giữa các cán bộ ngành , địa phương với các nhà đầu tư trong
và ngoài nước.
Thứ năm, tăng cường năng lực cán bộ tham gia dự án PPP.
Hiện nay khu vực công của Việt Nam vẫn chưa đủ năng lực và kỹ năng để áp
dụng phương pháp PPP. Ở khu vực tư nhân chỉ có một số rất nhỏ doanh nghiệp
có đủ năng lực chuyên môn để đảm bảo thực hiện PPP. Do vậy đây là một vấn
đề mà nhà bước cần phải quan tâm , hỗ trợ
Thứ sáu, khuyến khích phát triển PPP ở quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư ít.
Theo định hướng của Đảng và nhà nước ta, mô hình PPP được khuyến
khích triển khai đối với dịch vụ hạ tầng kỹ thuật như:
a) Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ;
b) Đường sắt, cầu đường sắt, hầm đường sắt:
c) Cảng hàng không, cảng biển, cảng sông;
d) Hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom,
xử lý nước thải, rác thải;
đ) Nhà máy điện, đường dây tải điện:
e) Các công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa,
thể thao và trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
Các loại hình dich vụ trên đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nếu không chúng ta thiếu

4. TS. Phạm sĩ Liêm, Khía niệm tư nhân hóa xã hội hóa và quan hệ đối tác công
tư (PPP) Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013 tại địa chỉ :

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status