MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) có
vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế ở nước
ta, góp phần không nhỏ đối với việc tăng trưởng kinh tế, ngoài việc cung cấp
các sản phẩm hàng hóa cho nhu cầu thị trường còn xuất khẩu nhiều mặt hàng
sang các nước trong khu vực và trên thế giới như: hàng thủ công mỹ nghệ, đồ
gỗ cao cấp, hàng nông lâm sản như hạt tiêu, hạt điều, thủy sản đông lạnh. Vì
thế, phát triển DNV&N đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất coi trọng,
được coi là một trong những nhiệm vụ trong chiến lược phát triển kinh tế- xã
hội. Các DNV&N đang ngày càng có vai trò quan trọng và trở thành động lực
phát triển kinh tế. Đặc biệt là khi nước ta bước vào hội nhập từ một nền kinh
tế chưa phát triển.
Nghiên cứu về mối quan hệ tín dụng với ngân hàng, các DNV&N được
coi là nhóm khách hàng có nhiều lợi thế của các tổ chức tín dụng, là bạn hàng
cùng kinh doanh giữa một bên là sản xuất hàng hóa, kinh doanh thương mại
và dịch vụ, và một bên là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Nhưng việc đầu tư cho loại hình doanh nghiệp này thường có độ rủi ro cao và
chi phí giao dịch lớn. Do vậy các ngân hàng vẫn nhìn nhận DNV&N là khách
hàng có nhiều rủi ro nên họ rất thận trọng trong cho vay. Mặt khác, trong
những năm gần đây, cùng với sự ra tăng về số lượng của các DNV&N là xu
hướng mở rộng đầu tư tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này của các
ngân hàng. Do đó hoạt động quản lý tín dụng cũng cần phải được tăng cường,
đổi mới về phương pháp nhằm phòng tránh những rủi ro không đáng có, tránh
thiệt hại cho ngân hàng.
Vì lý do đó, em đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp tăng cường quản
lý hoạt động cho vay đối với DNV&N tại ngân hàng Công Thương
( NHCT) chi nhánh tỉnh Hà Tây”.
của các cô chú, anh chị tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây đã
giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian thực tập vừa qua.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
1.1.1.Đặc điểm, vai trò của DN&VN trong sự phát triển kinh tế quốc gia.
1.1.1.1.Khái niệm DNV&N.
Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là một tổ chức kinh
tế được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ
trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp
cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau.Tuy nhiên để thuận lợi cho việc
quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển người ta thường phân chia các
doanh nghiệp thành các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong đó có doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Ở hầu hết các nước, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển thì
việc đầu tư phát triển các DNV&N đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt.
Sự thành đạt về kinh tế- xã hội của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự phát
triển của các doanh nghiệp, trong khi đó các doanh nghiệp có quy mô vừa và
nhỏ lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị
trường. Tuy nhiên, theo điều kiện của từng quốc gia, từng loại hình sản phẩm
và ý đồ chính sách, khả năng hỗ trợ của từng chính phủ ở từng thời kỳ…mà
có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về DN&VN. Trong thực tế, việc xác
định DNV&N của một nước thường được cân nhắc đối với từng giai đoạn
phát triển kinh tế -xã hội, tình hình việc làm nói chung trong cả nước và tính
chất phát triển kinh tế hiện hành của nước đó. Như vậy, việc xác định doanh
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định số 02/2000 NĐ-CP
ngày 3 tháng 2 năm 2000 của Chính Phủ về đăng ký kinh doanh.
1.1.1.2.Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế.
Tuy có nhiều tiêu chí, cách xác định, đánh giá khác nhau trong các nước
song tất cả đều cho rằng DNV&N là xương sống của nền kinh tế, có vị trí và
vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đối với việc thực hiện các
mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của Quốc gia. Ở nước ta, qua mười năm
đổi mới, nền kinh tế đã thu được những thành tựu đáng khích lệ, trong đó sự
đóng góp của DNV&N là đáng kể, các doanh nghiệp này có vai trò hết sức
quan trọng đối với việc ổn định phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là đối với
sự phát triển kinh tế địa phương.
a.Cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế.
Các DNV&N có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế, góp
phần làm tăng thu nhập quốc dân. Theo đánh giá của viện nghiên cứu quản lý
kinh tế TƯ thì hiện nay khu vực DNV&N của cả nước chiếm khoảng 25% -
26% GDP. Năm 1993, các DNV&N đã tạo ra được khoảng 25% giá trị tổng
sản lượng ngành công nghiệp và 54% giá trị công nghiệp địa phương, tăng
11% so với năm 1992 và tăng 63% so với năm 1990. Tổng mức bán lẻ hàng
hóa đạt hơn 29.000 tỷ đồng, bằng 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận
chuyển hàng hóa. Trong nhiều nghành nghề như gỗ xẻ, chiếu cói, giầy dép…
DNV&N sản xuất 100% sản phẩm. Nhiều nghành nghề truyền thống được
khôi phục và phát triển đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu.
Hiện nay, các DNV&N chiếm khoảng 90% tổng số hơn 230.000 doanh
nghiệp trên toàn quốc. Tỷ trọng GDP cung cấp cho nền kinh tế của các
DNV&N có xu hướng ngày càng tăng lên. Nếu năm 1999 tỷ trọng GDP của
các DNV&N chỉ chiếm 8,01%, năm 2002 chiếm 9,02%, đến năm 2004 tỷ lệ
triệu lao động. Năm 2002, cả nước tạo ra được 1,42 triệu việc làm mới thì
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thu hút được 79,1% tổng số việc làm.
Hàng năm khu vực doanh nghiệp này thu hút hàng chục vạn lao động, góp
phần giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước. Theo số liệu ước tính năm
2006 khu vực DNV&N tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông
thôn và chiếm khoảng 25%-26% lực lượng lao động trong cả nước. Tuy
nhiên, do khu vực sản xuất nông nghiệp ỏ nông thôn vẫn chiềm một tỷ trọng
lớn trong toàn bộ nền kinh tế nên xem xét tổng thể thì tổng số lao trong các
DNV&N chiếm tỷ trọng chưa cao trong tổng số lao động xã hội hiện nay.
Đặc điểm của nước ta là một nước là một nước nông nghiệp, năng suất
sản xuất cũng như thu nhập của dân cư thấp. Việc phát triển các DNV&N ở
thành thị cũng như ở nông thôn là phương hướng cơ bản nhằm tăng nhanh
năng suất, tăng nhanh thu nhập, và đa dạng hóa thu nhập của dân cư. Kết quả
điều tra cho thấy tại những vùng có doanh nghiệp phát triển thì thu nhập gấp 4
lần thu nhập của dân cư tại những vùng thuần nông nghiệp. Điều quan trọng
là thu nhập của dân cư được đa dạng hóa vừa có ý nghĩa nâng cao mức sống
dân cư, vừa làm cho cuộc sống giảm bớt rủi ro hơn nhất là tại những vùng
thiên tai.
c.Thu hút vốn đầu tư trong nền kinh tế.
Vốn là một nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò rất quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng
doanh nghiệp. Nhờ có vốn mới kết hợp được các yếu tố lao động, đất đai,
công nghệ và quản lý. Thực tế cho thấy, để đầu tư cho một chỗ làm ở Việt
Nam, trung bình phải mất 5-10 triệu đồng. Tuy nhiên một nghịch lý hiện nay
là các doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng, trong khi đó vốn trong dân còn tiềm
ẩn nhưng huy động được chưa nhiều. Có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là
do môi trường đầu tư không ổn định và không được thuận lợi. Trong tình hình
lên đến gần 190.000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký trên 398.000 tỷ
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đồng.Riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm tới 52% số doanh
nghiệp thành lập mới với 50% tổng số vốn đăng ký so với cả nước.
d.Hoạt động của các DNV&N góp phần làm cho nền kinh tế năng động,
đạt hiệu quả kinh tế cao.
Vì số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày một tăng lên, làm tăng
tính cạnh tranh, giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế, đồng thời làm tăng
số lượng và chủng loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Mặt khác, các
doanh nghiệp này có khả năng thay đổi về mặt hàng, công nghệ, và chuyển
hướng kinh doanh nhanh làm cho nền kinh tế năng động hơn. Sự có mặt của
các DNV&N có tác dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh có
hiệu quả hơn: làm đại lý, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, giúp tiêu thụ
hàng hóa và cung cấp các đầu vào, thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị trường
mà doanh nghiệp lớn không vào được.
Mặt khác, vốn của các DNV&N, trong phần lớn là của khu vực kinh tế
tư nhân chủ yếu chỉ đầu tư vào những ngành nghề có hiệu quả kinh tế cao. Vì
thế sự gia tăng các cơ sở này sẽ làm cho hiệu quả kinh tế của đất nước tăng
nhanh. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ thì thì hiệu quả kinh
tế khó tăng nhanh được.
e.Khai thác tiềm năng phong phú trong dân và có khả năng tận dụng các
nguồn lực xã hội.
Có rất nhiều tiềm năng trong dân cư chưa được khai thác triệt để như: trí
tuệ, lao động, vốn, bí quyết tay nghề, điều kiện tự nhiên, …Việc phát triển các
doanh nghiệp sản xuất, các ngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay
là một trong những hướng quan trọng để xử dụng tay nghề tinh xảo, thu hút
lao động trong nông thôn, phát huy lợi thế của từng vùng.
Về tiềm năng vốn, các DNV&N thường bắt đầu bằng nguồn vốn ít ỏi,
kinh doanh có hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Cơ cấu ngành: phát triển nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú cả
ngành nghề hiện đại và truyền thống theo hướng lấy hiệu quả kinh tế làm
thước đo.
Ngoài ra các DNV&N còn có vai trò gieo mầm cho tài năng kinh doanh.
Đây là vấn đề rất quan trọng đối với nước ta, vì trong nhiều năm qua đội ngũ
kinh doanh gắn liền với cơ chế bao cấp, chưa có kinh nghiệm với kinh tế thị
trường. Sự phát triển của các DNV&N có tác dụng đào tạo, thử thách, có chọn
lọc qua thực tế đội ngũ các nhà kinh doanh trên mặt trận sản xuất sản xuất,
kinh doanh.
1.1.2.Những lợi thế và hạn chế của DNV&N.
1.1.2.1 Lợi thế của các DNV&N.
Các DNV&N có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu
có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều
lao động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự mềm mại và
nhanh chóng thích nghi với những nhu cầu và thay đổi của thị trường,
DNV&N có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các
doanh nghiệp lớn và sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa nhất hoặc các khoảng
trống vừa và nhỏ của thị trường. Sau đây là một số điểm mạnh có thể nhìn
thấy ở các DNV&N:
Dễ dàng khởi sự và năng động nhạy bén với thị trường. Chỉ cần
một lượng vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp các DNV&N có
thể khởi sự doanh nghiệp.
Dễ phát huy bản chất hợp tác.
Thu hút nhiều lao động, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định
thấp.
Không có hoặc có ít xung đột giữa người sử dụng lao động và
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh doanh và đời sống.
Cho vay là quyền của ngân hàng với tư cách là người cho vay yêu
cầu khách hàng của mình thực hiện những điều kiện bắt buộc,
những điều kiện này là cơ sở để ràng buộc về mặt pháp lý đảm
bảo cho hoạt động cho vay có thể thu hồi được vốn sau một thời
gian nhất định.
Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ
NHTM sang người vay, sau một thời gian nhất định lại quay về
với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Cho vay cũng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó
một bên là NHTM chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử
dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc
tài sản cam kết trả vốn gốc và lãi cho NHTM vô điều kiện theo
thời hạn đã thỏa thuận.
Từ các khái niệm về cho vay, có thể đưa ra khái niệm về cho vay đối với
các DNV&N: “ Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNV&N là một giao
dịch về tiền hoặc tài sản được chuyển nhượng từ NHTM đến đối tượng là
DNV&N trên cơ sở có hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) mà thực chất là là sự vay
mượn dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau”.
Hoạt động cho vay, của NHTM đối với các DNV&N bao gồm:
• Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng VND và ngoại tệ đối với các tổ
chức kinh tế và dân cư.
• Tài trợ xuất nhập khẩu: chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất.
• Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với những dự án lớn, thời gian
hoàn vốn dài.
• Cho vay, tài trợ, uỷ thác theo chương trình của các tổ chức quốc tế, tổ
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoàn trả cả vốn gốc và lãi theo đúng thời hạn quy định”, nếu quá hạn sẽ phải
chịu lãi suất cao, chính vì thế thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh, tạo lập uy tín đối với ngân hàng.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra cho các DNV&N nhiều cơ
hội để mở rộng thị trường, mở rộng quy mô sản xuất. Nhưng bên cạnh đó,
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp lại trở nên ngày càng gay gắt, chuyển từ
cạnh tranh về giá cả sang cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, mẫu mã. Do đó
đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh
tranh trên thị trường. Chỉ có các NHTM mới có thể huy động vốn từ các
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, cho phép các DNV&N vay trung,dài hạn để
đầu tư đổi mới công nghệ.
c.Điều chỉnh cơ cấu ngành, nghề, khuyến khích phát huy lợi thế về tài
nguyên và kỹ thuật truyền thống.
Thông qua công cụ chính sách tiền tệ quốc gia, ngân hàng nhà nước có
thể yêu cầu các ngân hàng thương mại thực hiện tăng hoặc giảm hạn mức tín
dụng cung cấp cho các DNV&N, hoặc thay đổi mức lãi suất đối với các
doanh nghiệp kinh doanh, hoạt động trong lĩnh vực mà nhà nước khuyến
khích hoặc kìm hãm. Ngoài ra cũng có thể thông qua các chính sách khác như
áp dụng điều kiện vay vốn, ưu tiên ngoại tệ nhập khẩu, ổn định tỷ giá khi thu
nợ ngoại tệ…Việc khuyến khích mở rộng hay thu hẹp các ngành nghề sẽ tạo
ra cơ cấu kinh tế hợp lý, định hướng sự phát triển cho hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp.
Như vậy, mặc dù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, các NHTM trở thành
người đi vay để cho vay, song điều đó vẫn không thể phủ nhận được vai trò
điều tiết vĩ mô của nhà nước, tham gia vào điều chỉnh cơ cấu và khuyến khích
phát triển DNV&N theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước.
17
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các chi phí hoạt động, như chi phí mua hàng, trả lương, nộp thuế…
o Cho vay ngắn hạn các công trình: tạm ứng vốn cho bên thi công trong
giai đoạn thi công các công trình xây dựng.
o Cho vay khác: kinh doanh chứng khoán…
Căn cứ vào phương pháp cho vay:
o Cho vay từng lần.
o Cho vay theo hạn mức tín dụng.
o Cho vay khác: cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức
tín dụng dự phòng…
Căn cứ vào bảo đảm tiền vay:
o Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản
của người thứ ba , bảo đảm bằng tài sản được hình thành từ nguồn vốn vay.
o Cho vay có bảo đảm không bằng tài sản: tín chấp, bảo lãnh bằng
tín chấp…
b.Cho vay trung, dài hạn đối với các DNV&N.
Cho vay trung hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 5
năm, nhằm giúp các doanh nghiệp đầu tư vốn để tái sản xuất mở rộng tài sản
cố định và thiết bị sản xuất. Hình thức cho vay này gắn liền với các dự án đầu
tư theo chiều rộng và chiều sâu của doanh nghiệp.
Cho vay dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích
cho vay là giúp các doanh nghiệp xây dựng, mua sắm các tài sản cố định và
máy móc thiết bị. Thường gắn liền với những kế hoạch đầu tư của các doanh
nghiệp được Nhà nước chỉ định nguồn vốn có lãi xuất ưu đãi.
Khi cho vay trung và dài hạn cần chú ý một số điểm sau:
- Vốn chủ sở hữu tham gia: do tính chất của các khoản vay trung và dài
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay ngắn hạn. Nguồn trả nợ chính là từ các khoản vay khấu hao và một phần
lợi nhuận do dự án đầu tư mang lại.
- Giải ngân trong cho vay: có thể được tiến hành một lần hoặc nhiều lần
nhằm đảm bảo cho khách hàng nhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng đúng
mục đích. Khoản vay được rút một lần trong trường hợp vay để mua sắm máy
móc, thiết bị. Đối với tài sản được hình thành trong một thời gian dài thì việc
giải ngân được thực hiện theo tiến độ công việc hoàn thành.
- Lãi suất cho vay: thường cao hơn lãi xuất vay ngắn hạn, có thể là lãi
suất cố định trong trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là lãi suất biến đổi
tùy thuộc vào sự biến đổi của thị trường. Sự biến đổi của lãi suất có thể dựa
trên lãi suất cơ bản của ngân hàng, hoặc lãi suất liên ngân hàng. Việc thu tiền
lãi có thể được tiến hành theo kỳ hạn tháng, quý, năm dựa vào số dư ở mỗi kỳ
hạn trả nợ và lãi suất cho vay.Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ gốc tại
mỗi kỳ hạn trả nợ hoặc trả tiền lãi vào một ngày nào đó trong kỳ hạn theo
thỏa thuận.
1.2.Quản lý hoạt động cho vay đối với các DNV&N của các NHTM.
1.2.1.Khái niệm và đặc điểm quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
1.2.1.1. Khái niệm quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
Chúng ta có thể hiểu quản lý ở nhiều góc độ khác nhau, như quản lý con
người, quản lý sinh vật, quản lý giới vô sinh ( nhà xưởng, máy móc, thiết bi,
sản phẩm..)…Nhưng có thể hiểu: “ quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện
biến động của môi trường”.
Từ khái niệm về hoạt động quản lý, có thể định nghĩa về quản lý hoạt
động cho vay của các ngân hàng như sau:
- Xét trên quan điểm theo cách tiếp cận chiến lược:“quản lý hoạt động
cho vay của các NHTM đối với các DNV&N là quá trình xây dựng và thực thi
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của mình.
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
Trong hoạt động ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu,
đồng thời cũng có nguy cơ rủi ro cao nhất của ngân hàng. Có vô số các rủi ro
khác nhau khi cho vay, bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau và có thể dẫn đến
việc không hoàn trả những khoản vay khi đến hạn. Các thiệt hại này đôi khi
nảy sinh từ nhiều nguyên nhân như: thiên tai, những thay đổi về nhu cầu tiêu
dùng, hoặc về kỹ thuật của của một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả
cơ đồ của một hãng kinh doanh và đặt người vay đã có thời làm ăn có lãi lâm
vào cảnh thua lỗ. Rủi ro đối với người đi vay cũng chính là rủi ro đối với
những khoản đầu tư cho vay của ngân hàng. Có thể làm giảm lợi nhuận, và
cũng có thể đẩy ngân hàng tới chỗ phá sản.
Do đặc điểm của các DNV&N là quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé,
trang thiết bị công nghệ còn lạc hậu… Vì thế các ngân hàng nhiều khi vẫn
còn e ngại trong việc cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này. Việc quyết
định cho vay phải được nghiên cứu kỹ càng, nhằm tránh trường hợp doanh
nghiệp lừa đảo, kinh doanh không có lãi…
Vì vậy mối lo lắng lớn nhất trong hoạt động này của các ngân hàng là
làm thế nào để hạn chế rủi ro thấp nhất. Để có thể hạn chế rủi ro đến mức thấp
nhất thì các ngân hàng phải quản lý cho vay thật tốt và hiệu quả.
1.2.3.Nội dung của quản lý hoạt động cho vay đối với DNV&N.
Hoạt động quản lý được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng do
giới hạn của bài viết nên em xin phép được đi sâu vào quản lý theo cách tiếp
cận tác nghiệp.
Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động quản lý cho vay nói riêng
đòi hỏi phải được tiến hành nghiêm nghặt theo sát quy trình cho vay vốn.
1.2.3.1.Thiết lập hồ sơ cho vay.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
5) Các báo cáo nhận xét: Cán bộ tín dụng phải định kỳ lưu trữ tất cả các
thông tin nào có liên quan đến khoản vay, cũng như đánh giá của mình về tình
trạng hiện có của khoản vay.Báo cáo trong hồ sơ phải chứa đựng thông tin về
bản thân doanh nghiệp và thông tin trước đó về tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
6) Phân tích thông tin tín dụng: gồm có các chỉ số và các nhận xét của
người phân tích. Những thông tin này phải được lưu vào trên cơ sở có hệ
thống và phải vạch ra bất kỳ điểm yếu hoặc các vấn đề tiềm ẩn trong khoản
vay rõ ràng.
7) Các chứng từ bảo đảm tín dụng: Gồm có các khoản thế chấp có thể
chuyển nhượng và một số khoản thế chấp không thể chuyển nhượng.
8) Thư từ trao đổi và các giấy tờ khác: Bản sao tất cả các giấy tờ liên quan
trao đổi giữa doanh nghiệp và những người khác có liên quan đến doanh nghiệp.
1.2.3.2.Phân tích tín dụng.
Mục tiêu của phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý muốn của
người vay trong việc hoàn trả tiền vay, phù hợp với điều khoản của một hợp
đồng tín dụng. Bao gồm việc thu thập thông tin có ý nghĩa đối với việc đánh
giá tín dụng, việc chuẩn bị và phân tích thông tin thu thập được, sưu tầm
và lưu lại thông tin để sử dụng cho tương lai.
Các yếu tố cần được xem xét khi phân tích tín dụng:
a. Năng lực vay nợ: các ngân hàng không chỉ quan tâm đến khả năng
hoàn trả mà còn quan tâm đến năng lực pháp lý của doanh nghiệp khi đi vay.
Cần phải xem xét điều lệ và luật địa phương để khẳng định rằng ai là người
có khả năng thay mặt cho công ty đi vay.
b. Uy tín: không chỉ có ý nghĩa sẵn lòng trả nợ mà còn có ý nghĩa là
phản ánh ý muốn kiên quyết thực hiện tất cả các giao ước trong hợp đồng tín
25