GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - Pdf 75

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
SỞ GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN TỚI CỦA SỞ
GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, định hướng mục tiêu
đầu tư phát triển của thành phố và sự chỉ của NHCTVN về công tác tín dụng “Gắn
tăng trưởng với kiểm soát chất lượng và đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng,
gắn tăng trưởng tín dụng với phát triển dịch vụ nNH, đẩy mạnh tình hình tín dụng
tài trợ thương mại, huy động vốn, mở rộng phục vụ khu vực kinh doanh ngoài
quốc doanh theo cơ chế thị trường. Chủ động trong xác định lĩnh vực, ngành nghề
đầu tư cho vay tạo ra một cơ cấu hợp lí, vững chắc trong hoạt động của hệ thống.”
Từ những định hướng trên và sự chỉ đạo của NHCTVN, SGD I đã đề ra kế
hoạch, biện pháp thực hiện hoạt động kinh doanh an toàn, chất lượng, hiệu quả nói
chung trong đó vạch rõ ra những định hướng hạn chế RRTD như:
- Tăng cường huy động vốn với cơ cấu hợp lý, đồng thời thực hiện chính sách
khách hàng để thu hút nguồn tiền gửi lớn,…
- Đánh giá chất lượng và tăng trưởng tín dụng cần phải gắn với an toàn và
kiểm soát được rủi ro.
- Trích lập dự phòng rủi ro theo qui định.
- Đa dạng hóa loại hình tín dụng, dịch vụ và phát triển các sản phẩm dịch vụ
trên dự án hiện đại…
3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI SỞ
GIAO DỊCH I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CChúng ta có thể thấy rằng một khi RRTD xảy ra không chỉ ảnh hưởng tới
kết quả kinh doanh của NH mà kéo theo một quá trình xử lý phức tạp, kéo dài
thậm chí gây ra mệt mỏi về tâm lý. Để tăng cường hiệu quả quản lý RRTD tại SGD
I NHCT em xin đưa ra một số giải pháp như sau:
3.2.1 Giải pháp thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn
Có thể nói nhu cầu về vốn là nhu cầu không thể thiếu đối với mọi người,
mọi thành phần kinh tế nhằm tạo ra của cải vật chất ngày càng lớn hơn trong xã
hội. Và ngân hàngNH là chiếc cầu nối giữa những người thừa vốn và con người

trì bám trụ, thường xuyên lui tới nhắc nhở, động viên, đánh vào tâm lý của người
vay vốn. Em tin nếu chúng ta tích cực, kiên trì để thu nợ sẽ đem lại hiệu quả nhất
định.
3.2.2 Tính đúng giá trị tài sản đảm bảo
Có thể nói hiện nay nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh của khách hàng tư
nhân ngày càng tăng, theo quy định để được vay vốn phải có tài sản đảm bảo. Tuy
nhiên, hiện nay tài sản đảm bảo của thành phần kinh tế này chủ yếu là quyền sử
dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Đây là một loại tài sản nếu tính đúng theo giá trị
thực tế thị trường thì khác hàng vay được khá nhiều vốn. Nhưng có một nghịch lý
là khi nhận thế chấp tài sản loại này thường tính theo khung giá quy định tại
UBND cấp tỉnh, thành phố để NH xác định mức vay. Vì thế, giá trị tài sản đảm bảo
của khách hàng thường không tương xứng với giá trị thực đặc biệt là quyền sử
dụng đất ở vì giá trị này được đưa ra để áp dụng tính thu thuế chứ không phải để
bán và trao đổi trên thị trường.
Mặc dù đã có những quy định cụ thể về phương pháp xác định giá trị TSBĐ
là quyền sử dụng đất ở để giúp người dân có cơ hội vay được nhiều vốn hơn: như
việc xác định theo thoả thuận giữa ngân hàngNH cho vay và bên bảo đảm nhưng
phải thấp hơn giá đất thực tế chuyển nhượng trên thị trường địa phương tại thời
điểm định giá; không vượt quá khung giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định;
hoặc mức tối đa không quá 70% giá đất thực tế chuyển nhượng trên thị trường nếu
cao hơn giá ghi trong khung giá đất của UBND tỉnh, thành phố nơi có đất. Nhưng
CBTD của SGD I NHCTVN vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho khách
hàng vì giá trị tài sản được quy định thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế. Do vậy,
UBND các tỉnh, thành phố cần tính toán lại cho phù hợp hơn để đưa ra mức quy
định về giá trị đất, nhà ở sao cho sát với giá thị trường. Điều này giúp cho CBTD
tại Sở có cơ sở để đánh giá chính xác giá trị của tài sản đảm bảo.
3.2.3 Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Chất lượng công tác tín dụng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Khi xem
xét đến yếu tố chủ quan đó là chủ yếu nói đến vấn đề chất lượng CBTD và cán bộ
thẩm định (CBTD). Vì vậy cần phải không ngừng nâng cao chất lượng CBTD cả

- Đổi mới tư duy trong cho vay, không nên quá chú trọng vàp tài sản đảm bảo, xem
trọng vai trò của lưu chuyển tiền tệ trong thẩm định để có thể thực hiện cho vay tín
chấp. Bên cạnh đó, khi nhận tài sản đảm bảo từ phía khách hàng, NH phải thu thập
nhiều thông tin hơn nữa về những tài sản này.
- Không nên quá chú trọng vào các chứng chỉ, bằng cấp khi đánh giá năng lực quản
trị, điều hành của khách hàng mà phải căn cứ vào lịch sử kinh doanh của khách
hàng, hay người điều hành dự án. Một lịch sử kinh doanh tốt sẽ chỉ ra năng lực tốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status