Quản lý Rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch I Ngân hàng công thương Việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với công cuộc cải cách, đổi mới và mở cửa nền kinh tế, là việc
Việt Nam ra nhập WTO đã trở thành cơ hội giúp cho các ngân hàng có những
bước phát triển vượt bậc như việc mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ, tăng cường mạng lưới dịch vụ, tăng cường mạng
lưới chi nhánh và hiện đại hóa công nghệ. Cả nước hiện có: 5 ngân hàng
thương mại nhà nước, 48 ngân hàng thương mại cổ phần, 30 ngân hàng liên
doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng chính sách, 1 ngân
hàng phát triển, 22 công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, hệ thống
quỹ tín dụng nhân dân với gần 1000 đơn vị. Một điều kiện khác cũng đã tác
động một phần không nhỏ đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt
Nam đó là sự đầu tư tài trợ nước ngoài. Có thể nói Việt Nam hiện nay đang là
điểm nóng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, vấn đề hội nhập quốc tế là tất yếu
khách quan đối với các quốc gia trên thế giới. Hội nhập quốc tế bên cạnh
những thách thức to lớn lại tạo ra những cơ hội phát triển và áp dụng những
tiến bộ của nhân loại trên toàn thế giới. Trong xu thế ấy, hệ thống tài chính
nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng không chỉ là
huyết mạch của nền kinh tế quốc dân mà còn mang trong mình cơ hội vươn ra
khu vực và thế giới. Đó cũng chính là yêu cầu đòi hỏi mỗi ngân hàng phải
nâng cao năng lực tài chính, nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chuẩn hóa
bằng các chuẩn mực quốc tế, chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tận dụng triệt để các cơ hội, ngân hàng Công thương Việt Nam đã và
đang ra sức phát triển các sản phẩm dịch vụ và ngày càng hoàn thiện mình để
thu hút sự đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài và có thể trụ vững
trong những cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa hệ thống ngân hàng
thương mại trong nước, và sự xuất hiện ngày càng nhiều văn phòng đại diện
cũng như chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài.

hướng dẫn em hoàn thành Báo cáo tổng hợp thực tập này. Đồng thời em xin
gửi lời cảm ơn tới quý ngân hàng và các anh chị nhân viên của Sở giao dịch I
Ngân hàng Công thương Việt Nam đặc biệt là các cán bộ nhân viên ở phòng
quản lý rủi ro đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình
thực tập để em có thể hoàn thành bản chuyên đề tốt nghiệpbản báo cáo tổng
hợp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNGNGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIRRTD ngân hàng
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mạiHoạt động của NHTM
NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế,
là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân và hộ gia
đình) và với hầu hết cơ quan Chính quyền địa phương, và là tổ chức thu hút
tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia
đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại các NH.
NH đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội. Và có thể nói rằng trên toàn
thế giới đây là loại hình tổ chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín
dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất. NH bao gồm nhiều
loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài
chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài
sản, thị phần và số lượng các NH.
Tóm lại, NH là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Tùy theo yêu cầu của người quản lí có thể phân chia các NH theo nhiều

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Phân loại tín dụng NH
Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng NH do đó có nhiều cách phân
loại khác nhau như:
Bảng 1: Hình thức phân loại tín dụng ngân hàngNH.
Chỉ tiêu phân loại theo Hình thức tín dụng
Thời gian - Tín dụng ngắn hạn
- Tín dụng trung hạn
- Tín dụng dài hạn
Hình thức tài trợ - Cho vay
- Chiết khấu thương phiếu
- Bảo lãnh
- Cho thuê tài chính
Tài sản đảm bảo - Tín dụng có tài sản đảm bảo
- Tín dụng không có tài sản đảm
bảo
Ngành kinh tế - Tín dụng công nghiệp
- Tín dụng thương mại dịch vụ
- Tín dụng nông, lâm nghiệp
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng của ngâ hàng a NH thương mại
● Cho vay
Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của NH đối với các khách
hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện vay để được
cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay NH, tức là
vốn từ NH chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân
vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản
phải nộp, mua hàng,… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối các khách
hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó NH cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho
tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho
phù hợp với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của
dự án, hoặc từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
NH thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức
nhất định. NH sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa mà khách hàng
đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán hàng từ phía
NH và làm đại lí thu tiền cho NH, hoặc khách hàng trực tiếp cho NH. Đây là
hình thức tín dụng tài trợ cho người mua nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng
hóa.
Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của NH là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó NH cũng
phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua
các tổ chức trung gian.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ
chức tín dụng trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng
có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong
nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay
không có hoặc không đủ tài sản thế chấp. Để bù đắp một phần chi phí trung
gian, NH trích một phần thu nhập lại cho trung gian.

Cho thuê (thuê – mua) giống một khoản cho vay thông thường ở chỗ
NH phải xuất tiền với kì vọng thu về cả gốc và lãi sau thời hạn nhất định;
khách hàng phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kì. NH cũng phải
đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả không trả
được tiền thuê đầy đủ và đúng hạn. Tuy nhiên, cho thuê có nhiều điểm khác
biệt so với cho vay như tài sản đi thuê vẫn thuộc sở hữu NH vì thế không ghi
vào bảng cân đối tài sản của người vay, không làm tăng cơ cấu nợ của người
vay, NH có quyền thu hối nếu thấy người thuê không thực hiện đúng hợp
đồng, đồng thời NH cũng phải có tránh nhiệm cung cấp đúng loại tài sản cần
cho khách hàng và phải bảo đảm về chất lượng của loại tài sản đó. Cho thuê
không có tài sản đảm bảo, nhiều tài sản thuê mang tính đặc chủng, khó bán,
khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao… nên cho thuê rủi ro rất cao đối với NH.
● Bảo lãnh
Bảo lãnh của NH là cam kết của NH dưới hình thức bảo lãnh về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của NH khi khách hàng
không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
Bảo lãnh là hình thức tài trợ của NH cho khách hàng, qua đó khách
hàng có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa hoặc thực hiện được
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi.
Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín. NH không xuất tiền ngay
khi bảo lãnh, do vậy bảo lãnh được coi là tài sản ngoại bảng. Tuy nhiên, khi
khách hàng không thực hiện được cam kết, NH phải thực hiện nghĩa vụ chi trả
cho bên thứ ba. Khoản chi này được xếp vào loại tài sản “xấu” trọng nội bảng,
cấu thành nợ quá hạn. Chính vì vậy, bảo lãnh cũng chứa đựng các rủi ro như
một khoản cho vay và đòi hỏi NH phân tích khách hàng như khi cho vay.
Bảo lãnh của NH tạo mối liên hệ trách nhiệm tài chính và sản sẻ rủi ro.
Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hang, trách nhiệm của NH là
thứ cấp khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba. Do mối liên

này tạo thuận lợi hơn cho một NH trong việc tìm kiếm nguồn tiền song lại
làm tăng tính mỏng manh, kém ổn định của cả hệ thống. Tài sản của NH chủ
yếu là các động sản tài chính (các khoản cho vay, chứng khoán) với tính rủi ro
thị trường, RRTD cao. Công nghệ NH cho phép NH có thể chuyển nguồn tiền
của mình đầu tư tới các vùng, các thị trường khác nhau ngày càng xa trụ sở
chính. Điều này, một mặt cho phép NH giảm bớt rủi ro thông qua đa dạng hóa
khách hàng, đa dạng sản phẩm và thị trường, song mặt khác cũng làm tăng tín
dụng rủi ro do tính biến động lớn trên thị trường thế giới và khu vực, do thông
tin sai lệch…
Phân chia rủi ro theo các loại tài sản gồm có: Rủi ro trong quản lí kinh
doanh ngân quỹ, rủi ro tín dụng, rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng
khoán, rủi ro trong cho thuê và rủi ro đối với các tài sản khác của NH. Phân
chia rủi ro theo nguyên nhân – các nhân tố tác động – gồm có rủi ro do người
vay không trả nợ cho NH, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro do tỷ giá thay đổi,
rủi ro do các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy, giấy tờ giả…Có các loại
rủi ro phổ biến như: rủi ro tín dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toán,…
Khi nghiên cứu về lĩnh vực NH ta thường được biết đến RRTD, vậy thế
nó là gì? RRTD là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho NH do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và
lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, NH không dự kiến là khoản
cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa
rủi ro. Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ NH, tỷ lệ tổn
thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến
lược hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến,
NH coi đó là một thành công trong quản lý.
Theo quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý
RRTD trong hoạt động của TCTD được ban hành theo Quyết định số

là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, RRTD
la bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại
trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt
động chung của NH.
1.2.2.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụngRRTD
● Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất
khả năng thanh toán cho NH. Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, hoặc những thay
đổi tầm vĩ mô (thay đổi Chính phủ, chính sách kinh tế, hàng rào thuế quan…)
vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.
Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người
vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay, với bản
lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khắc phục những khó
khăn. Trong những trường hợp khác, người vay có thể bị tổn thất song vẫn có
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khả năng trả nợ cho NH đúng hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi tác động của
những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng trả
nợ của họ bị suy giảm.
● Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh,
yếu kém trong quản lí, chủ định lừa đảo cán bộ NH, chây ì…là nguyên nhân
gây RRTD. Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi
nhuận cao. Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn
ứng phó với NH như cung cấp thông tín sai, mua chuộc… Nhiều người vay
đã không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tín toán kỹ lưỡng những
bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn
trong kinh doanh. Trong trường hợp còn lại, người vay kinh doanh có lãi
những vẫn không trả nợ cho NH đúng hạn. Họ chây ì với hy vọng có thể quỵt
nợ, hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.

RRTD. Nợ của khách hàng nhóm A được coi có rủi ro thấp nhất, còn nợ
khách hàng nhóm D, E được coi là có khả năng mất vốn cao nhất. Để cách
phân loại này phản ảnh chính xác RRTD, phải có tiêu chuẩn xếp hạng tín
nhiệm đúng.
Theo Quyết định số 493, nợ của NHTM được chia thành 5 nhóm, với
nợ từ loại 3 đến 5 là nợ xấu, còn nợ nhóm 1 là nợ thông thường thì tỷ lệ trích
lập dự phòng là 0%, và nợ nhóm 2_nợ cần chú ý_trích lập dự phòng là 5%.
1.2.3.1 Nợ quá hạn
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tồng dư nợ. Nợ quá hạn là khoản
nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng
tín dụng. Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn
lại của hợp đồng chuyển thành nợ quá hạn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ. Nợ khó đòi là khỏan nợ
quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một kì hạn gia hạn nợ,
hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không bán được, con nợ thua lỗ
triền miên, phá sản…
Các chỉ tiêu có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ
RRTD khác nhau. Đối với NH, việc khách hàng không trả đúng hạn có liên
quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản: Chi phí gia tăng để tìm nguồn
mới để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng. Nợ khó đòi là một lời cảnh
báo cho NH: Hi vọng thu lại tiền trở nên mong manh, NH cần có biên pháp
hữu hiệu để giải quyết.
Các quan điểm khác nhau, các cánh tính toán khác nhau về kì hạn nợ và
nợ quá hạn có thể làm các chỉ tiêu này bị biến dạng.
Thứ nhất, do định kì hạn nợ không đúng.
Nhiều cán bộ NH khi cho vay không quan tâm thích đáng đến chu kì
kinh doanh của người vay, hoặc do nguồn ngắn hạn là chủ yếu, họ đặt kì hạn nợ
ngắn để hạn chế rủi ro. Kì hạn nợ không phù hợp với thu nhập của người vay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status