Giải pháp hạn chế rủi ri tín dụng tại Sở Giao Dịch I- Ngân hàng Công Thương Việt Nam - Pdf 29

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
Lời cảm ơn
Trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp thực tập
này, em đã nhận đợc sự động viên khuyến khích và hỗ trợ nhiệt tình của các cán bộ
phòng Kinh doanh Sở Giao Dịch I- Ngân hàng Công Thơng Việt Nam, các thầy cô
giáo khoa Ngân hàng Tài chính trờng Đại học Kinh tế quốc dân và đông đảo bạn

Em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của ban giám đốc Sở Giao
Dịch I- Ngân hàng Công Thơng Việt Nam đã tạo điều kiện cho em đợc thực tập tại
Sở trong suốt thời gian qua, các cán bộ phòng Kinh doanh đặc biệt là cô Cao
Thanh Hà và cô Nguyễn Thuý Nga đã cung cấp cho em những hiểu biết thực tế
giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Em cũng xin đặc biệt trân trọng cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của GS TS Cao
Cự Bội - giảng viên khoa Ngân hàng Tài chính trờng Đại học Kinh tế quốc dân
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
Lời mở đầu
Trong những năm qua, cùng với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, hoạt
động ngân hàng nói chung và trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói riêng đã có
những đóng góp tích cực, góp phần làm thay đổi đời sống kinh tế xã hội (KT-XH)
của nớc ta.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh nền KT-XH đất nớc đang từng bớc có những
chuyển biến về cơ chế, chính sách cho phù hợp với nền KTTT thì hoạt động tín
dụng ngân hàng trong suốt thời gian qua cũng bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế cần
có những biện pháp hữu hiệu để tháo gỡ, khắc phục. Một trong những đặc trng tiêu
biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt động ngân hàng là rủi ro tín dụng
(RRTD). Đây là một vấn đề nan giải, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nó không
những làm tổn hại đến tài sản, uy tín của một ngân hàng mà còn có thể gây phá sản
cả một hệ thống ngân hàng, ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế. Lịch sử đã chứng
minh tại các nớc t bản phát triển nh Mỹ, Anh, Nhật... mặc dù hệ thống pháp luật đã
hoàn chỉnh, hoạt động NHTM đã trải qua thời kỳ dài có kinh nghiệm trong việc

SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
Ch ơng I
Một số vấn đề về RRTD của NHTM
I.1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân
hàng
I.1.1. Khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng
Sự ra đời của hoạt động của ngân hàng đánh dấu một bớc ngoặt trong lịch sử
phát triển và tiến bộ của con ngời. Lê Nin đã coi sự ra đời Ngân hàng nh sự phát
minh ra lửa hay bánh xe. Vai trò to lớn của ngân hàng đối với sự phát triển nền
kinh tế xã hội đợc xuất phát từ chính các mặt hoạt động của ngân hàng. Một trong
số chúng là hoạt động TD.
Tín dụng đợc định nghĩa nh là: một giao dịch giữa hai bên, trong đó một
bên (trái chủ hoặc cho vay) chu cấp tiền, hàng hoá hoặc chứng khoán dựa vào lời
hứa thanh toán lại cả gốc và lãi trong tơng lai của bên kia (thụ trái hoặc là ngời đi
vay). Thông thờng những giao dịch nh vậy còn bao gồm cả việc thanh toán lợi tức
cho ngời cho vay.
Đối với một NHTM, TDNH có ý nghĩa là sự cho vay hay ứng trớc tiền do
ngân hàng thực hiện. Bản thân ngân hàng là ngời cho vay còn ngời đi vay là các
loại khách hàng khác của ngân hàng. Giá ngân hàng ấn định cho khách hàng khi đi
vay là lợi tức và lãi suất hoặc tiền hoa hồng mà họ phải trả trong suốt thời gian tồn
tại của khoản ứng trớc.
Tín dụng hoàn toàn khác các nghiệp vụ tài trợ dạng cấp vốn của nhà nớc cho
doanh nghiệp. Hoạt đông TD là hoạt động đa dạng, là một loại kinh doanh tiền tệ
phức tạp. Tính phức tạp của nó chính là đối tợng kinh doanh, đó là tiền tệ, và ở đây
tiền tệ đã bị tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho vay.
Trong khái niệm TD hoặc TDNH ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và
cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra. Và cần có một
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội

phối theo nguyên tắc hoàn trả; chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động của
nền kinh tế.
I.1.3.1. Chức năng tập trung và phân phối vốn theo nguyên tắc hoàn trả,
hay chức năng phân phối lại.
Sự tồn tại khách quan của phạm trù tín dụng là một tiền đề quan trọng cho sự
vận động liên tục của vốn trong nền kinh tế quốc dân, những vốn tạm thời cha sử
dụng phát sinh ra trong nền kinh tế sẽ đợc ngân hàng huy động và tập trung lại.
Trên cơ sở nguồn vốn đó, ngân hàng tiến hành phân phối bằng hình thức cho vay
theo nhu cầu của nền kinh tế. Giữa tập trung và phân phối luôn có mối quan hệ
ràng buộc lẫn nhau. Thực hiện tốt tập trung vốn tạo cơ sở để tiến hành cho vay
đồng thời chỉ khi việc phân phối vốn có hiệu quả sẽ thúc đẩy nhu cầu tập trung
vốn. Sự phân phối của tín dụng tuân theo một vòng tuần hoàn từ khi cho vay đến
vốn tín dụng đợc sử dụng theo nhu cầu và sau khi hoàn thành việc tham gia vào
quá trình phục vụ nhu cầu, trở lại hình thái tiền tệ thì nó đợc hoàn trả ngời cho vay.
Đây là bản chất vận động của tín dụng. Đó là sự vận động với t cách lợng giá trị
vận động, do đó lợng giá trị này luôn đợc bảo tồn theo thời gian khi hoàn trả.
I.1.3.2. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế.
Khả năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của TDNH là rộng lớn hơn so với
các hình thức TD khác. Bên cạnh quan hệ tín dụng đối với các doanh nghiệp và cá
nhân, ngân hàng còn có quan hệ về tiền tệ, thanh toán với họ. Các mối quan hệ này
bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát các doanh nghiệp dễ
dàng hơn. Không những thế, tín dụng cũng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy
bén đối với mọi biến đổi của nền kinh tế. Thông qua hoạt động thu vốn nhàn rỗi có
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
thể đánh giá đợc tình hình tiêu dùng, tiết kiệm và các tiềm năng khác của nền kinh
tế. Mặt khac, thông qua hoạt động cấp vốn có thể đánh giá đợc khả năng phát triển
của các ngành các lĩnh vực, sự hợp lý của cơ cấu nền kinh tế qua đó có sự điều
chỉnh cơ cấu đầu t cho phù hợp. Do đó tín dụng đợc coi là công cụ quan trọng để
nhà nớc kiểm soát và thực hiện các chiến lợc phát triển kinh tế.

xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể kiểm soát đợc lợng tiền cung ứng trong
lu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lu thông tiền tệ. Mặt khác, tín dụng ngân
hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cờng chế độ hạch toán kinh doanh, giúp
các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh
doanh. Đồng thời tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế
với nớc ngoài, là cầu nối cho việc giao lu kinh tế và là phơng tiện để thắt chặt mối
quan hệ kinh tế với các nớc trên thế giới.
Nh vậy tín dụng ngân hàng có một vai trò hết sức quan trọng đối với phát
triển kinh tế cũng nh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Để phát huy vai trò
đó, các nớc trên thế giới đã sử dụng tín dụng ngân hàng nh một công cụ đắc lực để
thúc đẩy phát triển KT-XH. Tuy nhiên, đây lại là một hoạt động tiềm ẩn rất nhiều
rủi ro khó lờng trớc. Để tín dụng ngân hàng thực sự phát huy vai trò của mình,
nghiên cứu rủi ro tín dụng là một yêu cầu cần thiết.
I.2. Rủi ro tín dụng của NHTM.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.2.1. Những vấn đề chung về rủi ro ngân hàng
I.2.1.1. Khái niệm về rủi ro ngân hàng.
Cũng nh với bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro
và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt
động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hởng của rất nhiều loại rủi ro. Rủi ro
của ngân hàng có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau nhng đều có
bản chất chung đó là khả năng xẩy ra những tổn thất cho ngân hàng.
Một số quan điểm cho rằng, rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với
ngân hàng. Một số khác lại cho rằng rủi ro chỉ là những tổn thất xảy ra ngoài dự
kiến.
Dù có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro, nhng tựu chung lại có thể
rút ra các kết luận sau:
+ Rủi ro ngân hàng là khả năng xẩy ra những tổn thất trong hoạt động ngân

I.2.1.3. ảnh hởng của rủi ro đối với hoạt động ngân hàng
Rủi ro gắn liền với hoạt động NHTM, phản ánh các tình huống bất thờng xảy
ra gây tổn thất cho ngân hàng. Khi tổn thất xảy ra, trớc hết thu nhập của ngân hàng
giảm sút, dẫn đến tỷ suất lợi tức và thị giá cổ phiếu của ngân hàng giảm. Từ đó có
thể kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trờng, là điểm mở đầu của quá
trình mua lại, sát nhập hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. Rủi ro tín dụng và lãi
suất có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt ngời gửi tiền rút tiền ra
khỏi ngân hàng, buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Tổn thất làm
giảm quỹ dự phòng, giam vốn và quỹ của ngân hàng. Để đối phó với tình trạng
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
trên, ngân hàng có thể phải giảm tiền lơng (hoặc chi phí khác), giảm lao động...dẫn
đến các ảnh hởng không tốt về nhân sự, về trạng thái nguồn và công nghệ.
I.2.1.4. Phân loại chung
Có thể chia rủi ro trong hoạt động ngân hàng thành các loại sau:
+Rủi ro tín dụng (sẽ nghiên cứu ở phần sau)
+ Rủi ro hối đoái: là khả năng xẩy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu
khi tỷ giá hối đoái thay đổi vợt quá thay đổi dự tính.
+ Rủi ro lãi suất: là khả năng xẩy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi ngoài
dự tính.
+ Rủi ro thanh khoản: là rủi ro khi khả năng thanh toán của ngân hàng không
đáp ứng đợc cho khách hàng khi họ đến rút vốn vợt quá mức dự trữ thanh toán của
ngân hàng.
+ Rủi ro tồn đọng vốn: xẩy ra khi vốn bị tồn đọng lớn không cho vay, đầu t đ-
ợc và các loại rủi ro khác
I.2.1.5. Quy luật đánh đổi rủi ro-lợi nhuận trong hoạt động của các NHTM.
Theo quy luật này thì các chủ thể kinh tế phải chấp nhận một mức độ rủi ro,
hoặc điều chỉnh giảm thiểu rủi ro tới một mức độ nhất định nào đó sao cho hợp lý
để hy vọng đạt đợc phần lớn lợi nhuận bù đắp mức độ rủi ro đó. Mối quan hệ đánh
đổi ở đây mang tính tỷ lệ thuận nhiều hơn, tuy nhiên nói nh vậy không có nghĩa là

thể xảy ra. Đó là rủi ro về việc ngân hàng mất cơ hội sử dụng vốn vào những dự án
có khả năng sinh lời lớn hơn. Tức là hoạt động tín dụng đã hàm chứa một thiệt hại
mang tính so sánh. Bên cạnh chi phí cơ hội, rủi ro tín dụng còn là rủi ro về thời gian
của tiền. Ngay cả khi vốn và lãi đợc trả đúng hạn thì rủi ro vẫn xẩy ra vì dới tác
động của lạm phát và sự biến động của lãi suất trên thị trờng khiến đồng vốn mà
ngân hàng thu về kém về giá trị hơn so với ban đầu.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
I.2.2.2. Bản chất của rủi ro tín dụng.
Trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể
tránh khỏi, là khách quan và ngân hàng không thể loại bỏ hoàn toàn đợc rủi ro
mà chỉ có thể hạn chế đợc nó.
Thực vậy, ta thấy rằng tín dụng là quan hệ vay mợn dới dạng tiền tệ có hoàn
trả gốc và lãi, giữa ngời có vốn và ngời thiếu vốn. Quan hệ này là quan hệ kinh tế
bình đẳng giữa ngời cho vay và ngời đi vay, là sự cam kết thoả thuận bằng các điều
khoản của HĐTD, nhng tình trạng vi phạm cam kết đó xẩy ra khá phổ biến, kể cả
trong trờng hợp ngời vay có năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam
kết đó. Thậm chí ngay cả trờng hợp có đảm bảo nợ vay nh thế chấp, cầm cố...tình
trạng rủi ro tín dụng vẫn xẩy ra, do tài sản dùng làm đảm bảo nợ vay rủi ro về giá
trị vì những biến động về thời gian và thị trờng. Điều đó có nghĩa là, một khi còn
có hoạt động ngân hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng. Hay rủi ro tín
dụng là hệ quả, là không thể tránh khỏi. Nhiều quan điểm nhất trí cho rằng, rủi ro
tín dụng là bạn đờng của trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không
thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn đợc xác định trớc trong chiến lợc hoạt
động chung của ngân hàng.
I.2.2.3.Phân loại rủi ro tín dụng
Trên thực tế, rủi ro tín dụng cũng rất phức tạp và đa dạng nh chính hoạt động
tín dụng vốn đã đa dạng, phức tạp. Cũng có nhiều cách phân loại nhng ở đây ta chỉ
nghiên cứu hai cách phân loại cơ bản.
Trên phơng diện quản lý, rủi ro đợc chia làm 2 loại: rủi ro tín dụng có thể

I.2.2.4. Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng.
a) Nợ có vấn đề: phản ánh rủi ro tiềm năng.
Khi ngân hàng cho khách hàng vay, quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn, có thể do nhiều nguyên nhân (thiên tai hoặc địch hoạ, hàng
hoá không tiêu thụ đợc) đã ảnh hởng xấu đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp
nhng khoản nợ đó cha đến hạn. Các khoản nợ này sẽ đợc xếp vào nợ có vấn đề.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
Nếu muốn tránh khỏi những thiệt hại bất hợp lý này thì cán bộ tín dụng phải
xác định các khoản cho vay có vấn đề ngay lập tức, nếu không thì có thể không
giải quyết đợc vấn đề trớc khi tình hình trở lên xấu hơn. Hơn nữa, nếu có thể thực
hiện các biện pháp sửa chữa thích hợp, thì nguyên nhân và mục đích của vấn đề
cũng phải đợc xác định và giải quyết. Có rất nhiều dấu hiệu để nhận biết một
khoản cho vay có vấn đề, dới đây là một số dấu hiệu dễ nhận thấy:
+ Hoạt động kinh doanh của ngời đi vay có chiều hớng không lành mạnh, có
thể do ngành nghề kinh doanh của họ đang gặp rủi ro do sự thay đổi của thị trờng,
do sự thay đổi chính sách KT-XH của nhà nớc, hoặc có thể là quan hệ giao dịch
với các đối tác của doanh nghiệp không thuận lợi, các đối tác tự ý bỏ hợp đồng
kinh doanh với doanh nghiệp...khiến cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về tài
chính. Hay trong quá trình sản xuất kinh doanh có sự tăng lên bất thờng của hàng
tồn kho, các khoảng phải thu. Hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hởng bởi
các yếu tố khách quan nh bão, lũ lụt, hoả hoạn, hạn hán hay do mất trộm.
+Sự thay đổi trong cơ cấu quản lý kinh doanh đợc thể hiện dới các hình thức
nh thu hẹp quy mô sản xuất và chủng loại sản phẩm, công nhân nghỉ việc...Việc
thực hiện công tác điều hành chuyên môn hoá kém chất lợng. Sự thay đổi này tạo
tâm lý hoang mang đối với các đối tác, bạn hàng.
+ Ngời vay cố tình trì hoãn việc nộp báo cáo tài chính cho ngân hàng. Ngời
vay có thái độ lỡng lự cố tình gây chậm trễ khi xắp xếp cho cán bộ tín dụng đi
thăm cơ sở sản xuất kinh doanh.
+ Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích.

một góc độ khác nhau. Việc phân loại chúng có một ý nghĩa rất quan trọng, đặc
biệt trong việc đề ra các biện pháp xử lý, thu hồi nợ.
< Xét theo thời hạn có thể chia NQH thành các loại chính sau đây:
+ NQH dới 6 tháng: những khoản NQH này thờng đợc coi là có mức độ
rủi ro thấp.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
+ NQH từ 6 tháng đến 12 tháng: hay là nợ khê đọng, là những khoản nợ
có mức độ rủi ro bình thờng.
+ NQH trên 12 tháng: đây là những khoản nợ có mức độ rủi ro cao nhất
và có nguy cơ mất vốn cho ngân hàng.
Một số ngân hàng ở Việt Nam coi NQH trên 12 tháng là NKĐ.
Tỷ lệ NKĐ = NKĐ/NQH. Đây là những khoản tín dụng mà ngân hàng khó
có thể đòi đợc trong tơng lai. Với những khoản nợ này, ngân hàng đã nắm chắc khả
năng bị mất vốn.
< Xét theo nguyên nhân, ngời ta có thể chia NQH theo một số nguyên nhân
chính sau:
+ Những thay đổi trong chính sách của nhà nớc
+ Do khách hàng yếu kém, hoạt động kinh doanh không hiệu quả.
+ Do khách hàng cố tình lừa đảo
+ Do cán bộ tín dụng yếu kém, tiếp tay cho khách hàng lừa đảo.
Trong trờng hợp do khách hàng hoạt động kinh doanh yếu kém, song thấy có
khả năng phục hồi, ngân hàng có thể cho phép gia hạn nợ, cha chuyển sang NQH.
Trờng hợp khách hàng cố tình lừa đảo hay do cán bộ tín dụng phẩm chất yếu
kém, những khoản nợ đó thờng đợc chuyển sang NKĐ, vì khả năng thu hồi là hầu
nh không có.
Những thay đổi trong chính sách quản lý của nhà nớc gây khó khăn đối với
việc hoàn trả nợ vay cuả khách hàng đối với ngân hàng, hình thành nên khoản
NQH. Nếu không thu hồi đợc ngân hàng có thể chuyển lên chính phủ để chờ xử lý
giải quyết, hình thành khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

Trớc tiên đó là do hạn chế về trình độ của cán bộ tín dụng: yếu kém trong
phân tích tín dụng nhất là phân tích trớc khi cho vay. Việc thu thập thông tin
không đầy đủ, không cân xứng sẽ dẫn tới rủi rỏ đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch,
khâu sử lý thông tin kém dẫn tới những nhận định sai lầm về khách hàng (nh về
tính khả thi của dự án kinh doanh, khả năng quản lý của ngời vay, đạo đức của ng-
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
ời vay, khả năng tạo ra lợi nhuận và trả nợ cho ngân hàng) và kết quả là những
HĐTD kém chất lợng (rủi ro cao hay khả năng thu hồi thấp)
Buông lỏng trong khâu giám sát khách hàng, không duy trì mối quan hệ th-
ờng xuyên với khách hàng nên để khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không kịp
thời phát hiện nợ có vấn đề để tìm cách tháo gỡ. Thậm chí đến khi hết hạn cũng
không đốc thúc thờng xuyên dẫn đến tình trạng khách hàng dây da không trả nợ.
Quá coi trọng tài sản thế chấp, cầm cố nên buông lỏng quản lý. Đến khii
khách hàng không trả đợc nợ, khả năng thu nợ bằng tiền thực sự từ phát mại những
tài sản này không phải dễ, kết quả là ngân hàng không thu đợc đủ cả gốc và lãi.
Quá nhấn mạnh vào lợi tức, đặt mong ớc về lợi tức cao hơn các khoản cho vay
lành mạnh. Mong muốn chiến thắng trong cạnh tranh bằng cách tăng tỷ trọng cho
vay nhiều hơn các ngân hàng khác mà ít quan tâm tới mức độ rủi ro của các khoản
cho vay.
Sự bất hợp lý trong chính sách tín dụng của chính ngân hàng về quy mô, kỳ
hạn nợ. Kỳ hạn nợ không hợp lý nh ngắn hơn chu kỳ sinh trởg của cây, ngắn hơn
chu kỳ kinh doanh khiến khách hàng cha kịp thu hồi vốn để trả nợ cho ngân hàng
làm phát sinh NQH.

Nguyên nhân khách quan:
Cũng có rất nhiều nguyên nhân khách quan từ phía ngân hàng nh:
Nhiều khi sử lý thu hồi NQH gặp phải rủi ro, rất nhiều khó khăn vì phải trải
qua nhiều thủ tục rờm rà, có trờng hợp ngân hàng phải mất vống do các quy định
của pháp luật cha bảo vệ đợc lợi ích bình đẳng giữa ngân hàng và khách hàng.

thế chấp để vay nhiều nơi mà tổng số tiền vay > giá trị tài sản thế chấp, sử dụng
vốn vay sai mục đích khác với hồ sơ, rủi ro cao, dễ thua lỗ, không trả đợc nợ cho
ngân hàng.

Nguyên nhân khách quan
khi nhà nớc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô thu hẹp chi tiêu của nền
kinh tế nh tăng các loại thuế đầu vào, đầu ra trong thời kỳ các doanh nghiệp đang
mở rộng sản xuất đã dẫn đến tình trạng là các doanh nghiệp phải tính toán lại giá
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
cả, chi phí...gây thiệt hại cho các doanh nghiệp, từ đó gián tiếp ảnh hởng tới ngân
hàng.
Do có sự thay đổi trong môi trờng chính trị ở những nớc là thị trờng tiêu thụ
hàng hoá xuất khẩu, có thể dẫn tới mất thị trờng tiêu thụ, từ đó hàng hóa sản xuất
ra sẽ không bán đợc do đó thua lỗ là nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân hàng.
Trên thị trờng có hành vi cạnh tranh không lành mạnh nh hành vi làm hàng
giả, buôn lậu...làm cho hàng hoá bán ra của doanh nghiệp suy giảm dẫn đến giảm
doanh thu, lợi nhuận từ đó ảnh hởng đến khả năng trả nợ.
Do trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp gặp phải các rủi ro
bất khả kháng nh thiên tai, địch hoạ...làm gián đoạn hoặc thiệt hại cho các doanh
nghiệp.
c) Do các nguyên nhân khác
Ngoài các nguyên nhân kể trên thì còn có một số nguyên nhân khác cũng gây
ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng:
Do có những thông tin không minh bạch về ngân hàng dẫn đến khách hàng
của ngân hàng ồ ạt kéo nhau đến rút vốn gây rủi ro thanh khoản cho ngân hàng từ
đó gây ra sự mất lòng tin của khách hàng gián tiếp gây rủi ro tín dụng.
Do biến động tỷ giá, lãi suất cung cầu làm cho chi phí cơ hội của ngân hàng
tăng lên
Thay đổi của các quy định của tín dụng điều chỉnh mối quan hệ giữa ngời đi

RRTD trên hai khía cạnh
a) Đối với ngân hàng cấp tín dụng.
RRTD ảnh hởng đến uy tín, sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trờng Tài
chính-Tín dụng-Ngân hàng, vì vậy ảnh hởng đến thu nhập của ngân hàng. Không
phải chỉ giảm thu nhập từ hoạt động tín dụng mà còn từ các hoạt động khác do
hoạt động tín dụng có tác động rất lớn đến các hoạt động khác của ngân hàng
Rủi ro tiềm năng đe doạ thu nhập của ngân hàng. Khi rủi ro xẩy ra, ngân hàng
bị tổn thất, lợi nhuận kinh doanh bị giảm sút. Để hạn chế RRTD các ngân hàng
phải lập quỹ dự phòng rủi ro từ lợi nhuận của ngân hàng nên làm cho lợi nhuận bị
giảm sút. Nếu RRTD xẩy ra ở mức độ cao mà lợi nhuận không đủ bù đắp, ngân
hàng phải dùng tới vốn tự có . tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng
giá trị tài sản là rất nhỏ nên có thể đẩy ngân hàng tới nguy cơ mất khả năng thanh
toán và phá sản.
RRTD xẩy ra làm cho ngân hàng không thu đợc vốn và lãi theo đúng thời hạn
trong HĐTD để tiếp tục thực hiện hoạt động cấp tín dụng. Nh vậy RRTD sẽ làm
giảm tốc độ vòng quay vốn của ngân hàng dẫn đến làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn, giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, kết quả là uy tín và sức cạnh tranh
của ngân hàng cũng giảm theo.
b) Đối với nền kinh tế
Nh đã nói ở trên, vai trò của TDNH là rất quan trọng trong việc điều hoà các
nguồn vốn trong nền kinh tế. Khi RRTD xẩy ra, các nguồn vốn trong xã hội sẽ
không thể luân chuyển một cách liên tục, giảm khả năng cung cấp vốn cho nền
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS TS Cao Cự Bội
kinh tế. Nếu RRTD càng lớn nghĩa là nguồn vốn trong nền kinh tế không đợc phân
bổ hợp lý. Hiệu quả sử dụng vốn vì thế rất thấp, ảnh hởng tới sự phát triển của nền
kinh tế nói chung.
ở mức độ nghiêm trọng hơn là RRTD kéo dài, khả năng thanh toán của các
ngân hàng không thể đáp ứng đợc nhu cầu rút vốn của khách hàng. Khi đó mất khả
năng thanh toán, từ đó sẽ gây khủng hoảng dây chuyền trong toàn hệ thống và cuối

càng thấp, tổn thất tín dụng càng cao.
+ Tỷ lệ tổng giá trị tài sản có rủi ro trong kỳ/ tổng giá trị các tài sản có
sinh lợi trong kỳ. Tỷ lệ này cho biết cứ 100 đồng tài sản có sinh lời thì có ? tài
sản có có thể bị rủi ro trong kỳ.
+ Tỷ lệ tổng giá trị tài sản có rủi ro trong kỳ/tổng d nợ bình quân. Tỷ lệ
này cho biết cứ 100 đồng d nợ thì có ? đồng tài sản có có thể bị rủi ro trong kỳ.
+ Tỷ lệ phân bổ dự phòng tổn thất hàng năm/ tổng d nợ hoặc tổng vốn chủ
sở hữu. Tỷ lệ cho biết cứ 100 đồng tổng d nợ (hoặc tổng vốn chủ sở hữu) thì phải
trích ra bao nhiêu đồng để dự phòng bù đắp rủi ro. Nó phản ánh sự chuẩn bị của
ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua trích lập quỹ dự phòng tổn
thất tín dụng hàng năm từ thu nhập giữ lại.
I.2.2.8. mối quan hệ giữa RRTD và quản lý RRTD.
RRTD và hoạt động tín dụng là một loạt các hoạt động mà ngân hàng thực
hiện nhằm phát hiện, phòng ngừa, hạn chế, xử lý RRTD kể từ khi đặt mối quan hệ
với khách hàng cho đến khi thực hiện hoàn tất quy trình tín dụng
Quan hệ giữa RRTD và quản lý RRTD trong hoạt động TDNH có thể nói là
mối quan hệ biện chứng. Bởi lẽ hoạt động tín dụng luôn có rủi ro cho nên các ngân
hàng phải bắt buộc thực hiện quản lý rủi ro, ngợc lại quản lý RRTD là nhằm phòng
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Tâm Ngân hàng 41B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status