Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại sở giao dịch 1_ngân hàng công thương VN - Pdf 79

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong những năm qua, cùng với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế,
hoạt động ngân hàng nói chung và trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói riêng
đã có những đóng góp tích cực, góp phần làm thay đổi đời sống kinh tế xã hội
(KT-XH) của nớc ta.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh nền KT-XH đất nớc đang từng bớc có những
chuyển biến về cơ chế, chính sách cho phù hợp với nền KTTT thì hoạt động tín
dụng ngân hàng trong suốt thời gian qua cũng bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế
cần có những biện pháp hữu hiệu để tháo gỡ, khắc phục. Một trong những đặc
trng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt động ngân hàng là rủi ro tín
dụng (RRTD). Đây là một vấn đề nan giải, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nó
không những làm tổn hại đến tài sản, uy tín của một ngân hàng mà còn có thể
gây phá sản cả một hệ thống ngân hàng, ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế. Lịch
sử đã chứng minh tại các nớc t bản phát triển nh Mỹ, Anh, Nhật... mặc dù hệ
thống pháp luật đã hoàn chỉnh, hoạt động NHTM đã trải qua thời kỳ dài có kinh
nghiệm trong việc xây dựng quy chế, thanh tra giám sát, kiểm tra, thiết lập các
quỹ dự phòng khổng lồ, quỹ bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm tiền gửi... vậy mà gần
nh năm nào các nớc này cũng có ngân hàng bị phá sản. Tại Việt Nam trong
những năm 89-90 đã xảy ra sự đổ vỡ của gần 500 quỹ tín dụng ở các thành phố,
gần đây trong các năm 95-99 là sự chao đảo của các NHTM cổ phần. Do vậy
RRTD luôn là nỗi lo của các NHTM và việc hạn chế RRTD là vấn đề cấp thiết
trong hoạt động của NHTM. Sự nghiên cứu về RRTD vừa mang tính kế hoạch
vừa mang tính thực tiễn thể hiện ở chỗ nó góp phần hệ thống hoá lý luận về vấn
đề nghiên cứu và đóng góp những biện pháp để giải quyết những vấn đề mà
thực tiễn đặt ra.
Do thấy đợc tầm quan trọng của việc hạn chế RRTD trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng và qua thời gian thực tập tại Sở Giao Dịch I- Ngân hàng
Công Thơng Việt Nam, đợc xem xét số liệu từ năm2001 -2003 em đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Sở Giao Dịch I-


triển nền kinh tế xã hội đợc xuất phát từ chính các mặt hoạt động của ngân
hàng. Một trong những hoạt động đặc trng của ngân hàng là hoạt động TD.
Tín dụng đợc định nghĩa nh là: một giao dịch về tài sản (tiền hoăc hàng
hoá ) giữa bên cho vay (NH và các định chế tài chính khác) va bên đi vay (cá
nhân,doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao
tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho
vay khi đến hạn thanh toán .
Đối với một NHTM, TDNH có ý nghĩa là sự cho vay hay ứng trớc tiền do
ngân hàng thực hiện. Bản thân ngân hàng là ngời cho vay còn ngời đi vay là
khách hàng của ngân hàng. Giá ngân hàng ấn định cho khách hàng khi đi vay là
lợi tức và lãi suất hoặc tiền hoa hồng mà họ phải trả trong suốt thời gian tồn tại
của khoản ứng trớc.
Hoạt động TD là hoạt động đa dạng, là một loại kinh doanh tiền tệ phức
tạp. Tính phức tạp của nó chính là đối tợng kinh doanh, đó là tiền tệ, và ở đây
tiền tệ đã bị tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho vay.
Trong khái niệm TD hoặc TDNH ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và
cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra. Và cần có
một sự tín nhiệm hay nguyên tắc nhất định khi cho vay. TDNH đợc thực hiện
theo 3 nguyên tắc:
+ Vốn vay phải đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã đăng
ký trong HĐTD

3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả
+ Vốn vay phải đợc đảm bảo bằng hàng hoá có giá trị tơng đơng.
1.1.2. Phân loại TDNH
Trong nền KTTT, hoạt động TD rất đa dạng và phong phú với nhiều hình
thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý TD có hiệu quả thì phải tiến hành phân

cầu tập trung vốn. Sự phân phối của tín dụng tuân theo một vòng tuần hoàn từ
khi cho vay đến vốn tín dụng đợc sử dụng theo nhu cầu và sau khi hoàn thành
việc tham gia vào quá trình phục vụ nhu cầu, trở lại hình thái tiền tệ thì nó đợc
hoàn trả ngời cho vay. Đây là bản chất vận động của tín dụng. Đó là sự vận
động với t cách lợng giá trị vận động, do đó lợng giá trị này luôn đợc bảo tồn
theo thời gian khi hoàn trả.
1.1.3.2. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế.
Khả năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của TDNH là rộng lớn hơn so
với các hình thức TD khác. Bên cạnh quan hệ tín dụng đối với các doanh nghiệp
và cá nhân, ngân hàng còn có quan hệ về tiền tệ, thanh toán với họ. Các mối
quan hệ này bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát các
doanh nghiệp dễ dàng hơn. Không những thế, tín dụng cũng phản ánh một cách
tổng hợp và nhạy bén đối với mọi biến đổi của nền kinh tế. Thông qua hoạt
động thu vốn nhàn rỗi có thể đánh giá đợc tình hình tiêu dùng, tiết kiệm và các
tiềm năng khác của nền kinh tế. Mặt khác, thông qua hoạt động cấp vốn có thể
đánh giá đợc khả năng phát triển của các ngành các lĩnh vực, sự hợp lý của cơ
cấu nền kinh tế qua đó có sự điều chỉnh cơ cấu đầu t cho phù hợp. Do đó tín
dụng đợc coi là công cụ quan trọng để nhà nớc kiểm soát và thực hiện các chiến
lợc phát triển kinh tế.
1.1.4.Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.4.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự tồn tại và phát triển của
bản thân ngân hàng.
Trớc hết hoạt động tín dụng ngân hàng là 1 trong 3 hoạt động tiền đề cho
sự ra đời của NHTM, đây cũng là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Bởi lẽ, khoản mục tín dụng chiếm khoảng 70% tổng tài sản và
các khoản mục tín dụng này mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Vì vậy
việc duy trì và mở rộng tín dụng mang một ý nghĩa sống còn với các NHTM.
Khi các ngân hàng không thực hiện đợc duy trì và mở rộng thì vốn ngân hàng

5

triển kinh tế cũng nh đối với hoạt động kinh doanh của NHTM. Để phát huy vai

6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trò đó, các nớc trên thế giới đã sử dụng tín dụng ngân hàng nh một công cụ đắc
lực để thúc đẩy phát triển KT-XH. Tuy nhiên, đây lại là một hoạt động tiềm ẩn
rất nhiều rủi ro khó lờng trớc. Để tín dụng ngân hàng thực sự phát huy vai trò
của mình, nghiên cứu rủi ro tín dụng là một yêu cầu cần thiết.
1.2. Rủi ro tín dụng của NHTM.
1.2.1. Những vấn đề chung về rủi ro trong kinh doanh của NHTM.
1.2.1.1. Khái niệm về rủi ro ngân hàng.
Cũng nh với bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi
ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm,
hoạt động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hởng của rất nhiều loại rủi
ro. Rủi ro của ngân hàng có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau
nhng đều có bản chất chung đó là khả năng xẩy ra những tổn thất cho ngân
hàng.
Một số quan điểm cho rằng, rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với
ngân hàng. Một số khác lại cho rằng rủi ro chỉ là những tổn thất xảy ra ngoài dự
kiến.
Dù có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro, nhng tựu chung lại có
thể rút ra các kết luận sau:
+ Rủi ro ngân hàng là khả năng xẩy ra những tổn thất trong hoạt động
ngân hàng, nằm ngoài ý muốn của ngân hàng.
+ Rủi ro đợc xem là một biến cố ngẫu nhiên, tuy nhiên ta có thể xác định
đợc khả năng xuất hiện của rủi ro để lờng trớc hậu quả có thể xảy ra.
+ Mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý của đơn vị, không
thể coi rủi ro là hoàn toàn không thể tránh khỏi và để nó tự vận động. Rủi ro có
thể đợc hạn chế khi tăng cờng khả năng kiểm soát của đơn vị mà điều này lại
phụ thuộc chủ yếu vào trình độ quản lý của đơn vị kinh doanh.

1.2.1.4. Mối quan hệ rủi ro-lợi nhuận trong hoạt động của các NHTM.
Theo quy luật này thì các chủ thể kinh tế phải chấp nhận một mức độ rủi
ro, hoặc điều chỉnh giảm thiểu rủi ro tới một mức độ nhất định nào đó sao cho
hợp lý để hy vọng đạt đợc phần lớn lợi nhuận bù đắp mức độ rủi ro đó. Mối
quan hệ ở đây mang tính tỷ lệ thuận nhiều hơn, tuy nhiên nói nh vậy không có
nghĩa là cứ rủi ro càng cao thì kiếm đợc lợi nhuận càng nhiều, mà muốn đợc
nhiều lợi nhuận thì ngoài việc chấp nhận rủi ro hợp lý còn phải có nhiều yếu tố

8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khác kết hợp. Trong đó quan trọng nhất là phải có đầu óc kinh doanh, nắm bắt
đợc thời cơ và biến thời cơ thành hiện thực. Ngân hàng cũng vậy, không phải là
càng gặp nhiều rủi ro thì càng thu đợc nhiều lợi nhuận mà vấn đề là phải quản
lý đợc danh mục đầu t một cách hợp lý. Đó chính là việc ngân hàng chấp nhận
cơ cấu rủi ro hợp lý để hy vọng kiếm đợc lợi nhuận để tồn tại và phát triển.
1.2.2. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM.
1.2.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động thờng xuyên và chủ yếu của ngân hàng.
Do đó rủi ro tín dụng cũng là rủi ro thờng gặp nhất trong hoạt động ngân hàng.
Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm rủi ro tín dụng:
+ Rủi ro tín dụng là quá trình hàm chứa nguy cơ vốn và lãi không đợc
hoàn trả đúng hạn.
+ Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có khi cấp tín dụng cho một
khách hàng.
Nh vậy, ngay từ khi cấp tín dụng cho khách hàng, khoản tín dụng đó đã có
rủi ro. Chỉ có điều, đó mới chỉ là rủi ro tiềm năng. Còn khi phát sinh việc vốn và
lãi không đợc trả đúng hạn thì khi đó rủi ro đã xảy ra, đã trở thành hiện thực. Từ
đó ta có thể đi đến khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián
tiếp) xuất phát từ ngời đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo

đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn đợc xác
định trớc trong chiến lợc hoạt động chung của ngân hàng.
1.2.2.3.Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng.
Trên thực tế, rủi ro tín dụng cũng rất phức tạp và đa dạng nh chính hoạt
động tín dụng vốn đã đa dạng, phức tạp. Cũng có nhiều cách phân loại nhng ở
đây ta chỉ nghiên cứu hai cách phân loại cơ bản.
Trên phơng diện quản lý, rủi ro đợc chia làm 2 loại: rủi ro tín dụng có thể
kiểm soát đợc và rủi ro tín dụng không thể kiểm soát đợc.
+ Rủi ro tín dụng có thể kiểm soát đợc (hay còn gọi là rủi ro khả kháng) là
loại rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán đợc chủ thể gây ra
rủi ro đó, ớc tính đợc mức độ ảnh hởng, dự kiến đợc thời gian chúng phát
sinh...mà từ đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp
nhất có thể. Những rủi ro tín dụng thuộc loại này thờng do chủ quan con ngời

10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gây ra, cụ thể có thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây cho
mình. Tuy nhiên, khách hàng thờng chủ yếu gây ra loại rủi ro này.
+ Rủi ro không thể kiểm soát đợc (rủi ro bất khả kháng) là loại rủi ro tín
dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán, không thể biết chúng sẽ xẩy ra vào
thời điểm nào, cũng không thể tính toán đợc một cách chính xác nhất những
ảnh hởng mà chúng gây ra. Những rủi ro tín dụng này thờng không do con ngời
gây ra mà chủ yếu la do những bất lợi về yếu tố tự nhiên gây ra nh hạn hán, lũ
lụt, mất mùa, hoả hoạn...Các NHTM thờng phải tập trung vào ngăn chặn những
những rủi ro có thể kiểm soát đợc, còn những rủi ro không thể kiểm soát đợc thì
chỉ có cách là chống đỡ.
Ngoài cách phân loại trên thì dựa vào tính chất của rủi ro tín dụng mà ta có
thể chia ra làm 2 loại: rủi ro sai hẹn và rủi ro mất vốn.
+ Rủi ro sai hẹn là rủi ro tín dụng xẩy ra khi ngời cho vay vốn ngân hàng
không hoàn trả đủ gốc, lãi hoặc cả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn đã cam kết

thờng của hàng tồn kho, các khoản phải thu. Hoặc hoạt động sản xuất kinh
doanh bị ảnh hởng bởi các yếu tố khách quan nh bão, lũ lụt, hoả hoạn, hạn hán
hay do mất trộm.
+Sự thay đổi trong cơ cấu quản lý kinh doanh đợc thể hiện dới các hình
thức nh thu hẹp quy mô sản xuất và chủng loại sản phẩm, công nhân nghỉ
việc...Việc thực hiện công tác điều hành chuyên môn hoá kém chất lợng. Sự
thay đổi này tạo tâm lý hoang mang đối với các đối tác, bạn hàng.
+ Ngời vay cố tình trì hoãn việc nộp báo cáo tài chính cho ngân hàng. Ng-
ời vay có thái độ lỡng lự cố tình gây chậm trễ khi xắp xếp cho cán bộ tín dụng
đi thăm cơ sở sản xuất kinh doanh.
+ Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích.
Các biểu hiện của một món vay có vấn đề rất đa dạng. Trên cơ sở các dấu
hiệu đó, thông qua việc phân tích và phán đoán tình hình, xu hớng của hoạt
động tín dụng, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và của nền kinh
tế cán bộ tín dụng cần tìm ra biện pháp hợp lý hoặc là thu hồi khoản cho vay
hoặc là t vấn hỗ trợ khách hàng vợt qua giai đoạn khó khăn, hoàn trả gốc và lãi
vay đúng hạn.
Ngoài ra, những khoản vay nh sau cũng đợc xếp vào loại nợ có vấn đề:

12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Số d nợ đó đã đợc gia hạn nhiều lần, thậm chí thời gian gia hạn dài hơn
kỳ hạn cho vay lần đầu.
+ Số d nợ đó đã đợc đảo nợ nhiều lần (cho vay mới để thu hồi nợ cũ), có
trờng hợp kế toán đã chuyển sang nợ quá hạn, lại chuyển vào hạch toán trong
hạn.
+ Khách hàng dùng vốn vay của ngân hàng để trả nợ ngân hàng khác.
+ Nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng với cùng một tài sản thế
chấp mà hoàn toàn không hay biết.
Nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ khoanh chờ xử lý

chắc khả năng bị mất vốn.
Xét theo nguyên nhân, ngời ta có thể chia NQH theo một số nguyên
nhân chính sau:
+ Những thay đổi trong chính sách của nhà nớc
+ Do khách hàng yếu kém, hoạt động kinh doanh không hiệu quả.
+ Do khách hàng cố tình lừa đảo
+ Do cán bộ tín dụng yếu kém, tiếp tay cho khách hàng lừa đảo.
Trong trờng hợp do khách hàng hoạt động kinh doanh yếu kém, song thấy
có khả năng phục hồi, ngân hàng có thể cho phép gia hạn nợ, cha chuyển sang NQH.
Trờng hợp khách hàng cố tình lừa đảo hay do cán bộ tín dụng phẩm chất
yếu kém, những khoản nợ đó thờng đợc chuyển sang NKĐ, vì khả năng thu hồi
là hầu nh không có.
Những thay đổi trong chính sách quản lý của nhà nớc gây khó khăn đối
với việc hoàn trả nợ vay cuả khách hàng đối với ngân hàng, hình thành nên
khoản NQH. Nếu không thu hồi đợc ngân hàng có thể chuyển lên chính phủ để
chờ xử lý giải quyết, hình thành khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Xét theo khả năng thu hồi, có thể chia NQH thành 3 loại sau:
+ NQH có thể thu hồi 100%
+ NQH có thể thu hồi một phần
+ NQH không có khả năng thu hồi.
Việc phân loại các khoản NQH theo khả năng thu hồi phản ánh rõ nhất
mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. NQH không có khả năng thu hồi càng
cao thì rủi ro về nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng lớn. Tuy nhiên việc phân

14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
loại này thờng khó chính xác vì khả năng thu hồi của khoản nợ thì đợc xác định
theo những nghiên cứu và dự đoán. Nói cách khác, tài sản có sinh lời đã chuyển
sang tài sản có không sinh lời mà còn nắm chắc nguy cơ trắng tay. Với những
khoản nợ này, NHTM phải có quỹ dự phòng bù đắp rủi ro đủ lớn để có thể loại

hết hạn cũng không đốc thúc thờng xuyên dẫn đến tình trạng khách hàng dây da
không trả nợ.
Quá coi trọng tài sản thế chấp, cầm cố nên buông lỏng quản lý. Đến khii
khách hàng không trả đợc nợ, khả năng thu nợ bằng tiền thực sự từ phát mại
những tài sản này không phải dễ, kết quả là ngân hàng không thu đợc đủ cả gốc
và lãi.
Quá nhấn mạnh vào lợi tức, đặt mong ớc về lợi tức cao hơn các khoản cho
vay lành mạnh. Mong muốn chiến thắng trong cạnh tranh bằng cách tăng tỷ
trọng cho vay nhiều hơn các ngân hàng khác mà ít quan tâm tới mức độ rủi ro
của các khoản cho vay.
Sự bất hợp lý trong chính sách tín dụng của chính ngân hàng về quy mô,
kỳ hạn nợ. Kỳ hạn nợ không hợp lý nh ngắn hơn chu kỳ sinh trởg của cây, ngắn
hơn chu kỳ kinh doanh khiến khách hàng cha kịp thu hồi vốn để trả nợ cho ngân
hàng làm phát sinh NQH.
Nguyên nhân khách quan:
Cũng có rất nhiều nguyên nhân khách quan từ phía ngân hàng nh:
Nhiều khi sử lý thu hồi NQH gặp phải rủi ro, rất nhiều khó khăn vì phải
trải qua nhiều thủ tục rờm rà, có trờng hợp ngân hàng phải mất vốn do các quy
định của pháp luật cha bảo vệ đợc lợi ích bình đẳng giữa ngân hàng và khách
hàng.
Do chính sách, thể lệ tín dụng của NHTM còn cha đầy đủ hoàn thiện, luôn
có sự biến đổi, vì vậy mà có thể bị bỏ qua một số khoản cho vay nào đó.
Tài sản đảm bảo tín dụng bị giảm giá do biến động của giá cả thị trờng,
chất lợng tài sản thế chấp bị suy giảm do hao mòn tự nhiên và hao mòn hữu
hình hoặc phát sinh một số trờng hợp hết thời hạn bảo quản. Các điều khoản
pháp luật liên quan về thuế, quyền sử dụng đất, bán đấu giá tài sản còn có nhiều
điểm bất lợi cho ngân hàng. Đơn cử nh việc khi thanh lý, phát mại tài sản để thu
hồi nợ mà vẫn phải chịu mức thuế chung dẫn tới giảm giá trị. Khó phát mại tài
sản làm cho ngân hàng không thu đợc đủ nợ gốc và chi phí cho vay


Do có sự thay đổi trong môi trờng chính trị ở những nớc là thị trờng tiêu
thụ hàng hoá xuất khẩu, có thể dẫn tới mất thị trờng tiêu thụ, từ đó hàng hóa sản

17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuất ra sẽ không bán đợc do đó thua lỗ là nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân
hàng.
Trên thị trờng có hành vi cạnh tranh không lành mạnh nh hành vi làm hàng
giả, buôn lậu...làm cho hàng hoá bán ra của doanh nghiệp suy giảm dẫn đến
giảm doanh thu, lợi nhuận từ đó ảnh hởng đến khả năng trả nợ.
Do trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp gặp phải các rủi
ro bất khả kháng nh thiên tai, địch hoạ...làm gián đoạn hoặc thiệt hại cho các
doanh nghiệp.
Do các nguyên nhân khác
Ngoài các nguyên nhân kể trên thì còn có một số nguyên nhân khác cũng
gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng:
Do có những thông tin không minh bạch về ngân hàng dẫn đến khách hàng
của ngân hàng ồ ạt kéo nhau đến rút vốn gây rủi ro thanh khoản cho ngân hàng
từ đó gây ra sự mất lòng tin của khách hàng gián tiếp gây rủi ro tín dụng.
Do biến động tỷ giá, lãi suất cung cầu làm cho chi phí cơ hội của ngân
hàng tăng lên
Thay đổi của các quy định của tín dụng điều chỉnh mối quan hệ giữa ngời
đi vay và ngời cho vay theo hớng bất lợi cho ngân hàng hoặc khách hàng.
Do cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM với nhau về các loại kỳ
hạn và lãi suất cho vay.
Tóm lại, trong nhiều nguyên nhân kể trên thì nguyên nhân nào cũng ảnh h-
ởng xấu đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói
riêng. Trong số đó các nguyên nhân do phía khách hàng gây ra là chủ yếu, đòi
hỏi ngân hàng phải luôn dự đoán gắt gao, phân tích đánh giá tìm biện pháp
phòng ngừa hạn chế. Còn với các nguyên nhân do ngân hàng thì ngân hàng

hàng phải lập quỹ dự phòng rủi ro từ lợi nhuận của ngân hàng nên làm cho lợi
nhuận bị giảm sút. Nếu RRTD xẩy ra ở mức độ cao mà lợi nhuận không đủ bù
đắp, ngân hàng phải dùng tới vốn tự có . tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của ngân
hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên có thể đẩy ngân hàng tới nguy cơ
mất khả năng thanh toán và phá sản.
RRTD xẩy ra làm cho ngân hàng không thu đợc vốn và lãi theo đúng thời
hạn trong HĐTD để tiếp tục thực hiện hoạt động cấp tín dụng. Nh vậy RRTD sẽ

19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
làm giảm tốc độ vòng quay vốn của ngân hàng dẫn đến làm giảm hiệu quả sử
dụng vốn, giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, kết quả là uy tín và sức
cạnh tranh của ngân hàng cũng giảm theo.
Đối với nền kinh tế
Nh đã nói ở trên, vai trò của TDNH là rất quan trọng trong việc điều hoà
các nguồn vốn trong nền kinh tế. Khi RRTD xẩy ra, các nguồn vốn trong xã hội
sẽ không thể luân chuyển một cách liên tục, giảm khả năng cung cấp vốn cho
nền kinh tế. Nếu RRTD càng lớn nghĩa là nguồn vốn trong nền kinh tế không đ-
ợc phân bổ hợp lý. Hiệu quả sử dụng vốn vì thế rất thấp, ảnh hởng tới sự phát
triển của nền kinh tế nói chung.
ở mức độ nghiêm trọng hơn là RRTD kéo dài, khả năng thanh toán của
các ngân hàng không thể đáp ứng đợc nhu cầu rút vốn của khách hàng. Khi đó
mất khả năng thanh toán, từ đó sẽ gây khủng hoảng dây chuyền trong toàn hệ
thống và cuối cùng là ảnh hởng nặng nề đến nền kinh tế. Dù trên phạm vi quốc
gia, khu vực hay quốc tế thì cũng gây suy thoái kinh tế ảnh hởng tới đời sống
kinh tế xã hội của hàng tỷ ngời.
1.2.2.7. Các chỉ tiêu đo lờng rủi ro tín dụng ngân hàng.
Muốn quản lý đợc RRTD thì ngời ta phải ớc lợng, đo lờng chúng theo một
số chỉ tiêu để có thể xác định một cách tơng đối mức độ ảnh hởng của chúng.
Để đo lờng đợc RRTD, ngời ta tiến hành phân loại theo khả năng sinh lợi của

ro trong kỳ.
+ Tỷ lệ phân bổ dự phòng tổn thất hàng năm tổng d nợ hoặc tổng vốn
chủ sở hữu. Tỷ lệ cho biết cứ 100 đồng tổng d nợ (hoặc tổng vốn chủ sở hữu)
thì phải trích ra bao nhiêu đồng để dự phòng bù đắp rủi ro. Nó phản ánh sự
chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua trích lập quỹ
dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập giữ lại.
1.2.2.8. Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng.
Nh trên đã khẳng định, trong nền KTTT, rủi ro là tất yếu. Các ngân hàng
không thể không cho vay để tránh rủi ro vì nh thế sẽ không có thu nhập từ hoạt
động cho vay, một hoạt động vốn mang lại nhiềulợi nhuận nhất cho ngân hàng.
Ngân hàng cũng không thể cho vay ồ ạt để thu đợc nhiều lãi mà không tính đến
rủi ro của các khoản cho vay. Nh vậy cần tìm ra một loạt các biện pháp để ngân

21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng vẫn tiến hành cho vay để thu lợi nhuận đồng thời giảm thiểu rủi ro do các
khoản vay đem lại. Em xin đề xuất một số biện pháp sau:
Tiến hành phân tích tín dụng trớc khi cho vay. Phân tích tín dụng bao gồm
công việc thu thập thông tin liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đối với việc đánh
giá tín dụng, việc chuẩn bị và phân tích thông tin thu thập đợc và việc lu lại
thông tin để sử dụng trong tơng lai.
Đa dạng hoá danh mục đầu t: nghĩa là hớng các hoạt động tín dụng đến đa
dạng mà các hậu quả của các hoạt động tín dụng đó không liên quan chặt chẽ
với nhau từ đó RRTD giảm đi một cách đáng kể. Tuy nhiên việc làm này chỉ
giảm đợc RRTD đặc thù riêng biệt của các ngành kinh tế (rủi ro phi hệ thống),
tuy nhiên rủi ro có tính chất hệ thống, chung cho cả nền kinh tế có ảnh hởng
đến tất cả các ngành kinh tế thì không thể loại trừ đợc.
Trích lập quỹ dự phòng rủi ro.
Dự phòng rủi ro đợc trích lập trên cơ sở vốn bị mất tức là số vốn ngân hàng
không có khả năng thu hồi. Phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm đợc

ngời.
Tóm lại tín dụng là sự chuyển nhợng vốn từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng
với mục đích thu về một lợng vốn lớn hơn và sự chuyển nhợng đó luôn tiềm ẩn
rủi ro. Với ngân hàng, RRTD sẽ xuất hiện khi có nguy cơ không thu hồi đầy đủ
và đúng hạn cả vốn lẫn lãi. Nguyên nhân gây ra rủi ro này đến từ hai phía khách
quan và chủ quan. Để tránh những ảnh hởng xấu do RRTD gây ra, các ngân
hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để quản lý hạn chế RRTD. Mỗi biện pháp đợc
áp dụng ra sao và mang lại hiểu qủa nh thế nào còn phụ thuộc vào khả năng và
điều kiện, tình hình hoạt động cụ thể của mỗi ngân hàng. Và đây cũng là nội
dung chủ yếu đợc đề cập đến trong chơng tiếp theo. Nghiên cứu thực trạng hoạt
động tín dụng và tình hình RRTD tại Sở Giao Dịch I- Ngân hàng Công Thơng
Việt Nam .

23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng 2
Thực trạng hoạt động tín dụng và
tình hình RRTD tại Sở Giao Dịch I- Ngân
hàng Công Thơng Việt Nam
2.1. Khái quát về Sở Giao Dịch I- Ngân hàng Công Thơng Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Sở Giao Dịch I- Ngân hàng
Công Thơng Việt Nam .
Có thể phân chia quá trình phát triển của Sở Giao Dịch I- Ngân hàng Công
Thơng Việt Nam thành 3 giai đoạn chủ yếu sau:
Từ năm 1988 đến 1/4/1993
Từ 1/4/1993 đến 31/12/1998
Từ 1/1/1999 đến nay
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1988 đến 1/4/1993
Là Ngân hàng Công Thơng Hà Nội. Trong giai đoạn này, cơ sở vật chất
kỹ thuật của ngân hàng còn nghèo nàn, sản phẩm dịch vụ đơn điệu, kinh doanh

Trong những năm qua, Sở Giao Dịch I- Ngân hàng Công Thơng Việt Nam
có vị trí quan trọng trong hệ thống Ngân hàng Công Thơng Việt Nam. Các chỉ
tiêu kinh tế cơ bản luôn đứng đầu hệ thống Ngân hàng Công Thơng Việt Nam,
trong đó nguồn vốn luôn chiếm khoảng 20%, d nợ và đầu t đứng một trong hai
vị trí đầu trong hệ thống Ngân hàng Công Thơng Việt Nam. Lợi nhuận hạch
toán nội bộ luôn cao nhất, năm 2001 chiếm tới 50% trong toàn hệ thống.
Sở luôn đợc chọn làm nơi thí điểm cho sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng
Công Thơng Việt Nam, là đầu mối cho các chi nhánh trên địa bàn để triển khai
các chơng trình hợp tác của Ngân hàng Công Thơng Việt Nam với các đối tác
và bạn hàng.
2.1.2.2. Nghĩa vụ và quyền hạn
Nghĩa vụ

25

Trích đoạn Cần chuyên môn hoá cán bộ tín dụng trong hoạt động kinh doanh Hoàn thiện quy trình tín dụng Một số kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại SGDI-NHCT VN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status