Lời mở đầu
Trong những năm qua, cùng với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế,
hoạt động ngân hàng nói chung và trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói riêng
đã có những đóng góp tích cực, góp phần làm thay đổi đời sống kinh tế xã hội
(KT-XH) của nớc ta.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh nền KT-XH đất nớc đang từng bớc có những
chuyển biến về cơ chế, chính sách cho phù hợp với nền KTTT thì hoạt động tín
dụng ngân hàng trong suốt thời gian qua cũng bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế
cần có những biện pháp hữu hiệu để tháo gỡ, khắc phục. Một trong những đặc
trng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt động ngân hàng là rủi ro tín
dụng (RRTD). Đây là một vấn đề nan giải, nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nó
không những làm tổn hại đến tài sản, uy tín của một ngân hàng mà còn có thể
gây phá sản cả một hệ thống ngân hàng, ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế. Lịch
sử đã chứng minh tại các nớc t bản phát triển nh Mỹ, Anh, Nhật... mặc dù hệ
thống pháp luật đã hoàn chỉnh, hoạt động NHTM đã trải qua thời kỳ dài có kinh
nghiệm trong việc xây dựng quy chế, thanh tra giám sát, kiểm tra, thiết lập các
quỹ dự phòng khổng lồ, quỹ bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm tiền gửi... vậy mà gần
nh năm nào các nớc này cũng có ngân hàng bị phá sản. Tại Việt Nam trong
những năm 89-90 đã xảy ra sự đổ vỡ của gần 500 quỹ tín dụng ở các thành phố,
gần đây trong các năm 95-99 là sự chao đảo của các NHTM cổ phần. Do vậy
RRTD luôn là nỗi lo của các NHTM và việc hạn chế RRTD là vấn đề cấp thiết
trong hoạt động của NHTM. Sự nghiên cứu về RRTD vừa mang tính kế hoạch
vừa mang tính thực tiễn thể hiện ở chỗ nó góp phần hệ thống hoá lý luận về vấn
đề nghiên cứu và đóng góp những biện pháp để giải quyết những vấn đề mà
thực tiễn đặt ra.
Do thấy đợc tầm quan trọng của việc hạn chế RRTD trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng và qua thời gian thực tập tại Sở Giao Dịch I- Ngân hàng
Công Thơng Việt Nam, đợc xem xét số liệu từ năm2001 -2003 em đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Sở Giao Dịch I-
1
hoá ) giữa bên cho vay (NH và các định chế tài chính khác) va bên đi vay (cá
nhân,doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao
tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho
vay khi đến hạn thanh toán .
Đối với một NHTM, TDNH có ý nghĩa là sự cho vay hay ứng trớc tiền do
ngân hàng thực hiện. Bản thân ngân hàng là ngời cho vay còn ngời đi vay là
khách hàng của ngân hàng. Giá ngân hàng ấn định cho khách hàng khi đi vay là
lợi tức và lãi suất hoặc tiền hoa hồng mà họ phải trả trong suốt thời gian tồn tại
của khoản ứng trớc.
Hoạt động TD là hoạt động đa dạng, là một loại kinh doanh tiền tệ phức
tạp. Tính phức tạp của nó chính là đối tợng kinh doanh, đó là tiền tệ, và ở đây
tiền tệ đã bị tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng khi cho vay.
Trong khái niệm TD hoặc TDNH ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và
cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra. Và cần có
một sự tín nhiệm hay nguyên tắc nhất định khi cho vay. TDNH đợc thực hiện
theo 3 nguyên tắc:
+ Vốn vay phải đợc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn đã đăng
ký trong HĐTD
3
+ Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả
+ Vốn vay phải đợc đảm bảo bằng hàng hoá có giá trị tơng đơng.
1.1.2. Phân loại TDNH
Trong nền KTTT, hoạt động TD rất đa dạng và phong phú với nhiều hình
thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý TD có hiệu quả thì phải tiến hành phân
loại TD. Có nhiều tiêu thức phân loại TD khác nhau:
+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng: có cho vay ngắn hạn (dới 12 tháng); cho
vay trung hạn (1-5 năm); cho vay dài hạn trên 5 năm
+Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: có cho vay không đảm
theo thời gian khi hoàn trả.
1.1.3.2. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động của nền kinh tế.
Khả năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của TDNH là rộng lớn hơn so
với các hình thức TD khác. Bên cạnh quan hệ tín dụng đối với các doanh nghiệp
và cá nhân, ngân hàng còn có quan hệ về tiền tệ, thanh toán với họ. Các mối
quan hệ này bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho ngân hàng kiểm soát các
doanh nghiệp dễ dàng hơn. Không những thế, tín dụng cũng phản ánh một cách
tổng hợp và nhạy bén đối với mọi biến đổi của nền kinh tế. Thông qua hoạt
động thu vốn nhàn rỗi có thể đánh giá đợc tình hình tiêu dùng, tiết kiệm và các
tiềm năng khác của nền kinh tế. Mặt khác, thông qua hoạt động cấp vốn có thể
đánh giá đợc khả năng phát triển của các ngành các lĩnh vực, sự hợp lý của cơ
cấu nền kinh tế qua đó có sự điều chỉnh cơ cấu đầu t cho phù hợp. Do đó tín
dụng đợc coi là công cụ quan trọng để nhà nớc kiểm soát và thực hiện các chiến
lợc phát triển kinh tế.
1.1.4.Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.4.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự tồn tại và phát triển của
bản thân ngân hàng.
Trớc hết hoạt động tín dụng ngân hàng là 1 trong 3 hoạt động tiền đề cho
sự ra đời của NHTM, đây cũng là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Bởi lẽ, khoản mục tín dụng chiếm khoảng 70% tổng tài sản và
các khoản mục tín dụng này mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Vì vậy
việc duy trì và mở rộng tín dụng mang một ý nghĩa sống còn với các NHTM.
Khi các ngân hàng không thực hiện đợc duy trì và mở rộng thì vốn ngân hàng
5
huy động đợc sẽ bị ứ đọng, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho phần vốn ứ đọng
trong khi không có thu nhập từ lãi cho vay khiến ngân hàng bị thua lỗ và có
khả năng rơi vào tình trạng phá sản. Hơn nữa, việc nâng cao chất lợng và mở
rộng hoạt động tín dụng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng phát triển thêm các hoạt
động khác nh mở tài khoản tại ngân hàng, dịch vụ t vấn, dịch vụ thanh toán,
của mình, nghiên cứu rủi ro tín dụng là một yêu cầu cần thiết.
1.2. Rủi ro tín dụng của NHTM.
1.2.1. Những vấn đề chung về rủi ro trong kinh doanh của NHTM.
1.2.1.1. Khái niệm về rủi ro ngân hàng.
Cũng nh với bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi
ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm,
hoạt động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hởng của rất nhiều loại rủi
ro. Rủi ro của ngân hàng có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau
nhng đều có bản chất chung đó là khả năng xẩy ra những tổn thất cho ngân
hàng.
Một số quan điểm cho rằng, rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với
ngân hàng. Một số khác lại cho rằng rủi ro chỉ là những tổn thất xảy ra ngoài dự
kiến.
Dù có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro, nhng tựu chung lại có
thể rút ra các kết luận sau:
+ Rủi ro ngân hàng là khả năng xẩy ra những tổn thất trong hoạt động
ngân hàng, nằm ngoài ý muốn của ngân hàng.
+ Rủi ro đợc xem là một biến cố ngẫu nhiên, tuy nhiên ta có thể xác định
đợc khả năng xuất hiện của rủi ro để lờng trớc hậu quả có thể xảy ra.
+ Mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý của đơn vị, không
thể coi rủi ro là hoàn toàn không thể tránh khỏi và để nó tự vận động. Rủi ro có
thể đợc hạn chế khi tăng cờng khả năng kiểm soát của đơn vị mà điều này lại
phụ thuộc chủ yếu vào trình độ quản lý của đơn vị kinh doanh.
+ Rủi ro do nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, nhng dù rủi
ro do nguyên nhân nào gây ra thì cũng đều có khả năng phòng ngừa với các ph-
ơng pháp khác nhau.
1.2.1.2. Các loại rủi ro trong kinh doanh của NHTM.
7
Có thể chia rủi ro trong hoạt động ngân hàng thành các loại sau:
8
khác kết hợp. Trong đó quan trọng nhất là phải có đầu óc kinh doanh, nắm bắt
đợc thời cơ và biến thời cơ thành hiện thực. Ngân hàng cũng vậy, không phải là
càng gặp nhiều rủi ro thì càng thu đợc nhiều lợi nhuận mà vấn đề là phải quản
lý đợc danh mục đầu t một cách hợp lý. Đó chính là việc ngân hàng chấp nhận
cơ cấu rủi ro hợp lý để hy vọng kiếm đợc lợi nhuận để tồn tại và phát triển.
1.2.2. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM.
1.2.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động thờng xuyên và chủ yếu của ngân hàng.
Do đó rủi ro tín dụng cũng là rủi ro thờng gặp nhất trong hoạt động ngân hàng.
Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm rủi ro tín dụng:
+ Rủi ro tín dụng là quá trình hàm chứa nguy cơ vốn và lãi không đợc
hoàn trả đúng hạn.
+ Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có khi cấp tín dụng cho một
khách hàng.
Nh vậy, ngay từ khi cấp tín dụng cho khách hàng, khoản tín dụng đó đã có
rủi ro. Chỉ có điều, đó mới chỉ là rủi ro tiềm năng. Còn khi phát sinh việc vốn và
lãi không đợc trả đúng hạn thì khi đó rủi ro đã xảy ra, đã trở thành hiện thực. Từ
đó ta có thể đi đến khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián
tiếp) xuất phát từ ngời đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo
cam kết hoặc mất khả năng thanh toán .
Khái niệm trên chỉ đúng khi xét một dự án riêng lẻ. Nhng nếu xét trong
mối quan hệ với các dự án khác thì rủi ro tín dụng không chỉ là thiệt hại về vốn
và lãi của khoản vay mà còn là thiệt hại mang tính chi phí cơ hội. Thậm chí
ngay cả khi khách hàng hoàn toàn có khả năng trả nợ cho ngân hàng thì rủi ro
tín dụng vẫn có thể xảy ra. Đó là rủi ro về việc ngân hàng mất cơ hội sử dụng
vốn vào những dự án có khả năng sinh lời lớn hơn. Tức là hoạt động tín dụng đã
hàm chứa một thiệt hại mang tính so sánh. Bên cạnh chi phí cơ hội, rủi ro tín
dụng còn là rủi ro về thời gian của tiền. Ngay cả khi vốn và lãi đợc trả đúng hạn
rủi ro đó, ớc tính đợc mức độ ảnh hởng, dự kiến đợc thời gian chúng phát
sinh...mà từ đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế ở mức thấp
nhất có thể. Những rủi ro tín dụng thuộc loại này thờng do chủ quan con ngời
10
gây ra, cụ thể có thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây cho
mình. Tuy nhiên, khách hàng thờng chủ yếu gây ra loại rủi ro này.
+ Rủi ro không thể kiểm soát đợc (rủi ro bất khả kháng) là loại rủi ro tín
dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán, không thể biết chúng sẽ xẩy ra vào
thời điểm nào, cũng không thể tính toán đợc một cách chính xác nhất những
ảnh hởng mà chúng gây ra. Những rủi ro tín dụng này thờng không do con ngời
gây ra mà chủ yếu la do những bất lợi về yếu tố tự nhiên gây ra nh hạn hán, lũ
lụt, mất mùa, hoả hoạn...Các NHTM thờng phải tập trung vào ngăn chặn những
những rủi ro có thể kiểm soát đợc, còn những rủi ro không thể kiểm soát đợc thì
chỉ có cách là chống đỡ.
Ngoài cách phân loại trên thì dựa vào tính chất của rủi ro tín dụng mà ta có
thể chia ra làm 2 loại: rủi ro sai hẹn và rủi ro mất vốn.
+ Rủi ro sai hẹn là rủi ro tín dụng xẩy ra khi ngời cho vay vốn ngân hàng
không hoàn trả đủ gốc, lãi hoặc cả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn đã cam kết
trong HĐTD.
+ Rủi ro mất vốn là rủi ro tín dụng xẩy ra khi ngời vay vốn ngân hàng
không hoàn trả gốc tiền vay một cách đầy đủ.
Dù với cách phân loại nào đi nữa thì rủi ro tín dụng luôn mang lại cho ngân
hàng nhiều hậu quả xấu. Để hạn chế rủi ro tín dụng cần phải có biện pháp để
quản lý đợc rủi ro tín dụng, khống chế nó ở một tỷ lệ hợp lý. Đó không phải là
một vấn đề đơn giản dễ thực hiện. Để thực hiện đợc vấn đề này, chúng ta cần
xem xét, tìm hiểu rủi ro tín dụng trên các khía cạnh trình bầy dới đây.
1.2.2.4. Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng ngân hàng.
Nợ có vấn đề: phản ánh rủi ro tiềm năng.
Khi ngân hàng cho khách hàng vay, quá trình sử dụng vốn của doanh
hiệu đó, thông qua việc phân tích và phán đoán tình hình, xu hớng của hoạt
động tín dụng, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và của nền kinh
tế cán bộ tín dụng cần tìm ra biện pháp hợp lý hoặc là thu hồi khoản cho vay
hoặc là t vấn hỗ trợ khách hàng vợt qua giai đoạn khó khăn, hoàn trả gốc và lãi
vay đúng hạn.
Ngoài ra, những khoản vay nh sau cũng đợc xếp vào loại nợ có vấn đề:
12
+ Số d nợ đó đã đợc gia hạn nhiều lần, thậm chí thời gian gia hạn dài hơn
kỳ hạn cho vay lần đầu.
+ Số d nợ đó đã đợc đảo nợ nhiều lần (cho vay mới để thu hồi nợ cũ), có
trờng hợp kế toán đã chuyển sang nợ quá hạn, lại chuyển vào hạch toán trong
hạn.
+ Khách hàng dùng vốn vay của ngân hàng để trả nợ ngân hàng khác.
+ Nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng với cùng một tài sản thế
chấp mà hoàn toàn không hay biết.
Nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ khoanh chờ xử lý
Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trng nhất của rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn đợc
hiểu là những khoản tín dụng ngân hàng mà vì nguyên nhân nào đó không đợc
thanh lý đủ và đúng hạn nh HĐTD
Nh vậy, nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo,
khi ngời đi vay vi phạm nguyên tắc của tín dụng là phải hoàn trả đầy đủ cả gốc
và lãi đúng hạn, gây đổ vỡ lòng tin của ngời cấp tín dụng đối với ngời đợc cấp
tín dụng.
Ngời ta thờng sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn (tỷ lệ nợ quá hạn =
NQH/D nợ) để đánh giá mức độ rủi ro của tín dụng ngân hàng. Tỷ lệ NQH càng
cao thì RRTD của ngân hàng sẽ càng lớn. NQH là vấn đề của tất cả các NHTM
ở mọi quốc gia. Cần nhìn nhận NQH nh một hiện tợng bình thờng của hoạt
động tín dụng, do vậy cần xác định một tỷ lệ NQH hợp lý là cần thiết. Hiện nay
nhiều nhà kinh tế cho rằng tỷ lệ NQH trên tổng d nợ ở mức 3-5% là có thể chấp
khoản NQH. Nếu không thu hồi đợc ngân hàng có thể chuyển lên chính phủ để
chờ xử lý giải quyết, hình thành khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Xét theo khả năng thu hồi, có thể chia NQH thành 3 loại sau:
+ NQH có thể thu hồi 100%
+ NQH có thể thu hồi một phần
+ NQH không có khả năng thu hồi.
Việc phân loại các khoản NQH theo khả năng thu hồi phản ánh rõ nhất
mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. NQH không có khả năng thu hồi càng
cao thì rủi ro về nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng lớn. Tuy nhiên việc phân
14
loại này thờng khó chính xác vì khả năng thu hồi của khoản nợ thì đợc xác định
theo những nghiên cứu và dự đoán. Nói cách khác, tài sản có sinh lời đã chuyển
sang tài sản có không sinh lời mà còn nắm chắc nguy cơ trắng tay. Với những
khoản nợ này, NHTM phải có quỹ dự phòng bù đắp rủi ro đủ lớn để có thể loại
bỏ chúng ra khỏi tài sản có của ngân hàng.
Tổn thất tín dụng
Là những khoản tín dụng của ngân hàng thực sự đã biến mất khỏi sự quản
lý, kiểm soát của ngân hàng. Nó là hậu quả, kết quả cuối cùng của rủi ro tín
dụng, là những khoản NKĐ không thu hồi đợc
1.2.2.5. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Nguyên nhân gây ra RRTD cũng chính là nguyên nhân gây ra nợ có vấn
đề và NQH. Các nguyên nhân này có thể xuất phát từ phía ngân hàng hoặc
khách hàng, có thể do yếu tố chủ quan hoặc khách quan.
Do bản thân ngân hàng.
NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp trong nền KTTT. Mục đích
hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng là lợi nhuận. Lợi nhuận càng cao thì
ngân hàng càng có điều kiện tồn tại và phát triển, tuy nhiên cũng đồng nghĩa
với việc phải đối mặt với nguy cơ rủi ro càng lớn. Điều này càng trở lên nghiêm
trọng hơn nếu những rủi ro đó lại do chính yếu tố bản thân nội bộ ngân hàng
Nhiều khi sử lý thu hồi NQH gặp phải rủi ro, rất nhiều khó khăn vì phải
trải qua nhiều thủ tục rờm rà, có trờng hợp ngân hàng phải mất vốn do các quy
định của pháp luật cha bảo vệ đợc lợi ích bình đẳng giữa ngân hàng và khách
hàng.
Do chính sách, thể lệ tín dụng của NHTM còn cha đầy đủ hoàn thiện, luôn
có sự biến đổi, vì vậy mà có thể bị bỏ qua một số khoản cho vay nào đó.
Tài sản đảm bảo tín dụng bị giảm giá do biến động của giá cả thị trờng,
chất lợng tài sản thế chấp bị suy giảm do hao mòn tự nhiên và hao mòn hữu
hình hoặc phát sinh một số trờng hợp hết thời hạn bảo quản. Các điều khoản
pháp luật liên quan về thuế, quyền sử dụng đất, bán đấu giá tài sản còn có nhiều
điểm bất lợi cho ngân hàng. Đơn cử nh việc khi thanh lý, phát mại tài sản để thu
hồi nợ mà vẫn phải chịu mức thuế chung dẫn tới giảm giá trị. Khó phát mại tài
sản làm cho ngân hàng không thu đợc đủ nợ gốc và chi phí cho vay
16
Có thể nói rằng, có tối đa 80-90% vốn tín dụng ngân hàng tham gia vào
các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh của các khách hàng. Bởi vậy
khả năng rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào từ sản xuất tới tiêu thụ
sản phẩm của khách hàng.
Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn có 2 chủ thể là khách hàng và
NHTM. Theo thống kê cho thấy khả năng xẩy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ
phía khách hàng là phổ biến nhất bởi khách hàng là ngời trực tiếp sử dụng vốn
vay. Có thể chia làm 2 trờng hợp sau:
Nguyên nhân chủ quan:
Doanh nghiệp tiến hành phơng án kinh doanh nh trong hồ sơ xin vay nhng
do năng lực yếu kém, khả năng thích ứng thị trờng, sản xuất kinh doanh còn
thiếu linh hoạt, sản phẩm làm ra không đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng dẫn đến
tụt hậu trong cạnh tranh, sản phẩm làm ra không có doanh thu làm giảm khả
năng trả nợ hay phát sinh nợ có vấn đề. Nếu không kịp thời tìm cách tháo gỡ, nợ
từ đó gây ra sự mất lòng tin của khách hàng gián tiếp gây rủi ro tín dụng.
Do biến động tỷ giá, lãi suất cung cầu làm cho chi phí cơ hội của ngân
hàng tăng lên
Thay đổi của các quy định của tín dụng điều chỉnh mối quan hệ giữa ngời
đi vay và ngời cho vay theo hớng bất lợi cho ngân hàng hoặc khách hàng.
Do cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM với nhau về các loại kỳ
hạn và lãi suất cho vay.
Tóm lại, trong nhiều nguyên nhân kể trên thì nguyên nhân nào cũng ảnh h-
ởng xấu đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói
riêng. Trong số đó các nguyên nhân do phía khách hàng gây ra là chủ yếu, đòi
hỏi ngân hàng phải luôn dự đoán gắt gao, phân tích đánh giá tìm biện pháp
phòng ngừa hạn chế. Còn với các nguyên nhân do ngân hàng thì ngân hàng
hoàn toàn có thể chủ động khắc phục dần đi tới loại bỏ. Còn các nguyên nhân
khác thì ngân hàng phải luôn có dự phòng bù đắp rủi ro để có thể hạn chế, giảm
thiểu từ đó bình ổn hoạt động của ngân hàng.
Nguyên nhân gây rủi ro tín dụng ở Việt Nam
18
Ngoài các nguyên nhân kể trên, RRTD và NQH ở Việt Nam còn xuất phát
từ các nguyên nhân sau:
Ngân hàng bao cấp cho vay với cá doanh nghiệp quốc doanh, 80% vốn của
doanh nghiệp là vốn đi vay. Khi các doanh nghiệp này làm ăn thua lỗ, không trả
đợc nợ sẽ tạo nên các khoản NQH và các khoản NQH của doanh nghiệp quốc
doanh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng NQH của các NHTM.
Vốn tín dụng cấp cho các doanh nghiệp trải dài từ quá trình sản xuất đến
phân phối lên rủi ro có thể xẩy ra ở bất cứ công đoạn nào cuả quá trình sản xuất
hay xác xuất xảy ra rủi ro là rất lớn. Khả năng dẫn đến NQH là rất cao.
1.2.2.6. ảnh hởng của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng không phải bây giờ mới có và cũng không phải mãi đến
nay ngời ta mới đề cập đến, nó luôn là vấn đề mà mọi NHTM đều phải đối mặt.
ở mức độ nghiêm trọng hơn là RRTD kéo dài, khả năng thanh toán của
các ngân hàng không thể đáp ứng đợc nhu cầu rút vốn của khách hàng. Khi đó
mất khả năng thanh toán, từ đó sẽ gây khủng hoảng dây chuyền trong toàn hệ
thống và cuối cùng là ảnh hởng nặng nề đến nền kinh tế. Dù trên phạm vi quốc
gia, khu vực hay quốc tế thì cũng gây suy thoái kinh tế ảnh hởng tới đời sống
kinh tế xã hội của hàng tỷ ngời.
1.2.2.7. Các chỉ tiêu đo lờng rủi ro tín dụng ngân hàng.
Muốn quản lý đợc RRTD thì ngời ta phải ớc lợng, đo lờng chúng theo một
số chỉ tiêu để có thể xác định một cách tơng đối mức độ ảnh hởng của chúng.
Để đo lờng đợc RRTD, ngời ta tiến hành phân loại theo khả năng sinh lợi của
tài sản có. Những khoản cho vay đầu t đợc gọi là tài sản có sinh lời. Tiền
mặt tại ngân quỹ và tiền dự trữ tại NHTW là những tài sản có không sinh
lời. Những khoản cho vay và đầu t ra ngoài xã hội gọi là tài sản có rủi ro,
còn cho vay dới dạng đầu t vào kỳ phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ đợc gọi
là những tài sản có coi nh không có rủi ro. Sau đây là một số chỉ tiêu:
+ Nợ có vấn đề: phản ánh rủi ro tiềm năng. Rủi ro do nợ có vấn đề đợc đo
bằng chỉ tiêu: tỷ lệ nợ có vấn đề = NCVĐ/tổng d nợ. Chỉ tiêu này càng cao thì
nguy cơ RRTD của ngân hàng càng lớn, vì NCVĐ sẽ trở thành NQH nếu hết
thời hạn mà khách hàng không trả đợc nợ.
20
+ NQH: là tổn thất khi RRTD đã xẩy ra. Rủi ro do NQH phát sinh đợc đo
bằng chỉ tiêu:
Tỷ trọng NQH/tổng d nợ
Chỉ tiêu này cho biết NQH chiếm bao nhiêu% trong tổng d nợ. Tỷ lệ này
càng cao thì tổn thất xẩy ra đối với ngân hàng càng lớn, khả năng an toàn của
ngân hàng càng thấp.
+ NKĐ: ta có tỷ trọng NKĐ, nợ khoanh, xoá nợ, miễn giảm lãi/tổng
doanh số cho vay . Các tỷ trọng này lớn là những dấu hiệu trực tiếp cho biết đã
hoặc nguy cơ sẽ mất một phần hay toàn bộ nợ không thu hồi đợc.
đa dạng mà các hậu quả của các hoạt động tín dụng đó không liên quan chặt
chẽ với nhau từ đó RRTD giảm đi một cách đáng kể. Tuy nhiên việc làm này
chỉ giảm đợc RRTD đặc thù riêng biệt của các ngành kinh tế (rủi ro phi hệ
thống), tuy nhiên rủi ro có tính chất hệ thống, chung cho cả nền kinh tế có ảnh
hởng đến tất cả các ngành kinh tế thì không thể loại trừ đợc.
Trích lập quỹ dự phòng rủi ro.
Dự phòng rủi ro đợc trích lập trên cơ sở vốn bị mất tức là số vốn ngân hàng
không có khả năng thu hồi. Phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm đợc
tính là một chi phí của ngân hàng.
Hiện nay, quỹ dự phòng rủi ro trong các NHTM cha đợc coi là công cụ
hữu hiệu trong việc hạn chế rủi ro. Bởi trong điều kiện tình hình kinh tế cha ổn
định, hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam vẫn cha hiệu quả, chất lợng
các khoản vay còn thấp, mức độ rủi ro cao, số tiền cần trích lập là quá lớn. Quỹ
đợc trích lập từ lợi nhuận sau thuế (LNST), thuế lợi tức 45% khiến cho quỹ
DPRR nhỏ bé lên không thể bù đắp những món vay không thể thu hồi.
Chủ động phân tán rủi ro thông qua:
+ Cho vay đồng tài trợ: nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng có
một dự án có nhu cầu vốn lớn hay nhiều rủi ro.
+ Bán rủi ro: chuyển rủi ro cho các chủ thể có khả năng chịu đựng rủi ro
cao hơn. Trong trờng hợp khoản vay có rủi ro cao, ngân hàng khó có thể chịu
nổi nếu rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ bán khoản cho vay cho ngân hàng lớn hơn
hoặc một trung gian tài chính khác để hởng hoa hồng phí.
22
Cuối cùng và quan trọng nhất đó là không ngừng nâng cao chất lợng
cán bộ tín dụng
Nhân tố con ngời đóng vai trò quyết định đối với hiệu quả nói chung của
các biện pháp nhằm hạn chế RRTD. Chất lợng một khoản vay có thể bị giảm
sút vì nhiều nguyên nhân nhng trớc hết là các cán bộ phụ trách cấp tín dụng vẫn
phải chịu trách nhiệm nhất định về khoản nợ tồi mà họ đã tiếp nhận hồ sơ, phân
Từ năm 1988 đến 1/4/1993
Từ 1/4/1993 đến 31/12/1998
Từ 1/1/1999 đến nay
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1988 đến 1/4/1993
Là Ngân hàng Công Thơng Hà Nội. Trong giai đoạn này, cơ sở vật chất
kỹ thuật của ngân hàng còn nghèo nàn, sản phẩm dịch vụ đơn điệu, kinh doanh
đối nội là chủ yếu, kinh doanh đối ngoại cha phát triển. Đội ngũ cán bộ đợc đào
tạo trong cơ chế cũ, đông về số lợng song lại yếu về chất lợng, nhất là kiến thức
và kinh nghiệm kinh doanh trong cơ chế thị trờng. Về quy mô hoạt động còn
khiêm tốn. Cụ thể:
Tổng nguồn vốn huy động tính đến ngày 31/9/1993 đạt 522 tỷ VNĐ.
Tổng d nợ cho vay tính đến ngày 31/9/1993 đạt 323 tỷ VNĐ.
Giai đoạn hai: Từ 1/4/1993 đến ngày 31/12/1998
Sát nhập với Ngân hàng Công Thơng Trung ơng có tên là Hội sở Ngân
hàng Công Thơng Việt Nam. Giai đoạn này, cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ
của Hội sở đợc tăng cờng, sản phẩm dịch vụ ngân hàng khá phong phú, ngoài
cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn còn có nhiều loại cho vay mới ra đời nh:
Cho vay tài trợ uỷ thác, cho vay thanh toán công nợ, đồng tài trợ...Kinh doanh
24
đối ngoại đã phát triển mạnh. Đội ngũ cán bộ đợc đào tạo lại và thích ứng dần
với hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trờng.
Giai đoạn thứ 3: từ ngày 1/1/1999 đến nay
Hội sở đợc tách ra theo Quyết định số 134/QĐ HĐQT- NHCT VN và mang
tên Sở Giao Dịch I, hạch toán phụ thuộc. Trong giai đoạn này, hoạt động kinh
doanh của Sở Giao Dịch I phát triển mạnh trên tất cả các mặt nghiệp vụ, áp
dụng giao dịch tức thời trên máy tính tại tất cả các điểm huy động vốn, mở rộng
mạng lới kinh doanh, phát triển các dịch vụ mới. Năm 2001 Sở Giao Dịch đã
mở phòng giao dịch số 1 và tổ nghiệp vụ bảo hiểm. Nguồn vốn huy động trong giai
đoạn này tăng 25 lần so với năm 1988, chiếm 20% tổng nguồn vốn huy động của