HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN MÔN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC
CÔNG- TƯ TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Huế, tháng 1 năm 2013
Giảng viên bộ môn: TS.
Hoàng Mai
Lớp: Cao học Hành chính công 16M
Học viên:
Nguyễn Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
Trang
I- LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………… 1
II- NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ MÔ HÌNH ĐỐI TÁC
CÔNG - TƯ
1.1. Quan điểm về dịch vụ công
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ công…………….…………………… 2
1.1.2. Các hình thức cung ứng dịch vụ công…………….…………………….3
1.1.3. Xu hướng đổi mới cung ứng dịch vụ công…………….……………….3
1.2. Mô hình hợp tác công tư
1.2.1. Khái niệm và lợi ích của mô hình hợp tác công –tư………………… 4
1.2.2 Các hình thức của mô hình hợp tác-công tư…………….…………… 5
Private Partnership/PPP).
Mô hình này được hi vọng là một đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và
chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện chất lượng và mở rộng độ bao phủ của
các dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam hiện nay. Nhưng thực tế, hai năm sau khi ban
hành quyết định về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư
(Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg) thì kết quả đang rất còn hạn chế. Hiện nay, quyết định
71 này đang được sửa chửa và dự kiến trình lên Thủ tướng Chính phủ vào tháng 04-2013.
Cùng với nhận thức tầm quan trọng của mô hình PPP đối với tình hình thực tiễn
Việt Nam hiện nay, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp tăng cường quan hệ đối
tác công - tư trong cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay” nhằm đi sâu và tìm
hiểu rõ hơn về mô hình đối tác công- tư trong cung ứng dịch vụ công, từ đó đưa ra những
giải pháp tăng cường hiệu quả mô hình này tại Việt Nam.
Kết cấu nội dung đề tài được chia làm ba chương:
Chương một cung cấp và làm rõ khái niệm cơ bản, đặc điểm cũng như loại hình
cung ứng dịch vụ công, tập trung mô hình đối tác công- tư;
Chương hai đi vào phân tích thực trạng hợp tác công - tư tại Việt Nam cùng với
những thuận lợi, thách thức của mô hình này khi áp dụng tại Việt Nam
Chương ba đề xuất một số ý kiến mang tính giải pháp tăng cường hiệu quả mô
hình đối tác công- tư trong cung ứng dịch vụ công tại Việt Nam
Tôi hi vọng rằng đề tài này sẽ là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích giúp người đọc
có cái nhìn toàn diện hơn về nền dịch vụ công tại Việt Nam cũng như phục vụ tốt hơn
công tác quản lý Nhà nước nói chung và trong quản lí cung ứng dịch vụ công nói riêng.
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 2 -
II- NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CÔNG VÀ MÔ HÌNH ĐỐI
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 3 -
1.1.2. Các hình thức cung ứng dịch vụ công
Dịch vụ công cũng có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xét theo tính
chất của dịch vụ, hoặc theo các hình thức dịch vụ cụ thể,… Trong khuôn khổ tiểu luận, ta
sẽ xét các hình thức dịch vụ công theo chủ thể cung ứng dịch vụ công và cụ thể hoá như
sơ đồ sau :
Mô hình 1- Các chủ thể cung ứng dịch vụ công
Tuỳ theo tính chất và loại hình, dịch vụ công có thể do các cơ quan nhà nước trực
tiếp thực hiện hoặc có thể được chuyển giao cho khu vực phi nhà nước. Bởi lẽ, có những
loại dịch vụ liên quan đến lợi ích chung đất nước rất quan trọng mà tư nhân không thể
đảm trách như an ninh quốc phòng Hay có những dịch vụ tư nhân không muốn hoặc
chưa đủ điều kiện tham gia, vì nó không mang lại lợi nhuận, hoặc do tư nhân không
đủ quyền lực và vốn để tổ chức việc cung ứng.
1.1.3 Xu hướng đổi mới cung ứng dịch vụ công
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu dịch vụ công càng lớn và tạo nên sức ép cung
ứng dịch vụ công đối với Nhà nước. Vai trò cung ứng dịch vụ của các đối tượng sẽ có sự
thay đổi: chuyển từ sự độc quyền của Nhà nước sang hướng mở rộng cung ứng các dịch
vụ này ra ngoài khu vực nhà nước. “Nếu như các hình thức phân cấp, phân công trong
ra hiệu quả cung ứng dịch vụ công cao hơn. Điều này giúp tạo ra môi trường cạnh tranh,
thúc đẩy xã hội phát triển, đem lại sự thuận lợi cho người dân trong việc thụ hưởng
những chính sách công của Nhà nước.
Các thuật ngữ quen thuộc trong xu hướng đổi mới cung ứng dịch vụ công đó là: tư
nhân hoá (Privatization), sự tham gia của khu vực tư nhân (Private Sector
Participation/PSP) và gần đây là quan hệ đối tác công-tư (Public-Private
Partnership/PPP). Tư nhân hóa thường liên quan đến việc chuyển giao cổ phần hoặc
quyền sở hữu trong một công ty hoặc bán các tài sản hoặc dịch vụ của doanh nghiệp do
khu vực nhà nước sở hữu. Còn sự tham gia của khu vực tư nhân (Private Sector
Participation/PSP) hướng đến việc chuyển các nghĩa vụ sang cho khu vực tư nhân hơn là
nhấn mạnh đến cơ hội thiết lập một mối quan hệ đối tác. Ở cả hai mô hình này thì chính
quyền chỉ còn làm công việc quản lý nhà nước thông qua các công cụ luật pháp, hành
chính, tài chính (thuế), mọi rủi ro kinh doanh đều do tư nhân gánh chịu. Và mô hình mà
xã hội đang tiến dần đến là mô hình quan hệ đối tác công- tư PPP với quan hệ bình đẳng
cùng chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và rủi ro giữa chính quyền, bên cung ứng và cộng đồng
tiêu dùng dịch.
1.2. Mô hình hợp tác công - tư
1.2.1. Khái niệm và lợi ích của mô hình hợp tác công - tư
Có nhiều cách định nghĩa mô hình hợp tác công - tư. Ở nước ta, trong Quyết định
số 71/2010/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác
công tư, đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (Public-Private Partnership/PPP) là
« việc nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng,
cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án ».
Quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân được xem như mô hình cứu cánh cho các quốc
gia đang phát triển bởi lẽ: mô hình này giúp thu hút vốn đầu tư tư nhân, giải phóng cho
nguồn vốn nhà nước để sử dụng vào những nhu cầu khác của nhà nước; tăng năng suất
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 5 -
- partnership-ppp-handbook-vi
- Đảm bảo đối xử công bằng với
người lao động hiện tại
- Cung cấp các cơ hội việc làm
- Cải thiện năng suất, hiệu quả và
đời sống tinh thần
Người lao động
Lợi ích
các bên
liên quan
- Đảm bảo quy trình quản lý điều tiết ổn định, minh bạch
- Đảm bảo phân bổ tài sản và tái cơ cấu tổ chức đem lại hoạt động hiệu
quả
- Cung cấp nguồn nhân lực đã được đào tạo
- Tạo ra nhiều cơ hội đầu tư hơn
Nhà đầu tư
- Đảm bảo giá
cả
hợp lý
-
Cải
thiện
chất
lượng và độ
tin
cậy của
dịch
vụ
cấp dịch vụ và các khoản đầu tư chủ yếu. Đối tác tư nhân quản lý kiểm soát hằng ngày và
đầu tư mở rộng, cải thiện hệ thống. Đối tác tư nhân nhân được tỷ lệ thoả thuận cho phí
lao động, điều hành và khoản cho việc đạt được mục tiêu quy định trước đó. Ở loại hình
này, khu vực Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm quy định biểu phí dịch vụ.
Hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng giao thầu
Hợp đồng cho thuê, hệ thống ban đầu được xây dựng dựa trên nguồn tài chính của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tư nhân điều hành và duy trì hệ thống và tự chịu
những rủi ro tài chính. Những khoản đầu tư mới và đầu tư thay thế thuộc Nhà nước. Một
phần phí dịch vụ chuyển lại cho Nhà nước để thanh toán các khoản vay cho việc mở rộng
hệ thống.
Hợp đồng giao thầu khác với hợp đồng cho thuê ở điểm : Khu vực tư nhân thu từ
khách hàng, thanh toán cho cơ quan Nhà nước một khoản phí giao thầu cụ thể và giữ
phần doạnh thu còn lại.
Thoả thuận xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) hoặc các thoả thuận tương
tự
Thoả thuận xây dựng - vận hành - chuyển giao BOT (Build - Operate - Transfer)
là mô hình mà ở đó công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình
trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước. Mô hình này khá
phổ biến ở Việt Nam.
Ngoài ra còn có:
Mô hình BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành) : Quyền sở hữu cơ sở hạ tầng
được chuyển giao ngay cho nhà nước sau khi xây dựng xong, nhưng công ty thực hiện
dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình.
Mô hình thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành DBFO (Design- Build - Finance -
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 7 -
Operate) : Khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nó
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 8 -
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG THEO MÔ
HÌNH HỢP TÁC CÔNG - TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng cung ứng dịch vụ công tại Việt Nam trong những năm vừa qua
Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức
hợp tác công-tư đã mở cửa cho giới đầu tư trong và ngoài nước trên các lĩnh vực :
Đường bộ, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ ; đường sắt, cầu đường sắt,
hầm đường sắt ; giao thông đô thị ; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông ; hệ thống
cung cấp nước sạch ; nhà máy điện ; y tế (bệnh viện) ; môi trường (nhà máy xử lý chất
thải) ; dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công khác theo quyết định của
Thủ tướng Chính phủ. Mô hình hợp tác công- tư tại Việt Nam chủ yếu là tập trung vào cơ
sở hạ tầng.
Nhưng mô hình PPP không quá mới mẻ bởi mô hình này Việt Nam cũng đã được
thể chế hoá với các quy địnhcủa Luật đầu tư nước ngoài 1996, Luật đầu tư 2005 liên quan
đến BT, BTO hay BOT- những dạng thức của PPP.Những ưu thế của mô hình PPP cũng
như tiềm năng của mô hình này đối với nhu cầu phát triển Việt Nam trong điều kiện ngân
sách hạn chế là không thể phủ nhận. Nhưng điều mà mô hình PPP Việt Nam đang cần là
nhận định thực trạng đúng đắn và thay đổi cách làm mới để mô hình PPP phát huy đúng
hiệu quả tiềm tàng của nó.
Một số dự án hợp tác công - tư tiêu biểu ở nước ta : Khu đô thị Phú Mĩ Hưng
(1993) ; BOT nâng cấp đường câo tốc quốc lộ 1A An Sương-An Lạc ; BOT mở rộng xa
lộ Hà nội, BOO nước Kênh Đông, nước Thủ Đức ; BOT cầu Ông Thìn dài 285m – Bình
Chánh, cầu Bình Triệu II- Quận Bình Thạnh-Thủ Đức, cầu Phú Mĩ, Rạch Chiếc …
Trong đó, có những dự án áp dụng mô hình hợp tác công - tư vô cùng thành công.
mâu thuẫn lợi ích nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án do chưa cỏ khung pháp lý phù
hợp và cơ chế phân rõ lợi ích. (4) Một vài ví dụ cụ thể về các dự án hợp tác công –tư thất bại như:
Như dự án BOT xây dựng cầu Ông Thìn dài 285m trên quốc lộ 50 (huyện Binh
Chánh, TP.HCM) do Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông V (Cienco V) của Bộ
Giao thông vận tải lảm chủ đầu tư. Dự án được triển khai xây dựng vào tháng 11/1999 và
hoàn thành vào tháng 6/2001. Thu phí giao thông bắt đầu từ tháng 9/2001 và dự kiến kết
thúc vào năm 2013. Thế nhưng việc thu phí ở cầu Ông Thìn không bảo đảm lợi nhuận,
nên Cienco V đã kiến nghị và được Bộ GTVT mua lại với số tiền 31,2 tỷ đồng và từ
5
Công ty cổ phần BOO Thủ Đức,
6
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 10 -
1/1/2006 chấm dứt thu phí ở cầu Ông Thìn
7
. Tương tự với dự án cầu BOT Phú Mĩ “kêu
cứu” Nhà nước vì phí thu quá ít
8
. (1)
Dự án BOT cầu Bình Triệu - do Cienco 5 làm chủ đầu tư. Tổng mức đầu tư được
duyệt ban đầu chỉ 341 tỉ đồng, với thời gian thu phí giao thông hoàn vốn khoảng 11 năm.
Dự án đang triển khai thi công thì Thành phố có chủ trương điều chỉnh mở rộng quốc lộ
13 từ 32m lên 53m, cùng với số tiền đền bù giải toả tăng, tổng mức đầu tư của dự án đã
đội lên trên 1.600 tỷ. Thời gian dự án cần thu hồi vốn kéo dài hơn 25 năm. Toàn bộ dự án
đã bị ngừng trệ. (2)
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 11 -
2010)11. Từ năm 1996 đến tháng 10-2010, cả nước chỉ có 90 dự án đầu tư PPP với tổng
số vốn đăng ký 7,1 tỉ đô la. Trong đó, các dự án về giao thông chiếm 70% về số lượng và
95% về vốn; phần còn lại là các dự án về điện, viễn thông và xử lý nước. Trong khi các
nhà đầu tư trên thế giới lại đang giảm mạnh nguồn vốn PPP vào các dự án đầu tư PPP
trong lĩnh vực giao thông thì ta lại đang quá chú trọng lĩnh vực này.
Mô hình 3- Mức độ hấp dẫn vốn đầu tư PPP ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương
giai
đoạn 2000-2009
12
Như vậy, khi đề xuất các dự án mời gọi nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức PPP,
Việt Nam nên áp dụng xu hướng này trong việc hoạch định chính sách thu hút vốn đầu tư
PPP để tập trung nhiều hơn cho các dự án phát triển năng lượng và viễn thông. Bởi lẽ,
« bán cái người khác quan tâm vẫn hiệu quả hơn là bán cái chúng ta muốn bán »
13
.
Tóm lại, theo thống kê cho thấy mô hình PPP tuy đã phổ biến ở Việt Nam theo hình
thức chủ yếu là BOO và BOT nhưng còn quá khiêm tốn và khi triển khai cũng cần những
điều kiện nhất định khác. Tuy nhiên, từ khi Quyết định số 71 của Thủ tướng Chính phủ
các bên cho vay trong trường hợp dự án tiến triển không như mong đợi, Quyết định
71/2010/QĐ-TTg còn quy định: bên cho vay có quyền tiếp nhận một phần hoặc toàn bộ
các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp dự án trong trường hợp doanh nghiệp dự án
hoặc nhà đầu tư không thực hiện được các nghĩa vụ theo hợp đồng dự án hoặc hợp đồng
vay vốn
Ngoài ra, các dự án đầu tư theo hình thức PPP sẽ được hưởng ưu đãi thuế theo các
quy định về thuế của Việt Nam.
Sự mở rộng cho khu vực tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công có thể giúp giải
quyết công ăn việc làm cho người dân. Trên thị trường lao động, hàng năm, Việt Nam có
khoảng 1,4 đến 1,5 triệu người gia nhập. Nhưng các doanh nghiệp nhà nước cũng chỉ
cung cấp chưa tới 7% tổng số việc làm. Trong giai đoạn 2000-2004, các doanh nghiệp
nhà nước chỉ tiếp nhận 5% trên tổng số 4 triệu lao động gia tăng, trong khi đó có 60% lao
động được thu nhận bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước, 25% bởi các hộ kinh
doanh và các doanh nghiệp tư nhân không đăng ký, và 12% bởi các doanh nghiệp FDI.
15
2.2.2 Những thách thức trong việc áp dụng mô hình hợp tác công –tư
Thực tế thời gian qua ở Việt Nam, một trong những thách thức lớn đối với hình
thức đầu tư theo mô hình PPP là hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, còn thiếu đồng bộ.
Thực tế cho thấy, việc các luật thiếu thống nhất, thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện
thỏa đáng là những yếu tố góp phần làm các dự án PPP thất bại. Cơ chế vẫn chưa khuyến
khích được tư nhân cùng tham gia đầu tư vào lĩnh vực này do quá trình phê duyệt và cấp
15
Trần Bình, Khu vực tư nhân- Nguồn huyết mạch chưa khai thông, www.vnep.org.vn
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 13 -
16
Duy Quang (2013), Chưa có dự án nào thực hiện theo mô hình PPP, />ppp-van-chua-hoan-thien.aspx
17
Bích Diệp (2011), ADB chưa thể tiếp cận dự án PPP tại Việt Nam, />chua-the-tiep-can-du-an-ppp-tai-viet-nam/ct-445007
18
Bích Diệp (2011), ADB chưa thể tiếp cận dự án PPP tại Việt Nam, />chua-the-tiep-can-du-an-ppp-tai-viet-nam/ct-445007
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 14 -
Sự yếu kém bộc lộ ở khu vực công và khu vực tư. Hiện nay, khu vực công của Việt
Nam vẫn chưa đủ năng lực và kỹ năng kỹ năng để áp dụng phương pháp PPP và thiết lập
môi trường pháp lý để khuyến khích thích đáng. Và khu vực tư nhân có đủ năng lực
chuyên môn để đảm bảo thực hiện PPP vẫn còn quá ít thể hiện ở điểm chỉ có một số rất
nhỏ doanh nghiệp hội đủ điều kiện trở thành các nhà cung cấp phụ kiện cho các doanh
nghiệp FDI và có khả năng xâm nhập thị trường thế giới
Một vấn đề khác nữa đó là nếp tư duy cũ kỹ của thời kỳ kinh tế tập trung và bao
cấp đối với doanh nghiệp tư nhân. Nhà nước và doanh nghiệp chưa thực sự có cái bắt tay
gọi là đối tác bình đẳng mà vẫn có cung cách chủ quản hành chính thượng cấp- thuộc
quyền mà thôi.
Và cuối cùng nguy hiểm nhất là: “Nếu sự độc quyền và kinh doanh kém hiệu quả
của doanh nghiệp nhà nước được thay thế bằng sự độc quyền và kém hiệu quả của doanh
nghiệp tư nhân, là những doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với các viên chức cao
cấp, thì lợi ích kinh tế của sự thay đổi cũng không đáng kể. Thậm chí, mối quan ngại sẽ
còn lớn hơn về lâu về dài; tai ương này đã thật sự xảy ra trong một số nền kinh tế châu
Á” (Gs. David)
19
Để có thể tăng cường quan hệ cũng như hiệu quả của đối tác công- tư trong cung
ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, thì cần tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ khu
vực tư nhân và Nhà nước. Trong khuôn khổ tiểu luận, xin được đề xuất các giải pháp
nhất thiết phải thực hiện trong hoạt động quản lý nhà nước thời gian tới.
3.1. Xây dưng khuôn khổ pháp lý, chính sách hỗ trợ cho dư án PPP
Xây dựng môi trường pháp lý, quy định và chính sách thuận lợi là điều kiện tiên
quyết đối với triển khai mọi mối quan hệ đối tác bền vững.
Một môi trường pháp lý cụ thể, rõ ràng, giảm thiểu sự tham nhũng, đảm bảo được
quyền lợi trong trường hợp có xung đột lợi ích mới khuyến khích được sự tham gia của
khu vực tư nhân. Những thế mạnh của khu vực tư nhân cũng sẽ được phát huy tối đa vào
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nếu được thực hiện trong một môi trường cạnh tranh và
tháo gỡ các rào cản không cần thiết.
Nếu môi trường luật pháp và môi trường tư pháp không được xác định, các nhà
đầu tư không thể đánh giá dự án cũng như dự đoán được và có độ rủi ro cao. Cần quy
đinh rõ lợi ích, quyền hạn, trách nhiệm của các bên tham gia, hiện tại đối với dự án. Môi
trường thể chế rõ ràng cũng sẽ tạo ra những thủ tục phù hợp để bảo đảm tính minh bạch
trong quá trình hợp tác, từ đó giúp kiểm soát và quy định chặc chẽ trách nhiệm, hiệu quả
đối với cả hai khu vực công và tư nhân. Đồng thời, cũng cần có một số linh hoạt để sửa
đổi và cập nhật cần thiết khi lĩnh vực liên quan dự án có sự thay đổi. Khi việc phân quyền
đang ngày càng được triển khai sâu rộng, các chính phủ có thêm nhiệm vụ cần phải xác
định mỗi vai trò được thực hiện ở cấp độ nào của chính phủ.
Hiện nay, Quyết định 71/2010/QĐ-TTg về thí điểm đầu tư theo hình thức PPP
được sửa đổi và dự kiến sẽ được hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủ ngay trong
quý I/2013 heo hướng cởi mở hơn, nhằm hấp dẫn nhà đầu tư
20
.
20
Nguyên Đức (2013), ‘Cởi trói’ cho mô hình PPP,
Như đã nói ở chương trước, hiện nay xu thế thế giới đang thiên về mô hình hợp
tác công- tư đối với ngành năng lượng. Liệu Việt Nam có nên tiếp tục tập trung quá trên
lĩnh vực giao thông hạ tầng như hiện nay không. Các quy hoạch phát triển phải được cập
nhật, rà soát bổ sung thường xuyên theo hướng gắn với thực tế, bám sát nhu cầu thị
trường, khai thác tốt tiềm năng, thế manh của từng địa phương, từng ngành. Điều này
giúp xây dựng định hướng phát triển kinh tế xã hội, làm cơ chế cho việc xây dựng các
cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư của các thành phần
kinh tế, bước đầu hình thành cơ cấu vốn đầu tư hợp lý.
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
- 17 -
Nhà nước phải có chiến lược và lộ trình rõ ràng đối với lĩnh vực dịch vụ công
nào cần ưu tiên thực hiện trong giai đoạn này. Một chiến lược có trọng tâm là một điều
kiện tiên quyết cho các khoản đầu tư lớn, có thời gian thu hồi vốn kéo dài. Cũng như lộ
trình rõ ràng mới thu hút được sự đầu tư của khu vực tư nhân cũng như họ có khả năng
phán đoán rủi ro khi cân đối nguồn vốn đầu tư những yếu tố ảnh hưởng.
3.3 Tăng cường năng lực của đội ngũ quản lý
Muốn lập kế hoạch tốt hay quản lý tốt, cần phải có một đội ngũ cán bộ đủ kinh
nghiệm, trình độ năng lực cao, và có tầm nhìn xa, rộng đặc biệt là yêu cầu đối với việc
lập kế hoạch dài hạn. Trong khi đó, “người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về đấu
thầu cũng thừa nhận rằng trong thời gian qua, hoạt động của Tổ công tác liên ngành về
PPP thật sự không đạt hiệu quả. Điều này bắt nguồn từ những nguyên nhân như nhận
thức của đội ngũ cán bộ làm công tác PPP vẫn chưa đúng với định hướng đề ra”.
21
Vì vậy, công tác đào tạo nâng cao trình độ cho các cán bộ lập kế hoạch cũng rất
quan trọng. Chúng ta cần nâng cao hiệu quả bộ phận chuyên trách về hợp tác công-tư và
phải khiến bộ phận này trở nên chuyên nghiệp. Bộ phận này phải là điểm điều phối,
đề xuất.
Thực tiễn thế giới và kinh nghiệm Việt Nam cũng đã cho thấy sự hiệu quả của mô
hình PPP trong nhiều lĩnh vực khác, tiêu biểu như các lĩnh vực về dịch vụ. Vì thế, trong
quá trình thực thì dù rằng rằng tồn tại một số bất cập như đã nêu ở trên nhưng với sự nhìn
nhận rõ ràng ngay từ bây giờ và hướng đi đúng đắn nhằm giải quyết những bất cập này
thì chắc chắn trong tương lai mô hình hợp tác công-tư sẽ ngày càng phổ biến hơn và tạo
điều kiện để đối tác tư nhân tham gia nhiều hơn vào tiến trình đầu tư phát triển quốc gia.
Dù rằng, mô hình PPP chỉ là một trong những phương thức đầu tư mà vai trò
khiêm tốn ở nhiều nước trên thế giới và không nên quá kỳ vọng vào mô hình này. Nhưng
không phải vì thế mà ta đánh giá thấp hay sơ suất trong việc triển khai mô hình này.
Trong những ngày đầu năm 2013 này, mô hình đối tác công - tư PPP đang là vấn đề
được “mổ xẻ” trong nhiều cuộc họp bởi quyết định liên quan đến mô hình hợp tác công-
tư đang được sửa đổi để hoàn thiện phù hợp cả về pháp lý lẫn thực tiễn. Ông Lê Văn
Tăng, Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư phát biểu: tinh
thần vào cuộc là rất quyết liệt và do đó, năm 2013 sẽ là một “năm bận rộn” đối với hình
thức đầu tư này
22
.
Năm 2013, tình hình kinh tế thế giới vẫn chuyển biến chưa mấy khả quan và chưa
thể dự đoán trước được các dòng vốn đầu tư nhưng nhìn từ các nỗ lực từ phía cơ quan
quản lý nhà nước, chúng ta có quyền hi vọng các dự án PPP sẽ được thúc đẩy thực hiện
và đạt hiệu quả thành công trên các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công.
22
2013 sẽ là “năm bận rộn” của đầu tư PPP? (2013),
_____________________________________________________________________________
_____________________________________________________________________________
Bích Diệp (2011), ADB chưa thể tiếp cận dự án PPP tại Việt Nam,
Nguyên Đức (2013), ‘Cởi trói’ cho mô hình PPP,
/>s%20content/live/vir/web%20contents/chude/kinhtedautu/dautuoda/12b2fe0f7f00000101
91155c38e87bbd, ngày 07/01/2013
2013 sẽ là “năm bận rộn” của đầu tư PPP? (2013),
/>ppp.htm