Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở nước ta hiện nay_chuyên đề tốt nghiệp lớp trung cấp chính trị - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, với nội dung cơ bản của tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là : Xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Do đó , tất yếu chúng ta phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH – HĐH.
Từ khi Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước ( năm
1986 đến nay, cơ cấu kinh tế ở nước ta đã có những bước thay đổi quan trọng.
Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2010 được Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
Phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong thời gian tới vừa phù hợp với yêu cầu hội nhập, khai thác lợi thế
của đất nước, nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc dân, vừa đảm bảo được
định hướng chính trị- xã hội và cải thiện môi trường sinh thái, cần tiếp tục
nâng cao những nhận thức lý luận, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà
nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đối với mỗi địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một vấn đề có ý
nghĩa rất quan trọng trong quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn, là một nội dung trọng tâm trong hoạt động lãnh đạo,
chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
giai đoạn hiện nay tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH, HĐH ở nước ta hiện nay" làm tiểu luận tốt
nghiệp lớp trung cấp lý luận chính trị do Trường chính trị Nguyễn Văn Linh
mở tại huyện Ân Thi.
Mục đích nghiên cứu của đề tài : Nhằm góp phần củng cố lý luận, tìm
ra những giải pháp cơ bản, chủ yếu, có tính khả thi để xây dựng cơ cấu kinh
- 1 -
tế phù hợp, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

- Thực trạng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam và Hưng
Yên.
- Một số giải pháp cơ bản thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở nước ta hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp định hướng.
- Phương pháp logic- lịch sử.
- Phương pháp gắn lý luận với thực tiễn.
- Phương pháp phân tích- tổng hợp.
- Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh…
* Nội dung của đề tài gồm :
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Phần kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Mục lục
- 3 -
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN :
1- Một số khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
* Cơ cấu kinh tế là cơ cấu các bộ phận hợp thành của nền kinh tế
quốc dân và mối quan hệ giữa chúng.
Nền kinh tế có nhiêù bộ phận hợp thành. Việc xác định quy mô, vị trí,
mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế dựa vào nhiều căn
cứ, bị chi phối bởi hàng loạt các nhân tố khách quan, chủ quan.
Nói cách khác:
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có
quan hệ chặt chẽ với nhau, trong những không gian và thời gian nhất định,
trong những điều kiện kinh tế nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm 3 nội dung cơ bản: Chuyển dịch theo
ngành, lĩnh vực, chuyển dịch theo vùng, lãnh thổ và chuyển dịch theo thành phần
kinh tế.
* Về mục tiêu Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải nhằm thực hiện 3 nhóm mục tiêu:
Kinh tế, chính trị- xã hội, môi trường sinh thái.
2- Cơ sở thực tiễn của Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lý
luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đảng và Nhà nước ta trong
các kỳ Đại hội đã nêu ra các quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nền
- 5 -
kinh tế nông nghiệp với 2 thành phần kinh tế là: kinh tế quốc doanh và tập thể
là chủ yếu, sang nền kinh tế nhiều thành phần với cơ cấu nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ, bắt đầu từ sự chuyển đổi cơ chế kinh tế tháng 12 năm
1986. Đại hội Đảng VI có ý nghĩa thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
công- nông nghiệp bằng nhiều Nghị quyết, lưu thông phân phối và chuyển
dịch đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh XHCN, đổi mới
quản lý nhà nước về kinh tế.
Đại hội Đảng VII, tiếp tục đi sâu đổi mới tư duy lý luận về phát triển cơ
cấu kinh tế công - nông nghiệp và thực hiện chính sách kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH.
Đại hội Đảng VIII đã kế thừa các Đại hội trước đó về phát triển và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế công- nông nghiệp.
Đại hội Đảng IX, đã nêu ra định hướng phát triển nhanh có hiệu quả và
bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH. Đồng thời,
Đảng ta đã điều chỉnh, bổ sung nhiều chủ trương chính sách, đi sâu đổi mới
và mở cửa ngày càng phù hợp với quá trình có tính quy luật của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo giai đoạn mới.
Đại hội Đảng X, đã nêu và chỉ ra cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo

Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,59
%, năm 1995 : 44,06 %, năm 2000 : 38,74 %, năm 2005 : 38,01 % và năm
2009 : 39,1 %.
Trong từng ngành kinh tế đã có những chuyển dịch tích cực về cơ cấu
sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, gắn sản xuất với thị
trường.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo
hướng CNH –HĐH. Theo đó, số lao động trong các ngành công nghiệp và
dịch vụ ngày càng tăng lên, số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm
- 7 -
đi. Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp trong tổng số lao động xã hội
tăng từ 12,1 % năm 2000, lên 17,9 % năm 2005, 20,8 % năm 2008, lao động
trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7 % năm 2000 lên 25,3 % năm 2005, năm
2008 : 26,6 % , lao động nông nghiệp giảm từ 68,2 % năm 2000 xuống còn
56,8 % năm 2005 và năm 2008 là 52,6 %.
Ngành
Năm 1990 1995 2000 2005 2008 2009
N. nghiệp 38,74% 27,18% 24,53% 20,97% 21,70% 20,66%
CN và XD 22,67 28,76 36,73 41,02 40,0 40,24
Dịch vụ 38,59 44,06 38,74 38,01 38,30 39,1
b, Cơ cấu kinh tế vùng
Kinh tế vùng cũng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng : Quy hoạch
các vùng KT gắn với quy hoạch phát triển KT-XH của các địa phương, các đô
thị, các địa bàn, lãnh thổ, đặc biệt là các vùng KT trọng điểm ở 3 miền đang
được xây dựng và hình thành từng bước.
Đến năm 2000, các tỉnh vùng núi phía Bắc đóng góp khoảng trên 9%
GDP của cả nước; vùng đồng bàng sông Hồng khoảng 19%; Bắc Trung Bộ và
Duyên hải miền Trung khoảng gần 15%; vùng Tây Nguyên gần 3%; vùng
Đông Nam Bộ khoảng 35% và đồng bằng sông Cửu Long khoảng 19%.
Các vùng KT trọng điểm đóng góp khoảng 50% giá trị GDP cả nước;

hơn vào cơ cấu KT hiện đại. Chính sách hỗ trợ các vùng kém phát triển chưa
đáp ứng được yêu cầu. Sự liên kết vùng chưa được quan tâm đúng mức, hiệu
quả thấp.
- Các thành phần KT phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Chưa
tạo được đầy đủ môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành
phần KT; chưa khai thác tốt các nguồn lực trong nước và của người Việt Nam
ở nước ngoài để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Việc sắp xếp, đổi mới,
- 9 -
phát triển doanh nghiệp nhà nước còn chậm, hiệu quả hoạt động còn thấp.
Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, quy mô
còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa đuợc quản lý tốt. Kinh tế tập thể
kém hấp dẫn và phát triển chậm, còn nhiều lúng túng. Kinh té có vốn đầu tư
nước ngoài phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, việc thu hút đầu tư
nước ngoài còn kém so với một số nước trong khu vực.
3. Nguyên nhân của thực trạng.
a, Nguyên nhân của những thành tựu :
Đạt được những thành tựu quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
là do những nguyên nhân chủ yếu đây :
- Cơ cấu KT tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH.
- Thể chế KT thị trường định hướng XHCN được xây dựng bước đầu.
- Hội nhập KT quốc tế và KT đối ngoại có bước tiến mới.
- Tiềm lực KT, cơ sở vật chất- kỹ thuật được tăng cường đáng kể, khả
năng độc lập tự chủ của nền KT được nâng lên.
b, Nguyên nhân của những hạn chế :
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta còn chậm là do :
- Việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cả nội lực và ngoại lực, vào
công cuộc phát triển KT-XH còn kém hiệu quả và chưa tương xứng với tiềm
năng, hạn chế sự phát triển.
- Trình độ phát triển KT và công nghệ vẫn tụt hậu so với nhiều nước
xung quanh.

550 USD, năm 2007 đạt 11,25 triệu VNĐ (tương đương 760 USD ), năm
2008 : 15,8 triệu VNĐ.
Nông nghiệp Hưng Yên đã phát triển toàn diện theo hướng thâm canh sản
xuất hàng hoá theo nhu cầu của thị trường. Giá trị sản xuất tăng bình quân
5,2%/năm, trồng trọt tăng 5,19%, chăn nuôi tăng 9,38% cơ cấu chuyển dịch theo
- 11 -
hướng giảm tỷ trọng giá trị cây lương thực, tăng nhanh giá trị cây công nghiệp, rau
quả và chăn nuôi.
Trên địa bàn tỉnh hiện nay đã có 5 khu công nghiệp bao gồm: Khu
công nghiệp Như Quỳnh A và B (diện tích 95ha), khu công nghiệp Phố Nối A
(390ha), khu công nghiệp Phố Nối B (250ha), khu công nghiệp Minh Đức
(200ha), khu công nghiệp thị xã Hưng Yên (60ha). Ngoài ra còn có nhiều cụm
và điểm công nghiệp khác nằm dải rác ở các huyện với hàng nghìn cơ sở sản
xuất, hàng vạn công nhân lao động, giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm
tăng trên 25%, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 tăng gấp 20 lần so với
năm 1996. Đã hình thành một số ngành sản xuất có tính động lực như: điện
lực, dệt may, cơ khí và luyện thép với kỹ thuật số tiên tiến, tăng sức cạnh
tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Công tác vận động và thu hút các dự án đầu tư đạt kết quả cao, tạo
động lực cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động. Đến nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã có 818 dự án đầu tư được
chấp thuận và cấp giấy chứng nhận đầu tư , trong đó có 182 dự án đầu tư
nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 1,3 tỷ USD (vốn đã thực hiện là 65%) và
636 dự án có vốn đầu tư trong nước, với số vốn đăng ký là: 44.310 tỷ VNĐ
(vốn đã thực hiện là 46%).
Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: được quan tâm khuyến khích,
nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục, phát triển và mở thêm nhiều
làng nghề mới. Hiện nay Hưng Yên có 62 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, 17
làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho 2,3 vạn lao động. Từ năm 1997 đến
nay, làng nghề và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tốc độ tăng trưởng bình

Ân Thi là một huyện thuần nông nằm ở phía bắc tỉnh với diện tích tự
nhiên là 12.821,08ha dân số khoảng 131.382 người được phân bố làm 20 xã
và một thị trấn. Trong huyện có một công ty may TNHH Foremart Việt Nam
thường xuyên thu hút 1500 - 2300 lao động.
- 13 -
Về giao thông có đường tỉnh lộ 38B và đường 200, đường 204 chạy
qua, hệ thống đường giao thông liên xã phần lớn là đường cấp phối.
Toàn huyện có diện tích gieo cấy 8.208ha lúa xuân 2010, trong đó lúa
chất lượng cao chiếm 65% diện tích, lúa lai chiếm 10% diện tích.
Đường 200, đường (5B) cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đi qua các xã như
Xuân Trúc, Vân Du, Đào Dương, Tân Phúc, Bãi Sậy, Nguyễn Trãi, Hoa
Thám .vv, Hội nông dân từ huyện đến cơ sở đã tuyên truyền vận động hội
viên nông dân thực hiện sự chỉ đạo của Ban giải phóng mặt bằng cấp huyện,
cấp cơ sở.
Bảng 1: Diện tích, dân số và đơn vị hành chính năm 2006 của huyện Ân Thi
Diện tích
(ha)
Dân số TB
(người)
Mật độ d.số
(người/ha)
Số làng
Toàn huyện
12.821.08 131.382 132
1. Phù ủng 834.03 7994 95,8 8
2. Bãi Sậy 710.36 6.528 91,8 8
3. Bắc Sơn 775.33 7.308 94,2 6
4. Tân Phúc 461.4 4.296 92,5 6
5. Đào Dương 619.66 8.907 143,7 4
6. Vân Du 554.34 6.451 116,3 9

2006 109.392 109.392
2007 184.047 161.047 12.5
2008 294.110 206.260 29.87
2009 335.699 256.821 55.77
Bảng 4: Cơ cấu ngành
Năm
Ngành
2005 2006 2007 2008 2009
N. Nghiệp 72% 68% 68% 58% 57%
CN và Xây dựng 11% 14.5% 15% 17% 17%
Dịch vụ 17% 17.5% 17% 25% 26%
* Đánh giá chung :
Huyện đã chú trọng việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất
nông nghiệp đã có nhiều cố gắng và thu đợc nhiêù kết quả khá. Công tác chỉ
đạo,điều hành của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phơng mang lại hiệu
quả thiết thực, sự ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, đã giúp nông
dân chủ động nguồn giống, đổi mới phơng thức sản xuất, tập quán thâm canh
gieo cấy, thu hoạch lúa. Do vậy, diện tích, năng xuất, tổng sản lợng lúa cả
những năm qua cơ bản đạt khá. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia
súc, gia cầm đều tăng so cùng kỳ. Các mô hình trang trại tiếp tục phát triển cả
về quy mô và giá trị doanh thu,toàn huyện có 98 trang trại đạt tiêu chí cho thu
nhập 100 triệu đồng trở lên. Công tác phòng chống lụt bão, úng đợc các cấp,
- 15 -
các ngành, các địa phơng thực hiện nghiêm túc. Kế hoạch nạo vét Đông Xuân
hàng năm và đắp đê Bắc- Hng Hải.
Việc quản lý đất đai đã dần đi vào nề nếp theo quy định của Luật đất
đai. Công tác vệ sinh môi trờng đã có chuyển biến tích cực, nhiều xã, thị trấn
đã quan tâm, chỉ đạo và thực hiện tốt vệ sinh môi trờng. Công tác giải phóng
mặt bằng dự án đờng ô tô cao tốc Hà Nội Hải Phòng qua địa bàn huyện đ-
ợc chỉ đạo tập trung bảo dảm đúng tiến độ. Đang tập trung hoàn chỉnh hồ sơ

bất cập, giá điện thu quá cao so với giá bậc thang quy định chung của ngành
điện, gây bức xúc trong nhân dân.
- Trong quản lý đất đai vẫn còn dấu hiệu buông lỏng, một số xã, thị trấn
vẫn để cho thôn, ấp bán đất trái thẩm quyền, chuyển đổi đất sai mục đích hoặc
khoán đấu thầu dài hạn nhiều năm thu tiền một lần cha đợc x lý triệt để. Công
tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm do công tác tuyên
truyền và trách nhiệm của lãnh đạo quản lý cơ sở còn xem nhẹ, cha tập trung
cao, một số cơ sở cán bộ chuyên môn còn có biểu hiện gây phiền nhiễu với
công dân. Công tác vệ sinh môi trờng một số địa phơng cha thực sự quan tâm,
hiện tợng rác không đợc thu gom hoặc thu gom lại đổ bừa bãi không đúng quy
định ở một số xã vẫn còn, gây ô nhiễm môi trờng và ảnh hởng sức khoẻ cộng
đồng.
- Công tác quản lý, điều hành của một số xã, thị trấn cha thật sự sâu sát
dẫn đến một số sai phạm về quản lý điều hành trong một số lĩnh vực, quản lý
đất đai và chính sách xã hội
- Công tác an toàn giao thông và chấp hành giao thông ở một bộ phận
công dân cha nghiêm túc, tình trạng lấn chiếm lòng, lề đờng, xây dựng công
trình kiên cố trái phép vi phạm hành lang an toàn giao thông vẫn xẩy ra, ý
thức tham gia giao thông kém dẫn đến vi phạm an toàn giao thông. Hiện tợng
lạng lách, đánh võng, không đội mũ bảo hiểm, chạy quá tốc độ, đặc biệt vào
bam đêm ở các tuyến đờng giao thông chính của huyện vẫn còn tiếp diễn. Các
tuyến đờng trong huyện hiện nay đã xuống cấp nhiều ảnh hởng đến việc đi lại
của nhân dân, đồng thời là nguyên nhân gây tai nạn giao thông nhng cha có
giải pháp khắc phục.
- Công tác xây dựng trờng đạt chuẩn Quốc Gia còn chậm, do việc đầu t
kinh phí còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất của một số trờng xuống cấp,
nhất là cơ sở vật chất của trờng Mầm non nhng cha đợc địa phơng quan tâm
sửa chữa kịp thời.
- Một số trạm xã xã bị xuống cấp, trang thiết bị thiếu, cũ cha đợc đầu t
đã ảnh hởng đến chất lợng khám, chữa bệnh cho nhân dân.

thc hin tt, ú l : Phi phỏt trin ton din nụng nghip, chuyn dch mnh
c cu nụng nghip v kinh t nụng thụn theo hng to ra giỏ tr gia tng
ngy cng cao, gn vi cụng nghip ch bin v th trng, thc hin c khớ
hoỏ, in khớ hoỏ, thy li hoỏ, a nhanh tin b khoa hc, k thut v cụng
ngh sinh hc vo sn xut, nõng cao sn xut, cht lng v sc cnh tranh,
phự hp vi c im tng vựng, tng a phng, khn trng xõy dng cỏc
quy hoch phỏt trin nụng thụn v thc hin chng trỡnh xõy dng , t chc
v phỏt trin ca cỏc thnh phn kinh t, t chc kinh t nụng thụn i ụi
- 18 -
với xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao trình độ dân trí, văn minh, môi
trường lành mạnh, hình thành các khu dân cư đô thị hoá với kết cấu hạ tầng
kinh tế – xã hội đồng bộ,chuyển dịch cơ cấu kinh tế lao động nông thôn theo
hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm
công nghiệp và dịch vụ.
Nghị quyết Trung ương 7 ( khoá X ) đã đề ra từ nay đến năm 2010 là “
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất , tinh thần của dân cư nông thôn, hài
hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các cùng còn nhiều khó
khăn, nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước
tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông
thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện
đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng xuất, chất lượng, hiệu quả và
khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả
trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã
hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức t chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dântộc,dân trí được nâng cao,
môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh
đạo của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên
minh công nông – nông dân – trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế – xã
hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây

lược phát triển dịch vụ phải gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng và thực hiện
chiến lược phát triển công nghiệp và các chương trình đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường huy động các nguồn
lực trong xã hội bằng cách mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân và nước
ngoài vào đầu tư, kinh doanh các ngành dịch vụ, giảm thiểu độc quyền nhà
nước, tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường. Thí dụ, trong các ngành điện
lực và viễn thông,nhà nước cần tách chức năng quản lý được trục quốc gia với
chức năng kinh doanh của các doanh nghiệp để có nhiều doanh nghiệp hơn
- 20 -
tham gia kinh doanh. Trong một số ngành dịch vụ mang tính xã hội giáo dục,
y tế, văn hoá, thể thao, môi trường… cần đẩy mạnh công tác xã hội hoá.
Muốn vậy nhà nước cần xây dựng và ban hành các quy định pháp lý và các
chính sách rõ ràng về phương thức và các hình thức xã hội hoá.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ thông qua các
biện pháp như : Đẩy mạnh thực hiện lộ trình giảm giá cước dịch vụ xuống
mức ít nhất là ngang bằng với các nước trong khu vực, tăng cường ứng dụng
khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất và kinh doanh dịch vụ, phát huy
lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, từng thời kỳ, thay đổi phương thức
và thái độ phục vụ để hướng tới khách hàng nhiều hơn, vì lợi ích của khách
hàng… Đáp ứng với những thách thức trong quá trình hội nhập , trước hết
Nhà nước cần xây dựng một lộ trình mở cửa dịch vụ thích hợp, phù hợp với
những cam kết quốc tế và sát với thực tế nước ta, tiếp đến các ngành, các cấp
và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, sẵn
sàng đón nhận sự cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và nước ngoài.
5. Tăng nhanh nguồn vốn đầu tư, hướng dẫn đầu tư vào việc thúc
đẩy nhanh chuyển dịch các ngành, vùng và thành phần kinh tế.
Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách nhằm khuyến
khích đầu tư, thu hút đầu tư phát triển kinh tế – xã hội.
Kết hợp giữa các nguồn vốn đầu tư, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phương
thức đầu tư phù hợp, tránh dàn trải, thiếu trọng điểm, kém hiệu quả ở các

trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Huy động tối đa nguồn vốn để đầu tư máy móc, trang thiết bị tiên
tiến, hiện đại đưa vào ứng dụng trong các ngành kinh tế.
- Nhà nước cần đầu tư phát triển các khu công nghệ cao. Hình thành
các trung tâm kinh tế, thương mại.
- 22 -
- Đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ trong quá
trình Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Cần củng cố và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, chính
quyền cơ sở.
- Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở về mọi mặt.
Hiện nay đội ngũ cán bộ cơ sở còn thiếu, còn yếu, khi giải quyết công việc
lúng túng,có khi tránh né, cục bộ… gây mất lòng tin của nhân dân với chính
quyền, ảnh hưởng tới uy tín và năng lực chỉ đạo thực tiễn của cán bộ.
PHẦN KẾT LUẬN
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt
Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc
gia văn minh, hiện đại.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tác động đến sự phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước và đã cải thiện được cơ bản đời sống của nhân
dân, nhất là đời sống người nông dân.
Tuy nhiên, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta cũng còn nhiều tồn
tại, hạn chế, chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đề ra.
- 23 -
Để quá trình này đạt được hiệu quả cao, đạt được mục tiêu của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế là : Phát triển mạnh mẽ về kinh tế, ổn định về chính trị –
xã hội, bảo đảm môi trường sinh thái, chúng ta phải hết sức năng động, chủ
động,sáng tạo, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nhất là phải nắm bắt được

Phần nội dung 4
I- Cơ sở lý luận và thực tiễn 4
1. Một số khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế và CDCCKT 4
2. Cơ sở thực tiễn của chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5
II- Thực trạng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước
ta, và tỉnh Hưng Yên, huyện Ân Thi
6
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status