§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết Trung Ương lần thứ 9
(Khoá IX) đề ra về mục tiêu và nhiêm vụ của nước ta trong thời kì 2006 – 2010 để
đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển là: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá “
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển
kinh tế, vừa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội trong 1 giai đoạn nhất
định, vừa là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội quốc gia lên 1 trình độ
mới.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung gồm 3 phương diện hợp thành đó là: Cơ
cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ. Trong Tiểu luận
này tôi chú trọng nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, mà cụ thể
hơn đó là kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt nam thời kì 2006 – 2010.
Qua những phân tich này tôi đã mạnh dạn đưa ra những nhận định về kế hoạch
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì kế hoạch 2006 – 2010 và cũng đề xuất
một số biện pháp.
Trong quá trình hoàn thành tiểu luận này tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến
GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng đẫ giúp đỡ tôi rất nhiều không chỉ về tài liệu mà còn
những lời góp ý, hướng dẫn tận tình
Dù rất cố gắng chỉnh sửa xong tiểu luận này không thể tránh được những thiếu
xót. Kính mong nhận được sự thông cảm và góp ý của thầy cô và bạn bè.
Líp: KÕ ho¹ch 44
§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ
I.Vai trò của kế hoạch 5 năm trong hệ thống kế hoạch hoá việt nam
1.Hệ thống kế hoạch hoá việt nam gồm
1.1.Công tác dự báo
a. Định nghĩa
Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính xác suất về mức độ, nội
Chức năng chủ yếu của chiến lược là định hướng, vạch ra các đường nét chủ yếu
cho sự phát triển của đất nước trong thời gian dài vì vậy chiến lược mang tính chất
định tính là chủ yếu (như các quan điểm, phương hướng, chính sách…) tuy vậy chiến
lược cũng phải có tính định lượng ở một mức độ cần thiết. Để định hướng, chiến
lược cần phải làm tốt cả mặt định tính cũng như định lượng, tức là có cả các tính
toán, các dự báo, các luận chứng cụ thể. Trên thế giới, nhiều nước đã đưa ra các
chiến lược phát triển dài hạn theo quan niệm về 1 chiến lược định hướng, chiến lược
“mềm” (linh hoạt) có thể hiệu chỉnh trong từng bước cho phù hợp với những biến đổi
của cuộc sống đất nước và hoàn cảnh quốc tế.
1.3.Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
a. Định nghĩa
Quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lược về thời gian và không
gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ động hướng tới
mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững.
b.chức năng
Chức năng trước hết là sự thể hiện của chiến lược trong thực tiễn phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Quy hoạch cụ thể hoá chiến lược cả về mục tiêu lẫn giải
pháp. Nếu không có quy hoạch sẽ mù quáng, lộn xộn, đổ vỡ trong phát triển, quy
hoạch để định hướng, dẫn dắt, điều chỉnh trong đó có cả điều chỉnh thị trường. Mặt
khác, quy hoạch còn có chức năng là cầu nối giữa chiến lược, kế hoạch và quản lý
thực hiện chiến lược, cung cấp các căn cứ khoa học cho các cấp để chỉ đạo vĩ mô nền
kinh tế qua kế hoạch, các chương trình dự án đầu tư, bảo đảm cho nền kinh tế phát
triển nhanh, bền vững và có hiệu quả.
Líp: KÕ ho¹ch 44
§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
1.4.Kế hoạch phát triển
a.Định nghĩa
Kế hoạch là 1 công cụ quản lí và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân, nó là sự cụ
thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển theo từng thời kì bằng hệ
thống các chỉ tiêu mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp định hướng phát triển và hệ thống
bằng các chương trình. Tính nghệ thuật này còn thể hiện trong khả năng “lồng ghép”
các chương trình trong tổ chức chỉ đạo.
b. Chức năng
Cụ thể hoá kế hoạch, đưa nhiệm vụ kế hoạch vào thực tiễn cuộc sống. Có thể gọi
đây là một phương pháp tiến hành của kế hoạch. Với chức năng này, một chương
trình quốc gia phải bao hàm các mục tiêu cụ thể, các chỉ tiêu biện pháp và các giải
pháp để thực hiện.
Xử lý các vấn đề gay cấn nhất về kinh tế-xã hội của một quốc gia. Các vấn đề cần
được xây dựng và quản lý bằng các chương trình quốc gia là các vấn đề bức xúc, các
khâu đột phá, các mắt xích quan trọng của nền kinh tế.
Hiện nay theo xu hướng đổi mới kế hoạch hoá, các chương trình, dự án phát triển
lại được xem như là cơ sở để thực hiện phân bố nguồn lực như: Vốn đầu tư, ngân
sách… thay cho hình thức phân bổ theo đối tượng như trước kia.
Thực hiện kế hoạch hoá theo chương trình quốc gia là biện pháp để khắc phục
những mặt trái của cơ chế thị trường, tạo sự ổn định về chính trị xã hội cho nền kinh
tế phát triển một cách bền vững.
2.Kế hoạch trung hạn (kế hoạch 5 năm)
2.1.Vị trí trung tâm của kế hoạch 5 năm
Nghị quyết đại hội 9 của đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “xây dựng kế
hoạch 5 nẳm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hoá phát triển”. Thời
hạn 5 năm là thời hạn thường trùng lặp với nhiệm kì làm việc của cơ quan chính phủ,
là thời hạn mà lợi tức đầu tư bắt đầu có sau 1 năm hoặc một vài năm. Những kế
hoạch trong phạm vi 5 năm thường chính xác hơn, dễ thực thi hơn những kế hoạch có
thời gian dài.
Kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá các chiến lược và quy hoạch phát triển trong lộ
trình phát triển dài hạn của đất nước. Nó xác định các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng
kinh tế, nâng cao phúc lợi trong thời kì 5 năm và xác định các cân đối, các chính sách
phân bổ nguồn lực, vốn cho các chương trình phát triển của khu vực kinh tế nhà nước
và khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Líp: KÕ ho¹ch 44
kế hoạch quốc gia hoàn tất năm đầu kế hoạch, họ bổ sung những dự trù, những mục
tiêu, những dự án cho những năm tiếp theo. Ví dụ, kế hoạch 2001 - 2005 sẽ được
Líp: KÕ ho¹ch 44
§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
xem xét vào cuối năm 2001 và đề ra kế hoạch mới cho thời kì 2002 - 2006, trên thực
tế kế hoạch được đổi mới theo thời gian cuối mỗi năm nhưng số năm vẫn được giữ
nguyên. Kế hoạch 5 năm theo phương pháp “cuốn chiếu” sẽ khắc phục được tính
nhất thời, tuỳ tiện và thậm chí là trái ngược nhau trong các mục tiêu cũng như trong
các chính sách kinh tế. Phương pháp này được đưa ra trong nhiều đề án đổi mới kế
hoạch hoá ở việt nam.
II.SỰ CẦN THIẾT PHẢI THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NGÀNH KINH TẾ
1.Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1.Cơ cấu ngành kinh tế:
Cơ cấu ngành kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh
tế, mối quan hệ này bao hàm cả về số lượng và chất lượng, chúng thường xuyên biến
động và hướng vào những mục tiêu nhất định. Cơ cấu ngành là bộ phận rất quan
trọng trong cơ cấu nền kinh tế, sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến sự
biến động của nền kinh tế.
1.2.Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế của 1 quốc gia, cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành
kinh tế luôn thay đổi. Sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế từ trạng thái này sang
trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế.
2.Nội dung và xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
2.1.Nội dung
2.1.1.Xác định cơ cấu ngành kinh tế
Để xác định được cơ cấu ngành trong kì kế hoạch, phuơng pháp được sử dụng phổ
biến là dựa vào mô hình Vào - ra. Mô hình này nghiên cứu những mối quan hệ tỉ lệ
cân đối đặc trưng cho việc phân phối sản phẩm giữa các ngành và mối quan hệ giữa
cùng (Y
i
) là những sản phẩm được đưa ra khỏi sản xuất hàng năm được dùng để bù
đắp hao mòn, sử dụng cho tiêu dùng, tích luỹ và khối lượng chênh lệch xuất nhập
khẩu.
Khi xây dựng mô hình Vào - Ra người ta thường giả thiết rằng khối lượng sản
phẩm của ngành i tiêu dùng cho ngành j tỉ lệ thuận với khối lượng sản phẩm của
ngành j:
x
ij
=a
ij
X
i
(i,j=1, 2,… , n) (2)
Trong đó: a
ij
là hao phí trực tiếp sản phẩm ngành i để sản xuất ra trong 1 đơn vị sản
phẩm ngành j - được gọi là hệ số hao phí trực tiếp. Hợp nhất phương trình (1) và (2)
sẽ có:
X
i
= a
ij
X
j
+ Y
i
(i=1, 2,... ,n)
Dưới dạng ma trận có thể viết: X= AX+Y
chỉ có thể xảy ra trường hợp sau:
Như vậy tiến bộ kĩ thuật là yếu tố thúc đẩy hệ số kĩ thuật thay đổi và sự thay đổi
này lại là yếu tố quyết định thay đổi cơ cấu ngành. Thực tế cho thấy sự tác động của
tiến bộ kĩ thuật đến cơ cấu ngành được thể hiện ở chỗ: Tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy
ngành mới ra đời. Tiến bộ kỹ thuật làm nâng cao năng suất lao động, tác động đến cơ
cấu lao động và tiến bộ kỹ thuật, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm, thúc
đậy viêc hợp lý cơ cấu ngành. Trong trường hợp hệ số kỹ thuật của ngành không thay
đổi, nếu thay đổi cơ cấu tài sản cố định và tỷ lệ các yếu tố trung gian đầu vào thì
năng lực sản xuất của ngành cũng thay đổi. Vì trong trường hợp trình độ kỹ thuật
không thay đổi, nếu năng lực sản xuất của tài sản cố định gia tăng và theo đó gia tăng
các sản phẩm trung gian thì các ngành này cũng sẽ tăng sản phẩm đầu ra. Sự thay đổi
cơ cấu tài sản cố định và các yếu tố trung gian đầu vào chính là kết quả của sự thay
đổi cơ cấu đầu tư. Cơ cấu đầu tư là tỷ lệ phân phối vốn đầu tư vào các ngành khác
nhau. Do đó, có thể nói cơ cấu đầu tư là yếu tố quyết định đối với cơ cấu ngành.
2.2.Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế lại có thể xét thấy trên nhiều góc độ. Với việc xem xét các
yếu tố đầu vào là cơ cấu lao động, cơ cấu kỹ thuật. Thông thường cơ cấu đầu ra tính
theo giá trị sản xuất được sử dụng để phản ánh cơ cấu ngành. Sự chuyển dịch cơ cấu
này mang tính quy luật, đó là khi thu nhập đầu người tăng lên thì tỷ trọng nông
Líp: KÕ ho¹ch 44
§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
nghiệp trong tổng sản phẩm sẽ giảm xuống, còn tỷ trọng của công ngiệp và dịch vụ
sẽ tăng lên. Khi đạt dến trình độ nhất định, tỷ trọng của dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn tỷ
trọng của công nghiệp.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành đã được 2 nhà kinh tế học là E. Engel và A.
Fisher nghiên cứu khi đề cập đến sụ thay đổi về nhu cầu chỉ tiêu và sự thay đổi cơ
cấu lao động. Ngay từ cuối thế kỷ 19, E. Engel đã nhận thấy rằng, khi thu nhập của
các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho lương thực, thực phẩm giảm đi nên tất yếu
sẽ dẫn đến tỷ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập
tăng lên. Quy luật E. Engel được nghiên cứu cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm,
dặng trưng của nền kinh tế trong những điều kiện cụ thể.
Xác định hướng huy động và sử dụng các yếu tố đầu vào dặc biệt là cơ cấu vốn
đầu tư và cơ cấu lao động nhằm đảm bảo dựôc cơ cấu đầu ra theo hướng đâ xác định.
Đề xuất các chính sách, biện pháp kinh tế - xã hội cần thiết để hướng dẫn sự
hoạt động của nền kinh tế sao cho đáp ứng được yêu cầucủa sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế.
4. Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Phát triển nhanh và bền vững.
- Chủ động thực hiện hội nhập quốc tế để tranh thủ cơ hội mới về vốn, công nghệ
và thị trường thế giới, chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại hoá.
- Gắn chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với việc thực hiện chiến lược hội nhập
hướng mạnh vào xuất khẩu trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước.
5. Các yếu tố cơ bản tác động đêb\ns chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
5.1 Công nghệ
5.2 Cơ cấu đầu tư
5.3 Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
5.4 Đường lối, chính sách phát triển của nhà nước
5.5 Lao động
Líp: KÕ ho¹ch 44
§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ 2001 - 2005
I. Các chỉ tiêu kế hoạch đề ra về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam
thời kỳ 2001 2005
1. Mục tiêu chung
Đại hội đảng lần thứ X đã đặt ra mức phấn đấu cao trong kế hoạch 5 năm 2001
– 2005 là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống
nhân dân. Chuyển dịch mnạh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở
- Dự báo tình hình năm 2005 sẽ còn những khó khăn, bất lợi do tình hình chính trị,
kinh tế trên thế giới đang diễn biến phức tạp.
Tình hình bất ổn về chính trị và kinh tế của một số nước trên thế giới không chỉ
ảnh hưởng đến xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà còn có thể tạo
nên bất ổn chính trị trong nước với những thủ đoạn tinh vi của địch. Điều đó đỏi hỏi
trong thời gian tới phải xây dựng những chính sách đồng bộ về chính trị, kinh tế, văn
hoá, ngoại giao...
Nguy cơ tiềm ẩn tái phát một số dịch bệnh mang tính toàn cầu còn rất lớn như
dịch bệnh SARS, dịch cúm gia cầm... và có thể ảnh hưởng xấu đến kinh tế Việt Nam.
Tình hình giá cả một số mặt hàng trên thế giới biến động có thể gây khó khăn cho
Việt Nam trong hoạt động xuất, nhập khẩu.
Vấn đề thiếu hụt năng lượng và nguyên liệu sẽ tác động mạnh đến kinh tế thế giới
và kinh tế Việt Nam.
Bên cạnh đó tình hìh trong nước vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức đó là nền
sản xuất của ta còn lạc hậu, năng suất chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh của
sản phẩm còn thấp; cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực chưa chuyển
dịch kịp thời theo sự biến động nhanh nhạy của nhu cầu thị trường trong nước và
quốc tế.
Các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế còn hạn chế và chưa được khai thac triệt
để, nhất là khu vực dân cư. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của
nền sản xuất hiện đại. Chi phí sản xuất một số lĩnh vực còn cao so với các nước trên
thế giới và khu vực đã ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
như: điện, giao thông vận tải,... tình trạng bao cấp có xu hướng quay trở lại.
Líp: KÕ ho¹ch 44
§Ò ¸n m«n häc TrÇn TuÊn Cêng
Cơ sở hạ tầng tuy bước đầu đã được cải thiện nhưng nhìn chung vẫn chua tương
xứng với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế chưa ổn định;
khả năng thích ứng với các biến động còn yếu kém.
Tiến trình cải cách hành chính còn chậm, nhiều cơ chế, nhiều chính sách chưa
đồng bộ, thủ tục hành chính còn phiền hà; nạn tham nhũng, tệ quan liêu, suy thoái về
Các ngành dịch vụ truyền thống như thương nghiệp, vận tải, bưu chính viễn
thông, khách sạn, nhà hàng phát triển khá. Đặc biệt 1 số ngành có tỷ lệ chi phí trung
gian thấp như ngân hàng, bảo hiểm... đã phát triển khá nhanh góp phần làm cho giá
trị tăng thêm của ngành dịch vụ tăng cao và làm cho cơ cấu các lĩnh vực dịch vụ
trong giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ
trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng cao.
2.2 Về tốc độ tăng trưởng của các ngành
a. Khu vực nông nghiệp tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất
toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân trong 5 năm khoảng 5,4%, vượt
mục tiêu kế hoạch đề ra là 4,8%, trong đó nông nghiệp tăng 4,0%; lâm nghiệp tăng
1,3%; ngư nghiệp tăng 10,7%. Giá trị tăng thêm của ngành nông,lâm, nghiệp tăng
bình quân là 3,6%( mục tiêu đề ra là 4,0 – 4,3%)
Ngành trồng trọt đã từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thị
trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Diện tích gieo trồng lương thực tuy
giảm khoảng 220 nghìn ha do chuyển đổi cơ cấu, nhưng do năng suát, chất lượng đều
tăng, nên an ninh lương thực quốc gia, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu vẫn được
đảm bảo, sản lượng lương thực tăng bình quân hằng năm 1,1 triệu tấn; dự kiến năm
2005 đạt 39,9 triệu tấn. Các loại cây công nghiệp có lợi thế xuất khẩu như cao su,
điều, hồ tiêu... đều phát triển. Ngành chăn nuôi phát triển mạnh, tốc độ tăng giá trị
sản xuất bình quân 6,4% năm, chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp phát triển.
Ngành lâm nghiệp tiếp tục chú trọng vào bảo vệ và trồng rừng; từng bước chuyển
hướng từ lâm nghiệp do náh nước quản lí là chính sang phát triển lâm nghiệp với sự
tahm gia của nhiều thành phần kinh tế. Độ che phủ rừng tăng từ 33,7% năm 2000 lên
khoảng 38% năm 2005, mục tiêu kế hoạch đề ra là 38- 39%
Ngành thuỷ sản phát triển nhanh, nhất là nuôi trồng, Sản lượng thuỷ sản năm 2005
ước đạt 3,3 triệu tấn, tăng 1,5 lần so với năm 2000, trong đó nuôi trồng thuỷ sản ước
đạt 1,36 triệu tấn ; khai thác hải sản ước đạt 1.94 triệu tấn. Tỷ trọng giá trị sản xuất
trong toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ 15,6% năm 2000 lên khoảng 21,1%
năm 2005.
Líp: KÕ ho¹ch 44
xuất khẩu. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ bình quân 5 năm tăng khoảng
14,8% vượt mcụ tiêu kế hoạch là 11- 12%.
Líp: KÕ ho¹ch 44