Mục lục
Mở
đầu .3
I. Tổng quan về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân ...5
1.1. Những khái niệm chung về cơ cấu kinh tế
..5
1.1. 1. Khái niệm cơ
cấu .5
1.1. 2. Khái niệm cơ cấu kinh
tế .5
1.1. 3. Phân loại cơ cấu kinh
tế ...6
1.1. 4. Vai trò của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế ...9
1.2. Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân .9
1.3. Lý luận chung về công nghiệp hoá - hiện đại hoá ...9
1.3.1- Định nghĩa về công nghiệp hóa
9
1.3.2-Định nghĩa về hiện đại
hóa ..10
1.3.3-Mối quan hệ giữa cơ cấu kinh tế với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ..11
1.4. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ..11
1.4.1. Xuất phát từ tình hình, xu hớng chung của khu vực, thế giới ..11
1.4. 2. Xuất phát từ yêu cầu trong nớc . ...12
1.4. 3. Xuất phát từ những yêu cầu khác ..
14
1
II-Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
14
2.1-Hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ..14
Mở đầu
Từ Đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá là
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó trong những năm qua,
nhất là những năm đổi mới chúng ta đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng tạo ra thế và
lực mới chuyển sang một thời kỳ phát triển cao hơn đẩy tới một bớc công nghiệp hoá n-
ớc nhà. Tuy nhiên trong quá trình công nghiệp hoá những năm trớc đây do nhiều nguyên
nhân trong đó có nguyên nhân nóng vội chủ quan, đốt nóng giai đoạn chúng ta đã mắc
phải một số khuyết điểm sai lầm mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và thứ VII đã
vạch ra.
Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém đẩy lùi nguy cơ tụt hậu về
kinh tế, sớm đa đất nớc ra khỏi tình trạng một nớc nghèo, cải thiện đời sống nhân dân
tăng cờng tiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc độc lập và chủ quyền quốc
gia, tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất ra đời phù hợp với quan hệ sản xuất mới thì
không còn con đờng nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với
các yêu cầu và bớc đi trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một
trong những nôị dung cơ bản của đờng lối đổi mới nền kinh tế đất nớc do Đại hội lần thứ
VII và VIII của Đảng đề ra. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 ở nớc ta có cơ cấu GDP
theo ngành là: Tỷ trọng nông nghiệp khoảng 19-20%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng
cơ bản khoảng 34-35%, tỷ trọng dịch vụ khoảng 45-46%. Để đạt đợc mục tiêu đề ra trên
đây, góp phần thực hiện chủ trơng lớn của Đảng và nhà nớc trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mỗi nhóm ngành phải đạt tốc độ tăng trởng: Nông
nghiệp từ 4-4.5%, công nghiệp và xây dựng cơ bản: 14-15% và dịch vụ 12-13% và
chung của nền kinh tế là 9-10% một năm. Nhằm tìm kiếm các phơng hớng và giải pháp
cơ bản thực hiện chủ trơng và nhiệm vụ quan trọng này, đã có nhiều công trình nghiên
cứu đợc tiến hành và thử nghiệm trong những năm vừa qua. Nhiều ấn phẩm khoa học đã
đợc xuất bản. Qua các nghiên cứu đó, nhiều vấn đề lý luận, quan điểm định hớng đã
4
từng bớc đợc luận giải và làm sáng tỏ, nhiều chính sách, giải pháp ...Đã đợc triển khai và
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ là một
tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện
kinh tế - xã hội nhất định, đợc thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lợng, cả về số lợng
và chất lợng, phù hợp với mục tiêu đợc xác định của nền kinh tế.
Nhìn chung các cách tiếp cận trên đã phản ánh đợc bản chất chủ yếu của cơ cấu
kinh tế đó là các vấn đề:
6
- Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc
gia.
- Số lợng, tỷ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệ thống kinh
tế trong tổng thể nền kinh tế đất nớc.
- Các mối quan hệ tơng tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố hớng vào
các mục tiêu đã xác định.
- Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian luôn bao hàm trong đó
sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng nh sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Cho nên dù
xem xét dới bất kỳ góc độ nào cũng có thể thấy rằng. Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là
tổng thể những mối quan hệ về chất lợng, số lợng giữa các bộ phận cơ cấu thành đó
trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế -xã hội nhất định.
1.1. 3. Phân loại cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu tợng, muốn nắm vững bản chất của cơ
cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu
quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân. Mỗi một loại cơ cấu
phản ánh những nét đặc trng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau
trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế quốc dân dới giác độ cấu
trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau
trong quá trình phát triển kinh tế. Những loại cơ cấu kinh tế cơ bản quyết định sự tồn tại
và phát triển của nền kinh tế quốc dân bao gồm:
a) Cơ cấu ngành kinh tế:
Là tổ hợp các ngành hợp thành các tơng quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa
liệu sản xuất. Mô hình chung về số lợng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nớc
bao gồm: kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể, kinh tế t nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các
thành phần kinh tế này thờng không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thù trong
chiến lớc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng nh trong mỗi giai đoạn phát triển của
từng quốc gia.
8
Trên đây là ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế trong đó cơ cấu ngành
kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả và trong phạm vi bài viết chỉ xin đợc đề cập đến cơ
cấu ngành kinh tế. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể đợc chuyển dịch đúng
đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nớc. Mặt khác việc phân bố
không gian vùng một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành
và thành phần kinh tế trên vùng, lãnh thổ kinh tế.
Ngoài ba cơ cấu cơ bản trên còn có các cơ cấu sau:
d) Cơ cấu xuất nhập khẩu:
Đó là loại cơ cấu phản ánh mối quan hệ về số lợng và chất lợng giữa xuất khẩu và
nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của nền kinh tế. Ngày nay xu hớng hội nhập để phát triển,
không còn tồn tại nền kinh tế tự cung tự cấp trong phạm vi một quốc gia mà mọi nền
kinh tế đều có sự trao đổi lẫn nhau để phát huy cao nhất lợi thế so sánh, cũng nh khắc
phục những điểm yếu trong quá trình phát triển. Bởi vậy cơ cấu xuất nhập khẩu đợc xem
nh là tất yếu khách quan của mọi nền kinh tế. Theo tiến trình chung có tính quy luật mà
mỗi nớc phải trải qua trong quá trình chuyển đổi loại cơ cấu này là đi từ nhập khẩu
chiếm tỷ trọng cao, tiếp theo sản xuất thay thế nhập khẩu, cuối cùng là phát triển nền
kinh tế theo định lợng xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao.
e) Cơ cấu công nghệ sản xuất:
Phản ánh số lợng và tỷ lệ các loại cộng nghệ đang và sẽ sử dụng trong nền kinh
tế. Một nền kinh tế thờng sử dụng những loại công nghệ khác nhau: công nghệ kém hiện
đại, công nghệ hiện đại, công nghệ tiên tiến, công nghệ sử dụng nhiều lao động, sử dụng
ít lao động, công nghệ sạch, công nghệ gây ô nhiễm. Vai trò, vị trí, quan hệ tơng hỗ và
tỷ lệ giữa các loại công nghệ nói trên trong quá trình phát triển nền kinh tế tạo thành cơ
cấu công nghệ của nền kinh tế đó.
dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc cha phù hợp để
xây dụng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ
thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Nh vậy, chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự
điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế, đó là cơ cấu ngành, cơ cấu
10
thành phần kinh tế, cơ cấu vùng-lãnh thổ kinh tế. Nhằm hớng sự phát triển của toàn bộ
nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển.
1.3. Lý luận chung về công nghiệp hoá - hiện đại hoá:
1. 3.1- Định nghĩa về công nghiệp hóa:
Có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về công ngiệp hoá, song nó thờng đ-
ợc hiểu là một quá trình gắn liền với việc xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, trang bị kỹ
thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế nhằm thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh
tế xã hội, khai thác tối u các nguồn lực và lợi thế, đảm bảo nhịp độ tăng trởng nhanh và
ổn định.
Tổ chức phát triển nông nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đa ra định nghĩa:
Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong các quá trình này một bộ
phận ngày càng tăng các nguồn của quốc dân đợc động viên để phát triển cơ cấu kinh tế,
nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có
một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những t liệu sản xuất và hàng tiêu
dùng có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm tiến bộ
về kinh tế xã hội.
Song dù muốn hay không công nghiệp hoá ở nớc ta hiện nay trớc mắt nhằm xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững. Song có lẽ
sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Thực
tiễn nớc ta và kinh nghiệm của một số nớc đang phát triển cho thấy ngay từ bớc đầu tiên
của việc hoạch định chiến lợc và chơng trình phát triển nhất thiết phải đảm bảo tính
đồng bộ giữa kinh tế và xã hội, cùng với sự phát triển kinh tế phải xây dựng những mặt
thuộc hạ tầng của đời sống xã hội, tăng trởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công
bằng xã hội, phát triển văn hoá nâng cao đời sống nhân dân.
Qua những vấn đề phân tích trên ta có thể định nghĩa:
-Đạt những mục tiêu của nền kinh tế, thể hiện đúng chiến lợc phát triển kinh tế
quốc gia.
12
1.4.Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo h ớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá
1.4. 1. Xuất phát từ tình hình, xu h ớng chung của khu vực, thế giới.
Trong mấy thập kỷ qua, các nớc vùng Châu á - Thái Bình Dơng đã tận dụng khá
tốt những lợi thế so sánh để phát triển nền kinh tế của mình nên đã đạt tốc độ tăng trởng
khá cao, làm cho khu vực này trở thành khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên
thế giới. Nhờ đó, đã xuất hiện những nớc công nghiệp hoá mới, có những nớc đã đứng
vào hàng ngũ các nớc có tốc độ tăng trởng cao. Cùng với sự tăng trởng kinh tế ở các nớc
này giá nhân công ngày càng tăng đã làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm do họ
sản xuất ra bởi giá thành tăng. Các nớc này vì thế phải tìm cách chuyển một phần các
lĩnh vực sản xuất khó cạnh tranh sang các nớc khác dới hình thức đầu t, chuyển giao
công nghệ. Các nớc kém phát triển hơn lại có nhu cầu tiếp nhận các công nghệ có trình
độ thấp để từng bớc tham gia vào thị trờng thế giới, tạo ra cơ may và tăng cờng khả năng
cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Sự gặp gỡ cung và cầu công nghệ trình độ thấp đã thúc
đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ và đầu t trực tiếp vào các nớc đang phát
triển làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở các nớc này.
- Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tạo ra những lĩnh vực công
nghệ mới, có hiệu quả cao đặc biệt là các công nghệ tiếp kiệm tài nguyên, bảo vệ mội tr-
ờng. Việc thực hiện công nghệ này trớc mắt cha thu lợi nhuận, nhng trong tơng lai thì lại
có cơ sở để giành vị trí thống trị hoặc áp đảo thị trờng khu vực và thế giới. Trớc những
biến đổi nhanh chóng trên thế giới đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ để không bị lạc
hậu, phải biết tận dụng những lợi thế của nớc đi sau để phát triển, hội nhập mà không bị
biến thành nơi tiếp nhận những công nghệ trình độ thấp, bị lệ thuộc vào các nớc xuất
khẩu công nghệ. Việt Nam là một trong những nớc nghèo trên thế giới, dù chúng ta đã
đạt đợc nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội trong thời gian qua. Song so với
các nớc trong khu vực và trên thế giới chúng ta cần phải phấn đấu hơn nữa. Một trong
những giải pháp quan trọng đó chính là phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu
- Việt Nam đang thúc đẩy các hoạt động để gia nhập AFTA, WTO trong thời gian
tới, việc tham gia các tổ chức này về cơ bản sẽ mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội, và
14
cũng có nhiều thách thức. Việc tận dụng tốt các cơ hội và đối phó với những thách thức
buộc chúng ta phải có chiến lợc công nghiệp hoá đúng đắn, có sự chuyển dịch kinh tế
mạnh mẽ nhằm thúc đẩy sự phát triển trong nớc, đa hàng hoá của chúng ta đủ sức cạnh
tranh đối với hàng hoá của các nớc khác. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự cần thiết cho quá trình trên, nó sẽ giúp cho ngành
công nghiệp hớng về xuất khẩu của chúng ta có đợc sức sống để phát triển lớn mạnh.
1.4. 3. Xuất phát từ những yêu cầu khác.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân mang lại nhiều cơ hội cho sự phát
triển công bằng. Nh ta biết phát triển và xây dựng xã hội công bằng là hai mục tiêu
nhiều lúc trái ngợc nhau. Thế nào là phát triển công bằng? có nhiều khái niệm nhng ở
đây có thể hiểu đó là sự rút ngắn khoảng cách về mức thu nhập giữa các tầng lớp, thành
quả của sự phát triển sẽ đợc phân phối đến mọi ngời một cách thoả đáng, công bằng. Ta
thấy chuyển dịch cơ cấu ngành sẽ mang lại điều này một cách tốt nhất, bởi nó tạo ra
nhiều cơ hội làm việc và tạo điều kiện cho đông đảo tầng lớp dân chúng tiếp cận cơ hội
đó. Chuyển dịch cơ cấu ngành theo hớng CNH đi liền với phát triển nông thôn nơi có đại
bộ phận lao động, sinh sống tại đây làm cho mức sống của họ sẽ tăng lên.
- Việt Nam là một nớc đi sau trong phát triển, muốn đuổi kịp các nớc khác một
cách nhanh chóng thì cần phải có chính sách đúng đắn để đốt giai đoạn, muốn thế chúng
ta cần phải có chính sách đúng đắn trong chiến lợc công nghiệp hoá, đó chính là phải có
một cơ cấu kinh tế hợp lý, phải có một cơ cấu ngành đủ mạnh sẵn sàng tham gia phân
công lao động quốc tế và cạnh tranh trên thị trờng thế giới.
II-Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
2.1- H ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2. 1.1. Những quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Nh chúng ta đã nêu phần trên về cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế chúng ta thấy sức ép và nhu cầu của thị trờng, yêu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi phải
16
Mô hình chung nhất của hầu hết các nớc trên thế giới là một nền kinh tế năng
động công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối giữa các ngành; phát triển hệ thống
tài chính tăng cờng các mối quan hệ tài chính nhằm khuyến khích đạt tỷ lệ đầu t cao.
Vai trò quan trọng của chính phủ trong việc hoạch định chính sách điều chỉnh, có khả
năng đối phó với những biến động bất thờng của trong nớc cũng nh ngoài nớc.
* Thứ nhất: Công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối các ngành:
Mô hình này không ủng hộ chiến lợc phát triển một ngành duy nhất. Nó khẳng
định đầu t là yếu tố quan trọng quyết định phát triển. Nó có khả năng ứng phó linh hoạt
với những biến động bất thờng và dễ hoà nhập với quốc tế.
* Thứ hai: Phát triển hệ thống tài chính, tăng cờng các mối quan hệ nhằm khuyến
khích đạt tỷ lệ đầu t cao.
Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển thì hệ thống tài chính tăng trởng
nhanh hơn nhiều so với GDP và của cải. Tuy nhiên mối quan hệ nhân quả không phải
một chiều và sự phát triển của khu vực tài chính đã đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng
của các khu vực khác trong nền kinh tế về dịch vụ tài chính. Nh vậy sẽ thúc đẩy gia tăng
đầu t với tỷ suất lợi nhuận khả quan nhất và chi phí giao dịch thấp nhất. Nó có thể
khuyến khích tính linh hoạt kinh tế bằng cách tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ, tạo
môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định, cân đối. Tăng khả năng điều chỉnh nhu cầu về tiền tệ
thông qua chính sách lãi suất và các chính sách khác, cải thiện cơ sở, thể chế kiểm soát
cung ứng tiền tệ thông qua các giao dịch trên thị trờng mở.
* Thứ ba: Vai trò nhiệm vụ của nhà nớc.
Trong mô hình này Nhà nớc đóng vai trò quan trọng. Nếu nhà nớc hoạt động có
hiệu quả sẽ tạo ra những thành phần có tính chất sống còn cho sự phát triển. Thị trờng
phải đợc phát triển trong sự vận hành của nhà nớc với một nền móng của sự hợp pháp và
một môi trờng chính sách lành mạnh và ổn định cộng thêm một số dịch vụ xã hội cơ
bản. chính phủ điều tiết, tự do hoá và có những chính sách công nghiệp để khuyến khích
thị trờng và xã hội, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế t nhân phát triển Nhà n ớc phải
làm những nhiệm vụ sau trong quá trình chuyển dịch cơ cấu.
17