Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhượng quyền thương mại - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-------------------------

LÊ HOÀNG LAN CHI

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ
HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
Chuyên ngành
Mã số

: Luật kinh tế
: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. BÙI NGỌC CƢỜNG

HÀ NỘI - 2013


MỤC LỤC
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG NHƢỢNG
QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ................................................................5

3.1. Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật nhƣợng quyền thƣơng
mại ở Việt Nam ....................................................................................................48
3.1.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương
mại.................................................................................................................. 48
3.1.2. Một số kiến nghị cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật hợp đồng
nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. ......................................................... 50
3.2. Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật
hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại ở Việt Nam. ..........................................63
3.2.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi của pháp luật hợp đồng
nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. ......................................................... 63
3.2.2. Một số kiến nghị cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam .......................................... 65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................71


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Được biết đến như là một trong những phương thức kinh doanh hữu
hiệu, mang lại danh tiếng và lợi nhuận cho các thương nhân cũng như sự
tăng trưởng vững chắc cho cả nền kinh tế, nhượng quyền thương mại
(franchising) đã ngày càng khẳng định được vị trí vai trò của mình trong đời
sống thương mại của các quốc gia trên thế giới. Ở Mỹ vào năm 2007, cứ 8
phút lại có 1 phiên giao dịch nhượng quyền thương mại; Số lượng hợp đồng
lên tới hơn 550.000 với lợi nhuận thu được trên 1530 tỷ USD/năm; Tổng giá
trị hợp đồng nhượng quyền đạt trên 2 triệu USD/năm. Tại Trung Quốc, năm
2006, đã giành được kỷ lục là nước có nhiều hệ thống franchise nhất thế
giới: 2600 hệ thống với 168.000 cửa hàng [8]. Tại Singapore, theo số liệu

hệ rất phức tạp, pháp luật điều chỉnh về hợp đồng nhượng quyền thương mại
cũng hết sức đa dạng, được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, tổng thể các quy
định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại là hết
sức cần thiết, góp phần đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
hợp đồng nhượng quyền thương mại, thúc đẩy một môi trường kinh doanh
lành mạnh, an toàn cho các chủ thể. Với những lý do đó, tác giả chọn đề tại
“Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại” làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Nhượng quyền thương mại là một chế định pháp lý được quy định
trong Luật thương mại Việt Nam 2005. Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều bài
viết, bài báo, tạp chí, công trình nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó, một số
vấn đề pháp lý về hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng đã rải rác được
đề cập đến. Có thể kể đến các bài viết như: “Các điều khoản độc quyền
trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Bùi Ngọc Cường
đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2007, bài viết: “Một số vấn đề


3

pháp lý về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại” của tác giả Vũ
Đặng Hải Yến đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4/2008… Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể và chuyên sâu
về các vấn đề pháp lý có liên quan tới hợp đồng nhượng quyền thương mại.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu mà luận văn hướng tới là:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận hoạt động nhượng quyền thương mại và
pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
- Phân tích thực trạng pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại ở

Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam


5

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG
NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về nhƣợng quyền thƣơng mại
1.1.1. Khái lƣợc quá trình hình thành và phát triển của hoạt động
nhƣợng quyền thƣơng mại trên thế giới và ở Việt Nam
Hoạt động franchise được thừa nhận một cách chính thức và hoàn
chỉnh là tại Mỹ vào giữa thế kỷ 19 (năm 1851) khi mà Nhà máy Singer (sản
xuất máy khâu) ký kết hợp đồng franchise đầu tiên với đối tác của mình. Từ
những năm 50-60 trở đi, khi franchise không chỉ dừng lại ở nhượng quyền
phân phối sản phẩm mà đã phát triển thành nhượng quyền công thức kinh
doanh, phương thức franchise hiện đại ngày nay, thì nó thực sự phát triển
mạnh. Sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống
kinh doanh, phân phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhận dạng những hệ
thống kinh doanh theo phương thức này.[13]
Franchise đã trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành
công không chỉ tại Mỹ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh,
Pháp... Ngày nay, franchise đã có mặt tại hơn 150 nước trên thế giới, riêng
tại Châu Âu có khoảng 200 ngàn cửa hàng kinh doanh theo phương thức
nhượng quyền. Các tổ chức, hiệp hội franchise quốc tế cũng như quốc gia đã
lần lượt ra đời nhằm bảo vệ lợi ích cho các bên tham gia và đáp ứng nhu cầu
phát triển ngày càng cao của phương thức kinh doanh này.
Tại Việt Nam, vào những năm 90, nhượng quyền thương mại mới
chính thức được ghi nhận ở nước ta. Dù ra đời khá muộn song nhượng

thương mại ở Việt Nam, là khá muộn so với các nước trong khu vực và trên
thế giới, song với những bước đi đầu tiên đã được khẳng định sẽ báo hiệu
làn sóng nhượng quyền diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới. Cùng với sự
phát triển đó, việc hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại nói chung
và pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng càng trở nên
có ý nghĩa.


7

1.1.2 Quan niệm về nhƣợng quyền thƣơng mại.
Dù đã xuất hiện khá lâu trong đời sống thương mại ở nhiều quốc gia
trên thế giới, song cho đến nay, nhượng quyền thương mại vẫn chưa có một
khái niệm chung thống nhất. Ở Việt Nam, từ góc độ pháp luật thực định,
theo quy định của Điều 284 Mục 8 Chương VI Luật thương mại 2005 có thể
rút ra một số những dấu hiệu cơ bản để nhận diện hoạt động nhượng quyền
thương mại như sau:
(i) Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, được
thực hiện bởi ít nhất hai bên chủ thể khác nhau và độc lập với nhau về mặt
pháp lý: bên nhượng quyền và bên nhận quyền.
(ii) Đối tượng của nhượng quyền thương mại là quyền thương mại.
Quyền thương mại được hiểu là quyền tiến hành kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định; cùng với đó là việc sử
dụng một tập hợp các dấu hiệu tập hợp khách hàng như: nhãn hiệu hàng hóa,
tên thương mại, bí quyết kinh doanh , khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, quảng cáo... của bên nhượng quyền.
(iii) Để có quyền khai thác quyền thượng mại của bên nhượng quyền,
bên nhận quyền phải trả một khoản phí cho bên nhượng quyền gọi là phí
nhượng quyền. Khoản phí này có thể bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và
phí nhượng quyền trả định kỳ dựa trên doanh thu hàng tháng, hàng năm của

thực tiễn hoạt động của các bên tham gia quan hệ nhượng quyền thương mại
có thể thấy hình thức của hoạt động này cũng rất phong phú, đa dạng. Dựa
vào nội dung của hoạt động kinh doanh, nhượng quyền thương mại có thể
chia thành: (i) nhượng quyền sản xuất, (ii) nhượng quyền phân phối, (iii)
nhượng quyền dịch vụ [25, tr.133 - 135]. Dựa vào hình thức hoạt động hay
hình thức bán franchise, có thể phân loại thành: (i) nhượng quyền thương
mại độc quyền, (ii) nhượng quyền thương mại phát triển khu vực, (iii)
nhượng quyền thương mại cho từng cá nhân riêng lẻ [33, tr.11 – 13]...


9

1.2. Những vấn đề chung về pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại
Với tính chất là mảng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng nhượng
quyền, pháp luật về hợp đồng nhượng quyền bao gồm một tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh một cách đồng bộ, toàn diện các vấn đề có liên
quan đến hợp đồng nhượng quyền như chủ thể tham gia, đối tượng nhượng
quyền, nội dung, hình thức hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng…
cũng như các vấn đề khác phát sinh trong quá trình xác lập, ký kết, thay đổi,
thực hiện và chấm dứt hợp đồng.
Như vậy, pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại là một bộ
phận cơ bản của pháp luật nhượng quyền thương mại nói chung, bao gồm
các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều
chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thương nhân
xác lập, ký kết, thay đổi, thực hiện và chấm dứt hợp đồng nhượng quyền
thương mại.
1.2.1. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
Như bản chất vốn có của hợp đồng, hợp đồng nhượng quyền thương
mại là kết quả của sự tự do thỏa thuận, tự do và thống nhất ý chí của các bên

sự điều chỉnh phù hợp với bản chất của mỗi loại hành vi kinh doanh nhượng
quyền thương mại trong thực tiễn, mang lại hiệu quả và lợi ích thiết thực đối
với các thương nhân.
Hai là, pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại đặt
ra các yêu cầu để một hợp đồng nhượng quyền thương mại có giá trị pháp
lý. Để xem xét tính có hiệu lực của một hợp đồng thông thường cần xét đến
các vấn đề: (i) về chủ thể của hợp đồng, (ii) về nội dung của hợp đồng, (iii)
về hình thức của hợp đồng.
(i) Về chủ thể, trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại, có
hai bên chủ thể: bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Ngoài việc xác định
các chủ thể trong quan hệ này phải là các chủ thể có đủ năng lực hành vi dân
sự để tiến hành giao kết, pháp luật về hợp đồng nhượng quyền còn có những


11

yêu cầu cụ thể riêng biệt. Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của hoạt động
nhượng quyền thương mại, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định cả
bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều phải là thương nhân, có tư cách
pháp lý hoàn toàn độc lập với nhau. Sự độc lập ở đây có thể hiểu là độc lập
trong tài chính, độc lập trong trách nhiệm pháp lý trước pháp luật. Ngoài
tiêu chí cơ bản trên, để tránh rủi ro cho các bên, pháp luật một số quốc gia
còn quy định về thời gian hoạt động tối thiểu cũng như năng lực tài chính
của các bên chủ thể.
(ii) Về nội dung của hợp đồng, xét một cách khái quát nhất, các điều
khoản thỏa thuận trong hợp đồng phải đảm bảo không trái với các quy định
pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Điều này được đặt ra để các bên trong
quan hệ không lạm dụng hình thức kinh doanh nhượng quyền thương mại
nhằm che giấu các hành vi bất chính khác, tạo điều kiện cho hoạt động
nhượng quyền phát triển một cách lành mạnh. Mặt khác, nó cũng góp phần

thương mại trong hợp đồng gồm những vấn đề gì và được sử dụng như thế
nào là do sự thỏa thuận của các bên. Song, pháp luật cũng đưa ra những yếu
tố cơ bản, đặc trưng nhất cấu thành nên “quyền thương mại” làm căn cứ cho
các bên có thể dựa vào đó mà mở rộng hay thu hẹp “quyền thương mại”
trong những trường hợp cụ thể.
(ii) Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền
thương mại, trước hết pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Trong
khi thương lượng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, về mặt lý thuyết, các
bên ở vị trí ngang bằng nhau. Tuy nhiên, đối với hợp đồng nhượng quyền
thương mại, xuất phát từ đặc trưng riêng của hoạt động này, sự “ngang
bằng” nhau giữa các bên trên thực tế không được đảm bảo. Bên nhượng
quyền với tư cách là chủ sở hữu của “quyền thương mại”, có quyền kiểm
tra, giám sát sự tuân thủ của bên nhận quyền bất cứ lúc nào, thường có vị
thế cao hơn so với bên nhận quyền. Điều này dẫn tới xu hướng bên nhượng
quyền dễ lạm dụng vào vị thế này để đưa ra những thỏa thuận bất lợi cho
bên nhận quyền. Chính vì vật, pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng


13

quyền thương mại quy định những vấn đề cơ bản về quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên trong quan hệ nhượng quyền là rất cần thiết, tạo ra sự cân bằng và
điều hòa lợi ích giữa các bên, bảo vệ quyền lợi cho bên nhận quyền – bên
được coi là yếu thế hơn.
(iii) Một số vấn đề pháp lý khác trong nội dung của hợp đồng nhượng
quyền thương mại như trường hợp thay đổi, tạm ngừng, chấm dứt hợp đồng
nhượng quyền thương mại; thời hạn, gia hạn, hợp đồng; vấn đề giải quyết
tranh chấp cũng được pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại dự liệu và
điều chỉnh.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, do nhiều nguyên nhân khác nhau,

chứa đựng nhiều khả năng phát sinh tranh chấp giữa các bên trong quá trình
thực hiện. Việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp, chủ thể có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp, luật áp dụng giải quyết tranh chấp là những vấn
đề do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên không thỏa
thuận thì pháp luật thương mại nói chung và pháp luật điều chỉnh hợp đồng
nhượng quyền thương mại nói riêng cũng có những quy định để giải quyết
và hướng dẫn các bên trong trường hợp này.
Bốn là, pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại thể
hiện khá rõ mối quan hệ mật thiết với pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật
canh tranh. Xuất phát từ chính bản chất và đặc trưng của hoạt động nhượng
quyền thương mại, trong quá trình đàm phán, thỏa thuận giữa các bên
thường xuất hiện các điều khoản mà nội dung của chúng chịu sự điều chỉnh
của pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh. Đối tượng của hợp đồng
nhượng quyền thương mại chủ yếu bao gồm các yếu tố liên quan đến quyền
sở hữu công nghiệp như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng
công nghiệp, bí quyết kinh doanh… do đó các thỏa thuận liên quan đến
quyền sử dụng các đối tượng này chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật hợp
đồng nhượng quyền thương mại và các quy định liên quan của pháp luật sở
hữu trí tuệ. Cũng như vậy, để đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ
thống nhượng quyền, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại thường có
những thỏa thuận loại trừ sự cạnh tranh của bên thứ ba như các thỏa thuận
về phân chia thị trường, về giá, về sự cạnh tranh giữa các bên nhận quyền
trong cùng hệ thống… Điều này đòi hỏi có sự giải quyết thỏa đáng về mối
quan hệ giữa pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại với pháp luật


15

cạnh tranh, vừa đảm bảo đúng bản chất của hoạt động nhượng quyền thương
mại, vừa ngăn ngừa được những hành vi không trung thực, lạm dụng hình


chuyển giao công nghệ. Tiếp theo Thông tư 1254, nhượng quyền thương mại
lại được ghi nhận dưới cái tên “cấp phép đặc quyền kinh doanh” ở một văn
bản có giá trị pháp lý cao hơn, đó là Nghị định 11/2005/NĐ-CP của Chính
phủ ban hành ngày 02/2/2005 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ
(Nghị định này được ban hành để thay thế cho Nghị định 45 nói trên).
Như vậy, các văn bản pháp luật nói trên đều coi nhượng quyền thương
mại là một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ và chịu sự điều chỉnh của
pháp luật về chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ và nhượng
quyền thương mại có những điểm tương đồng nhất định, song, xét về bản
chất, đây là hai hoạt động khác biệt. Nhượng quyền thương mại là một
phương thức mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua việc cho phép
một bên khác được sản xuất kinh doanh trên cơ sở uy tín, tên thương mại,
công nghệ… của bên nhượng quyền. Thương nhân nhận quyền phải có nghĩa
vụ cung cấp hàng hóa, dịch vụ có cùng chất lượng, phương thức phục vụ
như bên nhượng quyền và kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhượng
quyền. Trong khi đó, chuyển giao công nghệ chỉ đơn thuần là việc chuyển
giao các kiến thức kỹ thuật từ người có kiến thức cho một người khác để
ứng dụng nó vào quy trình sản xuất. Bên nhận chuyển giao có quyền ứng
dụng công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ nhãn hiệu, kiểu
dáng, tên thương mại nào mà họ mong muốn. Chính vì sự khác nhau này mà
việc áp các quy định pháp luật về hoạt động chuyển giao công nghệ để điều
chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại đã gây ra những điểm bất hợp lý
so với thực tế và bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại.
Nhận thức được những vấn đề bất cập xảy ra trên thực tiễn, Luật
thương mại Việt Nam 2005 ra đời (có hiệu lực ngày 01/1/2006) đã đưa vào
một chương riêng quy định về Nhượng quyền thương mại, ghi nhận
nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại độc lập, có bản
chất khác biệt với hoạt động chuyển giao công nghệ và đã dàng Mục 8,


đồng nhượng quyền thương mại chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu


18

công nghiệp” (Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 35/2006/ NĐ-CP ngày
31/2/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động
nhượng quyền thương mại). Do đó, pháp luật về Sở hữu trí tuệ và chuyển
giao công nghệ cũng điều chỉnh trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền
thương mại.
- Luật cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong
hợp đồng nhượng quyền thương mại, các bên thường có những thỏa thuận
nhằm bảo đảm tính đồng nhất và thống nhất của hệ thống nhượng quyền
như thỏa thuận phân chia thị trường, ấn định giá bán sản phẩm… Các thỏa
thuận này ở một góc độ nào đó dễ dẫn đến sự hạn chế cạnh trạnh đối với
chủ thể thứ ba, do đó trong nhiều trường hợp nó chịu sự điều chỉnh của
pháp luật cạnh tranh.


19

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
Luận văn này tiếp cận các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh
hợp đồng nhượng quyền thương mại với các nội dung cơ bản sau đây: (i)
Khái niệm và phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại; (ii) Chủ thể
của hợp đồng nhượng quyền thương mại; (iii) Nội dung và hình thức của
hợp đồng nhượng quyền thương mại; (iv) Một số vấn đề pháp lý liên quan
giữa pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại với pháp luật sở hữu trí
tuệ và pháp luật cạnh tranh.

một hoạt động thương mại độc lập, đặc thù. Sự mâu thuẫn này giữa các quy
định pháp luật đã gây ra sự khó hiểu và những bất cập trong việc đưa ra một
khái niệm chung thống nhất về Hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng
như làm phát sinh nhiều hệ lụy pháp lý phức tạp khác không đáng có trong
pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.
Chính vì sự thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán trong cách nhìn nhận về
bản chất của nhượng quyền thương mại giữa các nhà làm luật mà trong các
quy định pháp luật Việt Nam hiện nay, rất đáng tiếc, không tồn tại khái niệm
nào về Hợp đồng nhượng quyền thương mại – một khái niệm được coi là rất
cơ bản và được ghi nhận trong hệ thống pháp luật về nhượng quyền thương
mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, dựa trên sự phân tích,
nhìn nhận về bản chất, đặc điểm của hoạt động nhượng quyền thương mại,
cũng như bằng sự ghi nhận hoạt động này trong một mục riêng của Luật
thương mại 2005, khái niệm pháp lý về Hợp đồng nhượng quyền thương mại
cần được hiểu dựa trên những quy định của Bộ luật dân sự, Luật thương mại
và các văn bản hướng dẫn. Dưới góc độ pháp lý về hợp đồng cũng như đặc
trưng cơ bản của hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy định của
pháp luật, khái niệm về “hợp đồng nhượng quyền thương mại” ở Việt Nam
về cơ bản phải đảm bảo hai yếu tố: (i) có những đặc điểm chung của hợp
đồng theo quy định của Bộ luật dân sự; (ii) thể hiện bản chất của giao dịch


21

nhượng quyền thương mại đã quy định ở Điều 284 Luật thương mại 2005.
Căn cứ vào hai yếu tố này, có thể rút ra định nghĩa về hợp đồng nhượng
quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam như sau:
“Hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên
trong quan hệ nhượng quyền thương mại, theo đó, bên nhượng quyền
cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán

chung. Quyền thương mại chung là quyền do Bên nhượng quyền trao cho
Bên nhượng quyền thứ cấp được phép cấp lại quyền thương mại cho các Bên
nhận quyền thứ cấp. Bên nhận quyền thứ cấp không được phép cấp lại quyền
thương mại chung đó nữa.
Như vậy, theo tinh thần của pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương
mại ở Việt Nam, bên cạnh hợp đồng nhượng quyền thương mại thông
thường, theo đó việc nhượng quyền được tiến hành một cách trực tiếp từ bên
nhượng quyền đầu tiên đến từng bên nhận quyền riêng lẻ, còn tồn tại những
dạng hợp đồng nhượng quyền thương mại khác mà ở đó việc nhượng quyền
được tiến hành và phát triển một cách gián tiếp thông qua một bên vừa đóng
vai trò là bên nhận quyền sơ cấp vừa đóng vai trò là bên nhượng quyền thứ
cấp. Bên này sau khi nhận quyền từ bên nhượng quyền ban đầu tiến hành
nhượng quyền lại cho các bên nhận quyền khác. Dạng hợp đồng này là sự
kết hợp của hai hợp đồng: hợp đồng ký kết giữa bên nhượng quyền đầu tiên
- là chủ sở hữu của quyền thương mại với bên nhận quyền sơ cấp và hợp
đồng ký kết giữa bên nhượng quyền thứ cấp (chính là bên nhận quyền sơ cấp
trong hợp đồng thứ nhất) với các bên nhận quyền khác. Với loại hợp đồng
nhượng quyền thương mại như vậy, mạng lưới nhượng quyền thương mại đã
được phát triển và mở rộng thông qua một bên đóng vai trò trung gian giữa
bên nhượng quyền ban đầu với các bên nhận quyền riêng lẻ, do đó có thể gọi
đây là hợp đồng nhượng quyền thương mại gián tiếp.
Qua khảo sát, có thể thấy, pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương
mại Việt Nam cũng đã hướng tới sự phân loại hợp đồng nhượng quyền
thương mại, song sự phân loại này chưa được thể hiện một cách rõ ràng, đầy



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status