một số vấn đề pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính ở việt nam - Pdf 10

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế hoá tập trung bao cấp sang nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc đã mang lại cho nền kinh tế nớc ta
những bớc chuyển biến mạnh mẽ và đạt đợc những thành tựu to lớn trong
những năm qua. Kinh tế tăng trởng khá, lạm pháp đợc đẩy lùi, đời sống kinh
tế của đông đảo quần chúng nhân dân đợc cải thiện.
Tuy nhiên để duy trì đợc nhịp độ phát triển đó tránh nguy cơ tụt hậu, tiếp
tục sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập nền kinh tế khu vực và
thế giới, đòi hỏi phải có một khối lợng vốn lớn, các doanh nghiệp phải tạo ra
những sản phẩm chất lợng cao, mẫu mã đủ sức cạnh tranh trên thị trờng. Để
đạt đợc điều đó, vấn đề đặt ra là:
"Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực
hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các nớc
tiên tiến trong khu vực. Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với những ngành
mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp không gây ô nhiễm và
khai thác đợc lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, cải
tiến từng bộ phận tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam. Hiện đại
hoá công nghệ trong quản lý". Đây là những yêu cầu để thực hiện "Chiến lợc
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI - Chiến lợc đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng
để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành nớc công nghiệp" mà báo cáo chính
trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng Khoá VIII tại Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra.
Hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê
tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng cha phù hợp với
tình hình mới, đôi khi giữa các văn bản này còn nhiều điểm chồng chéo, mâu
thuẫn. Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng cho
thuê tài chính nói riêng là những vấn đề cha đợc quan tâm nghiên cứu và xem
xét một cách toàn diện. Do đó, việc nghiên cứu để từng bớc hoàn thiện lĩnh
vực này là việc làm quan trọng và cần thiết.

những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô và các bạn.
2
Chơng I: Khái quát về cho thuê tài chính và hợp đồng
cho thuê tài chính
I.1. Khái niệm và đặc điểm cho thuê tài chính.
I.1.1. Khái niệm:
Hoạt động cho thuê tài sản (Lease) đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử
(cách đây khoảng 4.000 năm) và đợc sử dụng phổ biến để đáp ứng nhu cầu
sản xuất và sinh hoạt. Trong một giao dịch cho thuê, bên cho thuê chuyển
quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một thời gian nhất định còn bên thuê
phải trả tiền thuê. Ngời ta gọi phơng thức cho thuê này là cho thuê truyền
thống. Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu tài sản không chuyển cho
bên thuê nhng bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó nh của chính
mình.
Hoạt động cho thuê tài chính xuất hiện trớc tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1952
do Công ty t nhân United Stales Corporation sáng tạo ra nhằm đáp ứng những
nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp. Năm 1960, lần đầu tiên
một hợp đồng cho thuê tài chính đợc ký tại Anh với giá 18.000 Bảng. Cũng
năm này, phơng thức cho thuê tài chính đã đợc ghi vào Luật Thơng mại của
Pháp dới tên gọi "Credit Bail"
(1)
.
Giao dịch cho thuê tài chính hình thành giữa ba bên: Bên cho thuê, bên
thuê và nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị). Bên cho thuê trở thành chủ
sở hữu tài sản và bên thuê thuê lại theo thời hạn thoả thuận. Cho thuê tài chính
đợc sử dụng nh một phơng thức tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hoạt động cho thuê tài chính có thể đợc nhìn nhận trên hai phơng diện
kinh tế và pháp lý, cụ thể là:
- Dới góc độ kinh tế, cho thuê tài chính là hình thức thuê có tính chất

thuê không nhất thiết phải có tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh của ngời thứ ba
cho việc thuê. Ngoài ra, trong quá trình thuê, bên thuê không phải chịu một số
rằng buộc nh khi áp dụng với hợp đồng vay chẳng hạn nh phải kinh doanh có
lãi, có phơng án khả thi trong việc sử dụng vốn vay
Hiện nay, trong một số bài nghiên cứu có sử dụng thuật ngữ "Thuê mua".
Theo đó, "Thuê mua" đợc hiểu là hình thức thuê mà mọi rủi ro do bên thuê
phải gánh chịu, bên cho thuê vẫn giữ quyền sở hữu, cuối thời hạn thuê, bên
thuê độc quyền sở hữu đối với tài sản thuê.
Ví dụ, "Thuê mua máy bay" là hình thức thuê máy bay mà bên thuê phải
trả trớc đến 15% giá trị máy bay, hàng kỳ trả tiền thuê máy bay (thờng từ 10 -
12 năm đối với máy bay phản lực, 7 - 10 năm đối với máy bay cánh quạt),
cuối thời hạn thuê bên thuê trả nốt tiền và nhận quyền sở hữu đối với máy bay.
Nh vậy, xét về bản chất "Thuê mua" cũng là một hình thức của cho thuê
tài chính. Nếu trong giao dịch cho thuê tài chính, bên thuê có thể đợc mua lại
tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều khoản đã thoả thuận trong hợp
đồng thuê và những thoả thuận này phải đợc các bên ghi vào hợp đồng. Còn
trong giao dịch "thuê mua", việc nhận quyền sở hữu đối với tài sản thuê vào
cuối thời gian thuê là quyền của bên thuê.
4
ở Việt Nam, khái niệm cho thuê tài chính lần đầu tiên đợc đề cập trong
Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính ban
hành theo Nghị định số 64/CP ngày 9/10/1995 của Chính phủ (sau đây gọi là
Nghị định 64). Trong một số văn bản pháp lý trớc đây, còn có thêm thuật ngữ
"Tín dụng thuê mua" (Thí dụ, tại Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nớc số 149/QĐ - NH 5 ngày 27/5/1995 về việc ban hành Thể lệ Tín dụng Thuê
mua (sau đây gọi là Quyết định số 149). "Tín dụng thuê mua" đợc định nghĩa
là: :hoạt động thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác phục vụ cho sản
xuất kinh doanh đợc các tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu của bên thuê".
Bên thuê thanh toán tiền thuê cho tổ chức tín dụng trong suốt thời hạn thuê đã
đợc hai bên thoả thuận và không đợc huỷ bỏ. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên

1.1.2. Đặc điểm
Từ khái niệm "cho thuê tài chính" nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm
đặc thù của hoạt động cho thuê tài chính là:
Thứ nhất: tài sản thuê và Nhà cung cấp tài sản do bên thuê lựa chọn mà
không phụ thuộc vào những kỹ năng và ý kiến của bên cho thuê. Chính vì đặc
điểm này mà bên cho thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản không đợc
giao hoặc không giao đúng với các điều kiện do bên thuê thoả thuận với bên
cung ứng (Khoản 1 Điều 24 Nghị định 16).
Thứ hai: thời hạn thuê là trung hoặc dài hạn, chiếm phần lớn thời gian
hữu dụng của tài sản và không thể bị huỷ ngang theo ý chí của một bên. Đặc
điểm này nêu bật rõ những lợi ích mà cho thuê tài chính mang lại không chỉ
riêng cho các chủ thể tham gia hợp đồng mà cho cả nền kinh tế.
Thứ ba: Phần lớn những chi phí cho việc vận hành, bảo dỡng, bảo hiểm
tài sản đợc chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê. Theo quy định tại
Khoản 5, 6 Điều 26 Nghị định 16: "Bên thuê chịu mọi rủi ro về việc mất mát,
h hỏng đối với tài sản thuê và chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do việc sử
dụng tài sản thuê gây ra đối với tổ chức và cá nhân khác trong quá trình sử
dụng tài sản thuê. Đồng thời, bên thuê phải có nghĩa vụ bảo dỡng, sửa chữa tài
sản thuê trong thời hạn thuê. Không đợc tẩy xoá, làm hỏng ký hiệu sở hữu gắn
trên tài sản thuê".
Chính từ những đặc điểm nêu trên, có thể phân biệt cho thuê tài chính với
phơng thức thuê vận hành.
6
Tiêu chí Cho thuê tài chính Thuê vận hành
Thời hạn thuê Trung và dài hạn, chiếm
phần lớn thời gian hữu
dụng của tài sản thuê
Thời hạn thuê ngắn
Huỷ ngang Không đợc phép huỷ
ngang theo ý chí của 1

1.2. Lợi ích của cho thuê tài chính.
Tham giao vào một giao dịch cho thuê tài chính thờng bao gồm bên cho
thuê, bên thuê và nhà sản xuất hay nhà cung ứng. Lợi ích của cho thuê tài
chính đem lại cho các bên tham gia nói riêng và nền kinh tế nói chung là:
1.2.1. Đối với bên cho thuê:
- Cho thuê tài chính là một phơng thức tài trợ hạn chế tới mức thấp nhất
những rủi ro có thể xảy ra. Vì trong suốt thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản
luôn thuộc về bên cho thuê. Do đó, nếu có những đe doạ đối với sự an toàn
7
của tài sản thuê (chẳng hạn bên thuê lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải
thể), bên cho thuê hoàn toàn có khả năng thu hồi tài sản thuê ngay lập tức.
Mặt khác, trong cho thuê tài chính, vốn tài trợ đợc thể hiện bằng hiện vật (tài
sản thuê) nên không bị ảnh hởng của lạm phát. Bên cho thuê cũng không phải
chịu những rủi ro do sự giảm giá trị của tài sản do tác động của điều kiện
khách quan;
- Bên cho thuê có thể biết chắc rằng vốn mà họ cho vay đợc sử dụng
đúng mục đích nh trong hợp đồng, vì dới hình thức này, bên cho thuê trực tiếp
mua máy móc thiết bị từ nhà cung cấp (thờng là sau khi ngời đi thuê đã lựa
chọn) và do đó ngời đi thuê không có cơ hội sử dụng đợc tài trợ vào mục đích
khác. Qua đó, bên cho thuê đảm bảo đợc khả năng thu hồi nợ từ ngời đi thuê.
- Cho thuê tài chính giúp bên cho thuê mở rộng diện khách hàng, đa dạng
hoá việc sử dụng vốn, đồng thời mở rộng mối quan hệ kinh doanh đa phơng.
- Cho thuê tài chính giúp ngời cho thuê linh hoạt trong kinh doanh; Trong
thời gian tài trợ, vốn của ngời cho thuê bỏ ra để mua máy móc tài sản cho
thuê, số tiền này sẽ đợc thu hồi dần và cho phép ngời cho thuê có thể sử dụng
vốn đó để tái đầu t vào những hoạt động sản xuất kinh doanh sinh lợi nhuận và
giữ vững đợc nhịp độ hoạt động của mình.
- Hồ sơ tài trợ đơn giản nên bên cho thuê có thể quyết định tài trợ nhanh.
Trong giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê tham gia với t cách là nhà tài
trợ, cung cấp vốn để mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê nên họ không nhất

thoả mãn các điều kiện chống rủi ro nên thờng bị các tổ chức này từ chối cho
vay. Trong khi đó, do đặc thù của cho thuê tài chính là bên cho thuê nắm
quyền sở hữu đối với tài sản thuê và họ có thể trực tiếp kiểm soát theo dõi việc
sử dụng tài sản, tình hình kinh doanh của bên thuê. Vì vậy, các Công ty cho
thuê tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu t của khách hàng ngay cả
khi vị thế tài chính, uy tín của họ có những hạn chế.
Hơn nữa, do chuyên biệt kinh doanh cho thuê tài chính là các loại tài sản
thiết bị nên các Công ty cho thuê tài chính thờng có mạng lới hoạt động rộng
rãi, có nhiều mối quan hệ với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị), có đội
ngũ cán bộ hiểu biết về thiết bị - công nghệ cao nên họ có thể cung cấp cho
các doanh nghiệp các loại thiết bị đúng yêu cầu, điều này tránh rủi ro cho các
doanh nghiệp so với trờng hợp doanh nghiệp tự mua lấy. Đồng thời, thông qua
cho thuê tài chính mà doanh nghiệp có thể thanh lý, chuyển nhợng các máy
móc, công nghệ đã cũ. Dĩ nhiên, điều này phải đi đôi với việc phát triển một
thị trờng công nghệ cũ và mới thông qua các trung gian là các Công ty cho
thuê tài chính. Cũng nhờ có chuyên môn cao về thiết bị, công nghệ nên các
Công ty cho thuê có thể cải tiến, điều chuyển các loại tài sản cho phù hợp với
nhu cầu của khách hàng ở các khu vực thị trờng khác nhau.
- Cho thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp đi thuê không bị đọng
vốn trong tài sản cố định. Thông qua nghiệp vụ bán và cho thuê lại, các doanh
nghiệp có thể chuyển nguồn tài sản cố định thành tài sản lu động hay chuyển
dịch vốn đầu t cho các dự án kinh doanh khác có hiệu quả cao hơn trong khi
9
vẫn duy trì đợc hoạt động đầu t hiện hành vì tài sản vẫn đợc tiếp tục sử dụng.
Mặt khác, nếu doanh nghiệp muốn dành vốn tích luỹ cho kinh doanh mà có
nhu cầu về thiết bị và tài sản thì vẫn có thể thực hiện đợc thông qua mua tài
sản cố định.
- Cho thuê tài chính là phơng thức rút ngắn thời gian triển khai đầu t đáp
ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh. So với các phơng thức tăng vốn khác, cho
thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn nên các thủ tục và điều kiện tài trợ

Lợi thế chính là hiện nay mức lãi suất ngoại tệ trên thị trờng vốn quốc tế thấp
hơn lãi suất vay ở Việt Nam, do đó thông qua thuê máy móc thiết bị, các
doanh nghiệp có thể nhận đợc vốn tài trợ có mức lãi suất thấp hơn so với thị tr-
ờng vốn bằng đồng Việt Nam.
- Cho thuê tài chính cho phép bên thuê hoãn thuế. Các Khoản tiền thuê
phải trả hàng năm đợc tính vào chi phí của doanh nghiệp. Do đó chúng làm
giảm mức lợi nhuận của doanh nghiệp bằng chính những khoản chi phí đó,
khoản chi phí này đợc nhân với tỷ lệ chiết khấu sau thuế của doanh nghiệp và
nhân với lãi suất cho vay của ngân hàng sẽ cho ta biết tỷ lệ tiết kiệm do hoãn
thuế bởi cho thuê tài chính đem lại cho doanh nghiệp.
- Số tiền thuê mà bên thuê phải trả đợc tính vào chi phí kinh doanh. Do
đó, chúng làm giảm số thuế mà họ phải trả. Sau khi hợp đồng cho thuê kết
thúc, nếu bên thuê đợc quyền chọn mua tài sản thì giá mua thờng thấp hơn so
với giá trị còn lại của tài sản.
1.2.3. Đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị).
Nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) khi chào bán sản phẩm của
mình trên thị trờng đều mong muốn bên mua sẽ trả đủ tiền để nhà sản xuất
(hoặc nhà cung cấp thiết bị) có vốn lu động, tạo cơ hội mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình. Nhng trên thực tế, không phải tất cả các chủ thể
muốn mua thiết bị đều có đủ khả năng về tài chính hoặc trong trờng hợp có
doanh nghiệp đủ khả năng về tài chính nhng họ không muốn đầu t số tiền này
để làm vốn lu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh). Chính vì vậy,
thông qua hợp đồng cho thuê tài chính mà bên cho thuê trong hợp đồng này sẽ
mua tài sản thuê để cho thuê và hoãn trả toàn bộ số tiền tơng ứng với giá trị tài
sản.
- Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, nhà sản xuất (hoặc nhà cung
cấp thiết bị) sẽ tìm hiểu đợc nhu cầu thiết yếu của bản thân ngời sử dụng thiết
bị, từ đó có kế hoạch đầu t đúng đắn.
- Thông qua cho thuê tài chính, các nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết
bị) có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận đợc lời khuyên nên áp

khoa học công nghệ hiện đại cho nền kinh tế. Đối với các quốc gia chậm phát
triển, nếu có những biện pháp đúng đắn, đồng bộ và toàn diện thì tác dụng của
nó còn mạnh mẽ hơn nhiều, nhất là trong thời đại ngày nay, việc đầu t công
nghệ hiện đại một cách kịp thời nhanh chóng đối với các nền kinh tế chậm
phát triển gặp rất nhiều khó khăn. Nếu có chính sách đúng đắn, hoạt động cho
thuê tài chính có thể đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ nhanh chóng.
Bên cạnh những lợi thế, cho thuê tài chính cũng có những hạn chế nhất
định. Điều này lý giải tại sao hoạt động cho thuê tài chính không thể thay thế
hoàn toàn cho các hoạt động tín dụng khác với t cách là một kênh cấp vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh. Những hạn chế đó là:
- Đối với bên thuê: Vào giai đoạn cuối của hợp đồng thuê, mặc dù bên
thuê đã trả gần nh đủ số tiền thuê nhng bên thuê vẫn cha đợc sử dụng tài sản
vào mục đích khác. Hơn nữa, bên thuê có thể phải chịu những rằng buộc bởi
12
một số biện pháp bảo đảm đối với tài sản thuê nh: không cho ngời khác thuê
lại khi cha có sự đồng ý của bên cho thuê hoặc phải chịu sự kiểm tra bất cứ
khi nào theo yêu cầu của bên cho thuê.
- Đối với bên cho thuê, rủi ro có thể xảy ra nh: rủi ro về tài chính, khi mà
bên thuê không trả tiền thuê khi đến hạn hoặc tiền thuê nhận đợc không đủ bù
đắp vốn gốc; hoặc rủi ro liên quan đến tài sản thuê, khi mà tài sản cho thuê
không thu hồi về không thể cho thuê tiếp hay không bán đợc chúng; tài sản do
nhà nhà sản xuất giao cho bên cho thuê không đúng theo hợp đồng, tài sản
không đợc phép kinh doanh; hoặc rủi ro sự thay đổi về luật pháp, do sự biến
động của thị trờng bởi khủng hoảng kinh tế.
(2)
I.3. Các phơng thức cho thuê tài chính
- Cho thuê giáp lng (Under Lease).
Một trong những đặc điểm của cho thuê tài chính là các bên không đợc
huỷ ngang hợp đồng trớc thời hạn. Do đó, nếu sau khi ký hợp đồng, bên thuê
không có nhu cầu sử dụng tài sản nữa và thời hạn thuê vẫn cha hết thì họ sẽ ở

phơng tiện vận chuyển và các động sản khác thuộc sở hữu của bên thuê và bên
thuê thuê lại chính các tài sản đó để tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động
của mình.
- Thuê qua biên giới (Cross - border Lease)
Các bên tham gia quan hệ thuê qua biên giới cũng giống nh các bên
trong hình thức thuê bắc cầu. Tài sản cho thuê qua biên giới thờng đòi hỏi vốn
lớn, có giá trị cao nh máy bay, tàu vận tải biển nhng nó khác với thuế bắc cầu
là các bên trong quan hệ thuê qua biên giới nh bên cho thuê, bên thuê có trụ
sở và quốc tịch ở các nớc khác nhau. Lợi thế của hình thức này là các bên đợc
hởng lợi từ việc miễn thuế hoặc do chính sách thuế khác nhau của từng nớc,
nh bên cho thuê không phải nộp thuế xuất khẩu do xuất khẩu đợc hàng hoá,
bên thuê do nhập thiết bị phục vụ sản xuất nên đợc miễn thuế nhập khẩu và
thuế VAT (nh ở Việt Nam hiện nay). Do đợc hởng lợi từ thuế, bên thuê sẽ có
lợi của việc giảm tiền thuê, nhờ đó sẽ giảm tiền khấu hao tài sản của chính tài
sản thuê.
- Cho thuê vận hành:
Cho thuê vận hành (cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản,
theo đó bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của bên cho thuê trong một thời
gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho bên thuê khi kết thúc thời hạn thuê
tài sản. Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê
theo hợp đồng cho thuê
(3)
.
Thông qua việc giao kết các hợp đồng cho thuê tài chính, các chủ thể xác
lập quyền và nghĩa vụ pháp lý. Các quyền và nghĩa vụ này sẽ bao gồm những
nội dung gì? Có khác so với hợp đồng thuê thông thờng không?Phần tiếp
theo của khoá luận sẽ nghiên cứu những khía cạnh pháp lý liên quan đến hợp
đồng cho thuê tài chính trên cơ sở đó có sự so sánh với hợp đồng thuê thông
thờng và nêu ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện chế định này.
I.4. Khái niệm, đặc điểm, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho

này không nêu đợc bản chất của hợp đồng tín dụng thuê mua là hợp đồng kinh
tế hay dân sự. Đến Nghị định 64, Hợp đồng cho thuê tài chính đợc hiểu là
"một loại hợp đồng kinh tế giữa bên cho thuê và bên thuê về việc thuê một
hoặc một số máy móc, thiết bị, động sản khác trong một thời gian nhất định
(thời hạn cho thuê) theo những điều kiện quy định tại Điều 3 Nghị định 64
(Điều 18)".
Điều 17 Nghị định 16 Quy định: "Hợp đồng cho thuê tài chính là thoả
thuận (bằng văn bản) giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một hoặc
một số máy móc, thiết bị, phơng tiện vận chuyển và động sản khác theo những
quy định tại Điều 1 của Nghị định này, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các
bên. Hợp đồng phải ghi rõ việc xử lý khi hợp đồng chấm dứt trớc hạn. Bên cho
thuê và bên thuê không đợc đơn phơng huỷ bỏ hợp đồng (trừ những trờng hợp
15
nêu tại Điều 27 Nghị định 16)". Khác với Nghị định 64, Nghị định 16 không
khẳng định hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng kinh tế hay dân sự. Cũng
giống với trờng hợp hợp đồng tín dụng, việc xác định một hợp đồng cho thuê
tài chính là hợp đồng kinh tế hay dân sự và thờng căn cứ vào chủ thể và mục
đích của hợp đồng. Nghĩa là:
- Hợp đồng cho thuê tài chính đợc coi là hợp đồng kinh tế khi nó đợc
giao kết giữa Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê là chủ thể kinh
doanh và việc giao kết hợp đồng cho thuê tài chính là nhằm mục đích kinh
doanh;
- Hợp đồng cho thuê tài chính đợc coi là hợp đồng dân sự khi nó đợc giao
kết giữa Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê không phải là chủ thể
kinh doanh hoặc là chủ thể kinh doanh nhng việc giao kết hợp đồng cho thuê
tài chính không nhằm mục đích kinh doanh.
Vì là một dạng của giao dịch kinh tế (dân sự), nên trớc hết hợp đồng cho
thuê tài chính phải tuân thủ các điều kiện chung về một giao dịch có hiệu lực
pháp luật. Điều 131 Bộ Luật Dân sự Việt Nam (có hiệu lực từ 1996) quy định
về điều kiện một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật. Theo đó, một giao

cho thuê có thể đợc phép cho thuê với thời gian ngắn đối với nhiều chủ thể có
cùng nhu cầu nhng số tiền thuê phải trả cao hơn so với quan hệ thuê thông th-
ờng (có thể cao hơn 200% so với quan hệ thuê thông thờng). Biện pháp này
vừa tạo điều kiện cho bên thuê cơ hội tốt nhất trong kinh doanh đồng thời
cũng giúp cho bên thuê nhanh chóng thu hồi vốn đầu t (thực hiện khấu hao
nhanh tài sản).
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê, ít nhất
phải tơng đơng với giá của tài sản đó trên thị trờng vào thời điểm ký hợp đồng.
Quy định này có điểm không phù hợp với thực tế áp dụng là đối với những
quan hệ cho thuê không có các biện pháp bảo đảm, bên thuê phải góp vốn để
mua tài sản theo tỉ lệ nhất định, thậm chí có trờng hợp góp đến 50% giá trị tài
sản. Việc bên thuê phải góp vốn để mua tài sản thuê là hoàn toàn hợp lý bởi lẽ
quy định này gắn trách nhiệm bảo quản và sử dụng tài sản trong quá trình sử
dụng của bên thuê. Thế nhng, nếu xác định tổng số tiền thuê phải trả nh trên,
bên thuê phải trả tới 1,5 lần tổng số giá trị tài sản. Nếu chiểu theo quy định
của pháp luật trong những trờng hợp này không thể áp dụng đợc. Theo chúng
tôi, nên quy định tổng số tiền thuê phải trả ít nhất tơng đơng với giá trị đầu t
của Công ty cho thuê vào tài sản tại thời điểm chuyển giao tài sản cho bên
thuê. Nếu quy định nh vậy, nghĩa vụ trả tiền thuê của bên thuê tài sản luôn t-
ơng ứng với phần tín dụng đợc cung cấp bởi các Công ty cho thuê tài chính.
Theo quy định tại Nghị định 16, điều kiện xác định một giao dịch đợc coi
là cho thuê tài chính nếu:
- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đợc quyền lựa chọn mua lại tài sản
thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho
thuê tài chính.
17
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài
chính, ít nhất phải tơng đơng với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp
đồng (Khoản 2 Điều 1 Nghị định 16).
Nh vậy, Nghị định 16 không quy định điều kiện xác định một giao dịch

thuê đợc chuyển giao cho bên thuê, nếu bên thuê vi phạm những yêu cầu này,
bên cho thuê có quyền yêu cầu đòi bồi thờng thiệt hại theo Điểm b Khoản 1
Điều 62 Luật Các tổ chức Tín dụng. Đặc điểm này giúp ta phân biệt rõ ràng
18
giữa hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng thuê tài sản thông thờng. Trong
quan hệ hợp đồng thuê tài sản thông thờng, bên cho thuê cũng chuyển giao
quyền sử dụng tài sản cho bên thuê, nhng toàn bộ chi phí về bảo dỡng và sửa
chữa vẫn thuộc về bên cho thuê. Bên thuê cũng có thể tu sửa và làm tăng giá
trị tài sản thuê, nếu đợc bên cho thuê đồng ý và có quyền yêu cầu bên cho
thuê thanh toán chi phí hợp lý (Khoản 2 Điều 484 Bộ Luật Dân sự).
- Trong hợp đồng cho thuê tài chính, quyền tự định đoạt của chủ tài sản
(bên cho thuê) có thể bị hạn chế do bên thuê có quyền lựa chọn mua tài sản
thuê hoặc tiếp tục thuê theo thoả thuận trong hợp đồng cho thuê, nhng điều
khoản này bắt buộc phải đợc thoả thuận trong hợp đồng (Khoản 2 Điều 17
Nghị định 16). Đặc điểm này cũng cho phép phân biệt hợp đồng cho thuê tài
chính với hợp đồng cho thuê tài sản thông thờng, bởi lẽ, trong hợp đồng cho
thuê tài sản thông thờng, bên cho thuê với t cách là chủ tài sản có toàn quyền
quyết định trong việc bán lại tài sản thuê hoặc cho thuê tiếp hay khi hợp đồng
thuê kết thúc mà không cần phải thoả thuận trớc điều Khoản này trong hợp
đồng.
II.4.3. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính.
Nh đã nêu ở phần trên, hợp đồng cho thuê tài chính ngoài việc tuân thủ
những quy định mang tính nguyên tắc chung để có thể xác định một giao dịch
là cho thuê tài chính còn phải đảm bảo các yêu cầu đợc quy định tại Điều 19
Nghị định 64, đó là:
- Đợc lập thành văn bản;
- Đăng ký tại Ngân hàng Nhà nớc.
Trong trờng hợp khi giao kết hợp đồng cho thuê tài chính, các chủ thể đã
không đợc thực hiện đúng theo các yêu cầu trên đây thì hợp đồng sẽ vô hiệu.
Khoản 2, 3 Điều 17 Nghị định 16 khẳng định: hợp đồng cho thuê tài

thuê này có những đặc điểm đặc trng là: HĐCTTC thờng đợc sử dụng bởi các
Công ty xây dựng bất động sản và các Công ty sản xuất máy móc thiết bị
thông qua việc đầu t xây dựng cao ốc, văn phòng.sau đó ký kết hợp đồng
cho thuê với khách hàng.
Chủ thể tham gia trong quan hệ này chỉ có hai bên. Bên cho thuê (đồng
thời là nhà cung ứng) và bên thuê. Trong phơng thức này cho phép bên cho
thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng lạc hậu. Về cơ bản, phơng thức tài trợ
này thờng đợc các nhà sản xuất sử dụng để đẩy mạnh việc tiêu thụ do họ sản
xuất ra, mặt khác nhờ đó họ luôn cập nhật những công nghệ mới để chế tạo
các máy móc thiết bị nên các nhà sản xuất có thể sẵn sàng mua lại những
trang thiết bị đã lạc hậu về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy
móc công nghệ hiện đại do họ chế tạo ra.
Với những phơng thức giao dịch này, việc tham gia của các doanh nghiệp
Việt Nam với các đối tác nớc ngoài sẽ giải quyết đợc vấn đề máy móc thiết bị,
dây chuyền công nghệ hiện đại cho đất nớc và tránh cho Việt Nam không trở
thành nơi phế thải của các máy móc thiết bị sau thời gian sử dụng nhất định.
* HĐCTTC có sự tham gia của 3 bên: Bên cho thuê, bên thuê và nhà
cung ứng. ở đây bên thuê có quyền lựa chọn tài sản với bên cung ứng phù hợp
20
với yêu cầu của mình. Đây là loại HĐCTTC đợc áp dụng phổ biến nhất và có
các u điểm sau: (i) Việc chuyển giao tài sản đợc thực hiện trực tiếp giữa nhà
cung ứng và bên thuê. Hai bên phải cùng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình
trạng hoạt động của tài sản, cũng nh việc bảo hành, bảo dỡng tài sản. Nh vậy,
bên cho thuê rút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản; (ii) Bên cho
thuê không phải mua tài sản trớc, do vậy vòng quay vốn sẽ nhanh hơn, vì
không phải dự trữ hàng tồn kho, hơn nữa bên cho thuê cũng có thể tài trợ cho
nhiều đối tợng mà không phụ thuộc vào sản phẩm bên thuê yêu cầu. (iii) Bên
cho thuê không phải trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho bên thuê
và nh vậy sẽ hạn chế đợc rủi ro liên quan đến việc nhận hàng của bên thuê nếu
có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật có thể xảy ra.

tục thuê thì bên thuê có quyền huỷ ngang hợp đồng nh thuê vận hành.
- Do tính chất của hình cho thuê này, bên cho thuê thờng tăng tốc độ
khấu hao, tức là tăng tiền thuê trong thời hạn cơ bản. Đối với hợp đồng thuê
lại này khi kết thúc thời hạn cơ bản thì tiền thuê cao hơn, bên thuê cũng có
nhiều sự lựa chọn hơn trong việc kết thúc hợp đồng.
- Tiền thu hồi vốn cao trong giai đoạn đầu đợc đa vào quỹ phòng ngừa rủi
ro
(5)
.
Căn cứ vào tính chất của giao dịch CTTC:
* Loại hợp đồng tiếp cận từ phơng diện ngời cho thuê sử dụng sẵn máy
móc thiết bị của họ để cho thuê. Trên thực tế, nhiều nhà sản xuất ở các nớc
phát triển đợc thực hiện loại cho thuê này nh một giải pháp mở rộng doanh số
bán hàng.
+ HĐCTTC liên kết: Là loại hợp đồng gồm nhiều bên cùng tài trợ cho
một bên thuê. Trong trờng hợp này do một ngời cho thuê không đủ vốn để tài
trợ hoặc sợ rủi ro vì tập trung vốn quá lớn với một khách hàng, nên họ liên kết
với nhau để CTTC. Đối với loại hợp đồng này, tài sản cho thuê thờng có giá trị
lớn.
Với phơng thức cho thuê liên kết, pháp luật Việt Nam đã tạo cơ sở pháp
lý để thực hiện, đó là hình thức cho thuê hợp vốn với quy định tại Thông t số
08/TT - NHNN ngày 09/06/2001 về hớng dẫn thực hiện NĐ 16/CP (mục 2.2),
nhng những rủi ro đối với loại hợp đồng này là không nhỏ. Để hạn chế những
rủi ro có thể xảy ra, pháp luật Việt Nam đã có quy định đó là giới hạn cho
thuê đối với 1 khách hàng không đợc vợt quá 30% vốn tự có của Công ty cho
thuê tài chính.
+ Hợp đồng cho thuê bắc cầu: Là trờng hợp ngời cho thuê đi vay để mua
tài sản rồi cho thuê, loại cho thuê này thờng áp dụng cho những dự án đầu t
lớn. Đây không phải là phơng thức cùng tài trợ mà ngời cho thuê vẫn phải là
trái chủ trong quan hệ cho thuê, còn ngời cho vay là trái chủ của ngời cho thuê

- Hợp đồng cho thuê giáp lng: Với sự cho phép của ngời cho thuê, ngời
thuê có thể cho ngời khác thuê tiếp. Loại hợp đồng cho thuê này đợc áp dụng
trong những trờng hợp bên thuê thứ hai cần tài sản muốn đi thuê nhng không
thực hiện trực tiếp từ những ngời cho thuê chuyên nghiệp - bên Công ty
CTTC, do hoạt động yếu kém, do không đảm bảo uy tín hoặc đơn giản chỉ vì
doanh nghiệp đó cha đợc ngời cho thuê biết đến. Ví dụ nh Công ty CTTC nớc
ngoài thờng chỉ chấp nhận tài trợ cho những Công ty lớn của Việt Nam (bên
thứ nhất). Hình thức cho thuê này cũng có thể áp dụng trong trờng hợp bên
thuê thứ nhất khi đã thực hiện một phần hợp đồng, không còn nhu cầu thuê,
do đó họ phải tìm đến bên thuê thứ hai để chuyển giao hợp đồng với sự chấp
thuận của ngời cho thuê. Phơng thức này giúp bên thuê thứ nhất không bỏ phí
tài sản thuê, đồng thời có thể kiếm lời từ bên thuê thứ hai. Bù lại bên đi thuê
thứ nhất vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm đối với những rủi ro thiệt hại liên
quan đến tài sản thuê vì họ là ngời trực tiếp ký hợp đồng với bên cho thuê ban
23
đầu. Mặc dù, kể từ thời điểm hợp đồng thuê mới lại đợc ký kết, mọi quyền lợi
và nghĩa vụ và tài sản đợc chuyển giao sang bên thứ hai.
- Hợp đồng cho thuê trả góp: Đây là phơng thức tài trợ khá đặc biệt của
CTTC. Thực chất là hình thức mua trả góp tài sản trong khoảng thời gian từ 1
đến 5 năm, đợc áp dụng đối với ngời mua có tài sản thế chấp và cả ngời không
có thế chấp.
Theo phơng thức này, hợp đồng CTTC có hiệu lực và ngời mua thờng
phải trả ngay cho nhà tài trợ một khoản tiền chiếm từ 25% - 30% giá trị tài sản
và vào thời điểm kết thúc hợp đồng chủ tài sản sẽ chuyển giao quyền sử dụng
cho ngời thuê, hình thức tài trợ này giúp cho bên cung ứng bán đợc tài sản của
mình và tạo cho bên thuê có ngay tài sản để sử dụng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh mà không phải trả ngay những khoản tiền đó.
Nhng bên cạnh đó, cũng có những bất lợi trong phơng thức này đó là tỷ
lệ lãi suất thực tế quá cao (thờng lên tới 15%/ năm) và nguy cơ mất quyền sở
hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng nếu không thực hiện đúng tiến độ

dụng đặc biệt" vì khi tham gia vào quan hệ hợp đồng thờng xuất hiện ba chủ
thể. Ngoài ra, trong một số trờng hợp, tham gia vào quan hệ hợp đồng cho
thuê tài chính có thể chỉ gồm hai bên chủ thể (ví dụ, hình thức thuê trực tiếp,
hình thức bán và tái thuê) và có thể có 4 bên hoặc nhiều hơn nữa (ví dụ, hình
thức thuê liên kết, thuê đòn bẩy)
Dới đây, chúng ta sẽ xem xét từng chủ thể trong một quan hệ hợp đồng
cho thuê tài chính thông thờng.
II.1.1. Bên cho thuê.
Theo thông lệ quốc tế, việc cho thuê thờng do các Công ty tài chính thực
hiện. Các Công ty này có thể là Công ty độc lập hoặc là Công ty thành viên
của một tập đoàn tài chính - ngân hàng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status