LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
"Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh
vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các
nước tiên tiến trong khu vực. Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với những
ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp không gây ô
nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ
mới, cải tiến từng bộ phận tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam.
Hiện đại hoá công nghệ trong quản lý". Đây là những yêu cầu để thực hiện
"Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI - Chiến lược
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp" mà báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII
tại Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra.
Hiện nay, hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê
tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài chính nói riêng không còn phù
hợp với tình hình mới, đôi khi giữa các văn bản này còn nhiều điểm chồng
chéo, mâu thuẫn. Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê tài chính nói chung và hoạt
động cho thuê tài chính nói riêng là những vấn đề chưa được quan tâm nghiên
cứu và xem xét một cách toàn diện. Do đó, việc nghiên cứu để từng bước
hoàn thiện lĩnh vực này là việc làm quan trọng và cần thiết.
Xuất phát từ nhận thức trên, em mạnh dạn chọn đề tài:" Một số vấn đề
pháp lý trong hợp đồng cho thuê tài chính" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật về hợp đồng cho thuê tài
chính, cũng như thực trạng hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam trong
thời gian qua, khoá luận sẽ rút ra những kết luận và kiến nghị nhằm góp phần
1
hoàn thiện pháp luật về cho thuê tài chính nói chung và hợp đồng cho thuê tài
chính nói chung.
truyền thống. Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu tài sản không
chuyển cho bên thuê nhưng bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó
như của chính mình.
Hình thức cho thuê tài chính xuất hiện trước tiên ở Hoa Kỳ vào năm
1952 do Công ty tư nhân United Stales Corporation sáng tạo ra nhằm đáp ứng
những nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp. Năm 1960, lần
đầu tiên một hợp đồng cho thuê tài chính được ký tại Anh với giá 18.000
Bảng. Cũng năm này, phương thức cho thuê tài chính đã được ghi vào Luật
Thương mại của Pháp dưới tên gọi "Credit Bail".
Giao dịch cho thuê tài chính hình thành giữa ba bên: Bên cho thuê, bên
thuê và nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị). Bên cho thuê trở thành chủ
sở hữu tài sản và bên thuê thuê lại theo thời hạn thoả thuận. Cho thuê tài
chính được sử dụng như một phương thức tài trợ vốn trung, đài hạn cho các
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hoạt động cho thuê tài chính có thể được nhìn nhận trên hai phương diện
kinh tế và pháp lý, cụ thể là:
- Dưới góc độ kinh tế, cho thuê tài chính là hình thức thuê có tính chất
"tiền tệ". Hình thức này được định nghĩa là nghiệp vụ cho thuê mà Công ty
cho thuê lấy việc thu tiền cho thuê làm điều kiện, như bỏ tiền ra để mua các
thiết bị mà xí nghiệp, Công ty cần. Là một loại vốn tiền tệ, trong thời gian vừa
3
và dài thực hiện hình thức tiền - vật và phải hoàn trả đầy đủ
2
. Xét về bản chất
kinh tế, cho thuê tài chính là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hoạc dài
hạn dành cho doanh nghiệp. Bởi vì khoản tiền mà bên cho thuê bỏ ra để mua
tài sản cho thuê chính là một khoản tín dụng mà bên cho thuê cấp cho bên
thuê.
- Dưới góc đọ pháp lý, cho thuê tài chính là biểu hiện một loại quan hệ
pháp lý phát sinh từ một hợp đồng cho vay.
thuê phải gánh chịu, bên cho thuê vẫn giữ quyền sở hữu, cuối thời hạn thuê,
bên thuê đợc quyền sở hữu đối với tài sản thuê.
Ví dụ, "Thuê mua máy bay" là hình thức thuê máy bay mà bên thuê phải
trả trước đến 15% giá trị máy bay, hàng kỳ trả tiền thuê máy bay (thường từ
10 - 12 năm đối với máy bay phản lực, 7 - 10 năm đối với máy bay cánh
quạt), cuối thời hạn thuê bên thuê trả nốt tiền và nhận quyền sở hữu đối với
máy bay.
Như vậy, xét về bản chất "Thuê mua" cũng là một hình thức của cho
thuê tài chính. Nếu trong giao dịch cho thuê tài chính, bên thuê có thể được
mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều khoản đã thoả thuận trong
hợp đồng thuê và những thoả thuận này phải được các bên ghi vào hợp đồng.
Còn trong giao dịch "thuê mua", việc nhận quyền sở hữu đối với tài sản thuê
vào cuối thời gian thuê là quyền của bên thuê.
Ở Việt Nam, khái niệm cho thuê tài chính lần đầu tiên được đề cập trong
Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính ban
hành theo Nghị định số 64/CP ngày 9/10/1995 của Chính phủ (sau đây gọi là
Nghị định 64). Trong một số văn bản pháp lý trước đây, còn có thêm thuật
ngữ "Tín dụng thuê mua" (Thí dụ, tại Quyết định của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước số 149/QĐ - NH 5 ngày 27/5/1995 về việc ban hành Thể lệ Tín
dụng Thuê mua (sau đây gọi là Quyết định số 149). "Tín dụng thuê mua"
được định nghĩa là: :hoạt động thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác
phục vụ cho sản xuất kinh doanh được các tổ chức tín dụng mua theo yêu cầu
5
của bên thuê". Bên thuê thanh toán tiền thuê cho tổ chức tín dụng trong suốt
thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ. Khi kết thúc
thời hạn thuê, bên thuê được quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc được mua lại tài
sản thuê, hay tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng thuê mua". Xétvề bản chất, tín dụng thuê mua cũng như cho
thuê tài chính.
Luật các Tổ chức Tín dụng được Quốc hội Khoá X, Kỳ họp thứ 2 thông
không phụ thuộc vào những kỹ năng và ý kiến của bên cho thuê. Chính vì đặc
điểm này mà bên cho thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản không được
giao hoặc không giao đúng với các điều kiện cho bên thuê thoả thuận với bên
cung ứng (Khoản 1 Điều 24 Nghị định 16).
Thứ hai: thời hạn thuê là trung hoặc dài hạn, chiếm phần lớn thời gian
hữu dụng của tài sản và không thể bị huỷ ngang theo ý chí của một bên. Đặc
điểm này nêu bật rõ những lợi ích mà cho thuê tài chính mang lại không chỉ
riêng cho các chủ thể tham gia hợp đồng mà cho cả nền kinh tế.
Thứ ba: Phần lớn những chi phí cho việc vận hành, bảo dưỡng, bảo hiểm
tài sản được chuyển giao từ bên cho thuê sang bên thuê. Theo quy định tại
Khoản 5, 6 Điều 26 Nghị định 16: "Bên thuê chịu mọi rủi ro về việc mất mát,
hư hỏng đối với tài sản thuê và chịu trách nhiệm về mọi hậu quả do việc sử
dụng tài sản thuê gây ra đối với tổ chức và cá nhân khác trong quá trình sử
dụng tài sản thuê. Đồng thời, bên thuê phải có nghĩa vụ bảo dưỡng, sửa chữa
tài sản thuê trong thời hạn thuê. Không được tẩy xoá, làm hỏng ký hiệu sở
hữu gắn trên tài sản thuê".
3
Chính từ những đặc điểm nêu trên, có thể phân biệt cho thuê tài chính
với phương thức thuê vận hành.
3
Xem trang 3
7
Tiêu chí Cho thuê tài chính Thuê vận hành
Thời hạn thuê Trung và dài hạn, chiếm
phần lớn thời gian hữu
dụng của tài sản thuê
Thời hạn thuê ngắn
Huỷ ngang Không được phép huỷ
ngang theo ý chí của 1
bên
8
Tham giao vào một giao dịch cho thuê tài chính thường bao gồm bên cho
thuê, bên thuê và nhà sản xuất hay cung ứng. Lợi ích của cho thuê tài chính
đem lại cho các bên tham gia nói riêng và nền kinh tế nói chung là:
1.2.1. Đối với bên cho thuê:
- Cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ hạn chế tới mức thấp nhất
những rủi ro có thể xảy ra. Vì trong suốt thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản
luôn thuộc về bên cho thuê. Do đó, nếu có những đe doạ đối với sự an toàn
của tài sản thuê (chẳng hạn bên thuê lâm vào tình trạng phá sản hoặc giải
thể…), bên cho thuê hoàn toàn có khả năng thu hồi tài sản thuê ngay lập tức.
Mặt khác, trong cho thuê tài chính, vốn tài trợ được thể hiện bằng hiện vật (tài
sản thuê) nên không bị ảnh hưởng của lạm phát. Bên cho thuê cũng không
phải chịu những rủi ro do sự giảm giá trị của tài sản do tác động của điều kiện
khách quan;
- Bên cho thuê có thể biết chắc rằng vốn mà họ cho vay được sử dụng
đúng mục đích như trong hợp đồng, vì dưới hình thức này, bên cho thuê trực
tiếp mua máy móc thiết bị từ nhà cung cấp (thường là sau khi người đi thuê đã
lựa chọn) và do đó người đi thuê không có cơ hội sử dụng được tài trợ vào
mục đích khác. Qua đó, bên có thuê đảm bảo được khả năng thu hồi nợ từ
người đi thuê.
- Cho thuê tài chính giúp bên cho thuê mở rộng diện khách hàng, đa
dạng hoá việc sử dụng vốn, đồng thời mở rộng mối quan hệ kinh doanh đa
phương.
- Cho thuê tài chính giúp người cho thuê linh hoạt trong kinh doanh;
Trong thời gian tài trợ, vốn của ngời cho thuê bỏ ra để mua máy móc tài sản
cho thuê, số tiền này sẽ được thu hồi dần và cho phép người cho thuê có thể
sử dụng vốn đó để tái đầu tư vào những hoạt động sản xuất kinh doanh sinh
lợi nhuận và giữ vững được nhịp độ hoạt động của mình.
- Hồ sơ tài trợ đơn giản nên bên cho thuê có thể quyết định tài trợ nhanh.
Trong giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê tham gia với tư cách là nhà
10
Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay những doanh
nghiệp mới thành lập, chưa có uy tín với các Tổ chức tài chính thường rất khó
thoả mãn các điều kiện chống rủi ro nên thường bị các tổ chức này từ chối
cho vay. Trong khi đó, do đặc thù của cho thuê tài chính là bên cho thuê nắm
quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản thuê và họ có thể trực tiếp kiểm soát theo
dõi việc sử dụng tài sản, tình hình kinh doanh của bên thuê. Vì vậy, các Công
ty cho thuê tài chính có thể sẵn sàng thoả mãn nhu cầu đầu tư của khách hàng
ngay cả khi vị thế tài chính, uy tín của họ có những hạn chế.
Hơn nữa, do chuyên biệt kinh doanh cho thuê tài chính các loại tài sản
thiết bị nên các Công ty cho thuê tài chính thường có mạng lưới hoạt động
rộng rãi, có nhiều mối quan hệ với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị),
có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thiết bị - công nghệ cao nên họ có thể cung cấp
cho các doanh nghiệp các loại thiết bị đúng yêu cầu, điều này tránh rủi ro cho
các doanh nghiệp so với trường hợp doanh nghiệp tự mua lấy. Đồng thời,
thông qua cho thuê tài chính mà doanh nghiệp có thể thanh lý, chuyển nhượng
các máy móc, công nghệ đã cũ. Dĩ nhiên, điều này phải đi đôi với việc phát
triển một thị trường công nghệ cũ và mới thông qua các trung gian là các
Công ty cho thuê tài chính. Cũng nhờ có chuyên môn cao về thiết bị, công
nghệ nên các Công ty cho thuê có thể cải tiến, điều chuyển các loại tài sản cho
phù hợp với nhu cầu của khách hàng ở các khu vực thị trường khác nhau.
- Cho thuê tài chính có thể giúp các doanh nghiệp đi thuê không bị đọng
vốn trong tài sản cố định. Thông qua nghiệp vụ bán và cho thuê lại, các doanh
nghiệp có thể chuyển nguồn tài sản cố định thành tài sản lưu động hay chuyển
dịch vốn đầu tư cho các dự án kinh doanh khác có hiệu quả cao hơn trong khi
vẫn duy trì được hoạt động đầu tư hiện hành vì tài sản vẫn được tiếp tục sử
dụng. Mặt khác, nếu doanh nghiệp muốn dành vốn tích luỹ cho kinh doanh
mà có nhu cầu về thiết bị và tài sản thì vẫn có thể thực hiện được thông qua
mua tài sản cố định.
11
đáp ứng kịp thời các cơ hội kinh doanh. So với các phương thức tăng vốn
khác, cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn nên các thủ tục và điều
kiện tài trợ cũng đơn giản hơn. Do bên thuê có thể tự tìm kiếm nguồn cung
ứng tài sản thiết bị, hay đàm phán, thoả thuận trước về hợp đồng mua bán
thiết bị với nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu Công ty cho thuê tài chính tài
trợ nên có thể cho phép bên thuê rút ngắn thời gian tiến hành đầu tư thiết bị.
Mặt khác, nếu tài sản cho thuê là tài sản của Công ty cho thuê tài chính thì các
thông số kỹ thuật của thiết bị, các ý kiến tư vấn cho những vấn đề phát sinh
trong đầu tư được các Công ty này đưa ra phục vụ khách hàng thường rất hữu
ích. Hiện nay, các Công ty cho thuê tài chính có xu hướng hoạt động chuyên
môn hoá sâu trong lĩnh vực tài sản cho thuê, thường tổ chức cung ứng các loại
thiết bị theo phương thức khép kín, thiết bị thường bị gắn liền với phụ tùng,
linh kiện, kỹ năng quản trị, sản phẩm cho khách hàng. Điều này giúp bên thuê
nhanh chóng đáp ứng được các cơ hội kinh doanh.
- Cho thuê tài chính cho phép bên thuê hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc
độ phát triển của công nghệ mới. Trong điều kiện bùng nổ công nghệ hiện
nay, việc thay đổi thiết bị, máy móc theo kịp đà phát triển của công nghệ mới,
góp phần sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên
thị trường là một vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Nhưng
đây cũng là một khó khăn đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị),
nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia đang phát triển hoặc đối
với cá doanh nghiệp phải tự xuất vốn hay vay vốn để đầu tư. Cho thuê tài
chính có thể góp phần vào việc giải bài toán về vốn và công nghệ này.
- Thông qua cho thuê tài chính, việc thay đổi công nghệ của doanh
nghiệp diễn ra có ưu thế hơn so với các hình thức tài trợ khác (do đặc điểm
của nó là thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, nên mọi rủi ro về mặt pháp lý
và những rủi ro hao mòn vô hình đều thuộc về phía bên cho thuê. Bên cho
13
thuê thường phải sử dụng những khả năng chuyên biệt về nghiệp vụ cho thuê
tài chính để khắc phục những rủi ro này).
- Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, nhà sản xuất (hoặc nhà cung
cấp thiết bị) sẽ tìm hiểu được nhu cầu thiết yếu của bản thân người sử dụng
thiết bị, từ đó có kế hoạch đầu tư đúng đắn.
- Thông qua cho thuê tài chính, các nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp
thiết bị) có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận được lời khuyên
nên áp dụng trình độ công nghệ ở mức nào cho phù hợp với doanh nghiệp, thị
trường và môi trường kinh tế vĩ mô.
1.2.4. Đối với nền kinh tế.
Cho thuê tài chính không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể
có liên quan mà hình thức này còn góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế.
Điều này thể hiện:
- Cho thuê tài chính là hình thức thu hút vốn đầu tư trung, dài hạn cho
nền kinh tế. Do cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng
rãi hơn các hình thức khác nên cho thuê tài chính có thể khuyến khích các
thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân và nhất là các Tổ
chức tài chính đầu tư vốn để kinh doanh. Do đó, hoạt động cho thuê tài chính
đã huy động được những nguồn vốn nhãn rỗi trong nội bộ nền kinh tế, thậm
chí thu hút vốn đầu tư các lĩnh vực đầu tư khác. Mặt khác, trong điều kiện
giao lưu quốc tế ngày nay, cho thuê tài chính góp phần giúp cho quốc gia thu
hút các nguồn vốn quốc tế cho nền kinh tế thông qua các loại máy móc tài sản
cho thuê mà quốc gia đó nhận được. Đồng thời, hình thức thu hút vốn đầu tư
nước ngoài này không làm tăng Khoản nợ nước ngoài của quốc gia nhận được
tài sản cho thuê.
- Cho thuê tài chính thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức
tài chính. Ở rất nhiều quốc gia, sự phát triển của cho thuê tài chính đã dẫn tới
việc giảm các chi phí, đồng thời tăng các nguồn vốn cho hoạt động đầu tư;
15
- Cho thuê tài chính là nhân tố tác động tích cực cho sự phát triển của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi lẽ hầu hết các doanh nghiệp này đều không
đáp ứng được một số điều kiện nhất định khi có ý định vay tín dụng tại ngân
biến động của thị trường bởi khủng hoảng kinh tế.
5
I.3. Các phương thức cho thuê tài chính
- Bên cho thuê: vay phần lớn số tiền tài trợ từ bên cho vay với vật thể
chấp chính là tài sản cho thuê hình thành bằng vốn vay, giữ quyền sở hữu và
cho thuê lại tài sản đó, phải trả nợ vay và được hưởng các Khoản chênh lệch
giữa tiền cho thuê và tiền tài trợ.
- Bên thuê: trả tiền thuê cho bên cho thuê theo yêu cầu của họ và chịu
mọi rủi ro có thể xảy ra với tài sản.
- Cho thuê giáo lưng (Under Lease).
Một trong những đặc điểm của cho thuê tài chính là các bên không được
huỷ ngang hợp đồng trước thời hạn. Do đó, nếu sau khi ký hợp đồng, bên thuê
không có nhu cầu sử dụng tài sản nữa và thời hạn thuê vẫn chưa hết thì họ sẽ
ở trong tình trạng bất lợi. Để khắc phục tình trạng này, bên thuê có thể tìm
một bên thuê thứ hai để cho thuê lại tài sản. Bên thuê thứ hai sẽ trả tiền thuê
cho bên thuê thứ nhất đồng thời có mọi quyền lợi, nghĩa vụ khác trong việc sử
dụng tài sản thuê. Tuy nhiên, vì hợp đồng ký giữa bên cho thuê và bên thuê
thứ nhất vẫn có hiệu lực nên bên thuê thứ nhất vẫn có nghĩa vụ trả tiền thuê
cho bên cho thuê và phải chịu trách nhiệm liên đối đối với những rủi ro, thiệt
hại có thể xảy ra đối với tài sản. Việc cho thuê lại chỉ được tiến hành nếu có
sự đồng ý của bên cho thuê.
Pháp luật Việt Nam quy định, bên thuê không được chuyển quyền sử
dụng tài sản thuê cho cá nhân, tổ chức khác nếu không được bên cho thuê
đồng ý bằng văn bản (điểm a Khoản 2 Điều 63 Luật Các Tổ chức Tín dụng).
- Bán và tái thuê (Sale and Lease - back).
5
Đo n Thanh H , Cho thuê t i chính - già à à ải pháp về vốn để đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp, Tạp
chí T i chính doanh nghià ệp 11/2000
17
Hình thức bán và tái thuê được doanh nghiệp sử dụng khi doanh nghiệp
18
Thông qua việc giao kết các hợp đồng cho thuê tài chính, các chủ thể xác
lập quyền và nghĩa vụ pháp lý. Các quyền và nghĩa vụ này sẽ bao gồm những
nội dung gì? Có khác so với hợp đồng thuê thông thường không?…Phần tiếp
theo của khoá luận sẽ nghiên cứu những khía cạnh pháp lý liên quan đến hợp
đồng cho thuê tài chính trên cơ sở đó có sự so sánh với hợp đồng thuê thông
thường và nêu ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện chế định này.
I.4. Khái niệm, đặc điểm, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho
thuê tài chính.
II.4.1. Khái niệm.
Các nước trên thế giới có hoạt động cho thuê tài chính phát triển không
sử dụng khái niệm về hợp đồng cho thuê tài chính, thay vào đó, họ đưa ra
khái niệm về hợp đồng thuê mua. Ví dụ:
- Ở ý - Hợp đồng thuê mua (LF) là hợp đồng giao kết giữa người đi thuê
và bên cho thuê về việc cho thuê các loại thiết bị do bên cho thuê mua hoặc
sản xuất, nội dung của hợp đồng phải phù hợp với giải trình của bên đi thuê
và có hiệu lực trong một thời hạn nhất định. Cuối thời hạn thuê, người đi thuê
có quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá định trước.
- Ở Tây Ban Nha - Hợp đồng thuê mua (AF) là loại hợp đồng với mục
đích nhượng lại quyền sử dụng động sản hay bất động sản của bên cho thuê
theo sự xác định của người điu thuê theo hợp đồng. Hợp đồng này phải cho
phép bên thuê có quyền mua tài sản đã thuê vào cuối giai đoạn thuê mua.
Ở nước ta hiện nay, nội dung khái niệm hợp đồng cho thuê tài chính có
thể được hiểu trên hai phương diện:
Thứ nhất: Trên phương diện lý thuyết, hợp đồng cho thuê tài chính được
định nghĩa là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên cho thuê (Công ty tài chính
hoặc Công ty cho thuê tài chính) với bên thuê (tổ chức và cá nhân kinh
doanh), theo đó bên cho thuê cung cấp tài sản thuê cho bên thuê sử dụng
trong một thời hạn nhất định theo yêu cầu của bên thuê, với điều kiện trả tiền
19
chủ thể kinh doanh hoặc là chủ thể kinh doanh nhưng việc giao kết hợp đồng
cho thuê tài chính không nhằm mục đích kinh doanh.
Vì là một dạng của giao dịch kinh tế (dân sự), nên trước hết hợp đồng
cho thuê tài chính phải tuân thủ các điều kiện chung về một giao dịch có hiệu
lực pháp luật. Điều 131 Bộ Luật Dân sự Việt Nam (có hiệu lực từ 1996) quy
định về điều kiện một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật. Theo đó, một
giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực pháp luật khi: (i) người tham gia giao dịch có
năng lực hành vi dân sự; (ii) mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp
luật, đạo đức xã hội, (iii) người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; (iv)
hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.
Như vậy, trước hết hợp đồng cho thuê tài chính phải tuân thủ các điều
kiện chung về một giao dịch có hiệu lực pháp luật (như đã nêu trên). Ngoài ra,
giao dịch cho thuê tài chính còn phải tuân thủ những điều kiện riêng cụ thể là:
Theo quy định tại Điều 7 Quyết định 149. Điều 3 của Nghị định này quy định:
một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau
đây:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai
bên;
- Nội dung hợp đồng thuê có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên
thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá
trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần
thiết để khấu hao tài sản thuê. Quy định này đã gâp nhiều khó khăn cho các
Công ty cho thuê tài chính vì có những tài sản có giá trị lớn, có khả năng
chuyển nhượng dễ dàng và là tài sản có nhu cầu sử dụng của nhiều tổ chức
kinh tế nhưng mỗi chủ thể chỉ cần sử dụng trong thời gian ngắn. Trong trường
hợp có nhu cầu thuê tài sản có giá trị lớn với thời gian ngắn mà các đối tượng
đó không thể tham gia vào quan hệ thuê thì sẽ làm mất đi thị phần đáng kể
21
thuê của bên thuê tài sản luôn tương ứng với phần tín dụng được cung cấp bởi
các Công ty cho thuê tài chính.
Theo quy định tại Nghị định 16, điều kiện xác định một giao dịch được
coi là cho thuê tài chính nếu:
- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài
sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng
cho thuê tài chính.
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài
chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp
đồng (Khoản 2 Điều 1 Nghị định 16).
Như vậy, Nghị định 16 không quy định điều kiện xác định một giao dịch
cho thuê tài chính khi "Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng
60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê". Theo chúng tôi, pháp luật
cần phải bổ sung quy định về thời hạn cho thuê đối với tài sản thuê, bởi lẽ,
nếu không quy định điều kiện này có thể dẫn tới tính không đồng nhất với nội
dung khái niệm "cho thuê tài chính" đã nêu ra - Cho thuê tài chính là hoạt
động tín dụng trung và dài hạn.
II.4.2. Đặc điểm.
- Đặc điểm đặc trưng của hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng thanh
toán trọn vẹn và không thể bị huỷ ngang. Với một hợp đồng thuê tài sản thông
thường, khi không có nhu cầu thuê tiếp, bên thuê có thể trả lại tài sản thuê và
kết thúc thời hạn. Với hợp đồng cho thuê tài chính, điều này không thể xảy ra
vì tài sản thuê thường có giá trị lớn mà thời gian khấu hao tài sản dài. Nếu
như một trong các bên đơn phương huỷ bỏ cam kết của mình sẽ gây trở ngại
và khó khăn lớn cho bên kia. Giả sử bên cho thuê đòi thu hồi thiết bị trong khi
bên thuê đang tiến hành sản xuất kinh doanh có lãi, điều này sẽ gây ra những
thiệt hại không thể lường trước cho bên thuê. Ngược lại, trong trường hợp bên
thuê yêu cầu bên cho thuê nhận lại tài sản thuê trước khi hợp đồng cho thuê
tài chính hết hiệu lực, việc này cũng sẽ gây ra những hậu quả là bên cho thuê
23
quyền quyết định trong việc bán lại tài sản thuê hoặc cho thuê tiếp hay khi
hợp đồng thuê kết thúc mà không cần phải thoả thuận trước điều Khoản này
trong hợp đồng.
II.4.3. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài chính.
Như đã nêu ở phần trên, hợp đồng cho thuê tài chính ngoài việc tuân thủ
những quy định mang tính nguyên tắc chung, để có thể xác định một giao
dịch là cho thuê tài chính còn phải đảm bảo các yêu cầu được quy định tại
Điều 19 Nghị định 64, đó là:
- Được lập thành văn bản;
- Đăng ký tại Ngân hàng Nhà nước và cơ quan quản lý hợp đồng thoả
thuận quy định trong hợp đồng.
Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng cho thuê tài chính, các chủ thể
đã không được thực hiện đúng theo các yêu cầu trên đây thhì hợp đồng sẽ vô
hiệu.
Khoản 2, 3 Điều 17 Nghị định 16 khẳng định: hợp đồng cho thuê tài
chính phải được lập thành văn bản phù hợp với quy định của pháp luật. Bên
thuê và bên cho thuê không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng cho thuê tài
chính (trừ những trường hợp do pháp luật quy định). Như vậy, trong thời gian
tới các hợp đồng cho thuê tài chính sau khi được giao kết sẽ không phải làm
thủ tục đăng ký tại Ngân hàng Nhà nước và cơ quan quản lý hợp đồng nơi
Công ty cho thuê tài chính đặt trụ sở theo quy định của pháp luật. Quy định
hợp đồng phải đăng ký là thủ tục hành chính rườm rà. Quy định này đã gây ra
không ít khó khăn (ví dụ như việc nhũng nhiễu của một số nhân viên Ngân
hàng Nhà nước khi Công ty cho thuê tài chính đến đăng ký hợp đồng) trong
quá trình Công ty cho thuê tài chính tiến hành giao kết hợp đồng với khách
hàng. Chính vì lẽ đó, Nghị định 16 mới đây đã bỏ quy định hợp đồng cho thuê
tài chính phải đăng ký và chỉ quy định: Tài sản cho thuê tài chính phải đăng
ký tại Trung tâm giao dịch bảo đảm (Điều 19).
1.5. Phân loại hợp đồng cho thuê tài chính:
25