Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Theo đánh giá của các chuyên gia, phương thức kinh doanh thông qua mô
hình nhượng quyền thương mại (NQTM) là một cơ hội kinh doanh mới cho các
doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những doanh nghiệp có tham vọng song chưa
đủ sức tấn công vào các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Châu Âu. Mô hình
NQTM sẽ giúp họ xâm nhập một cách gián tiếp vào các thị trường này với chi
phí thấp nhất. Tuy nhiên, trở ngại đối với các doanh nghiệp này chính là từ trước
tới nay, do mô hình NQTM không xuất hiện nhiều tại Việt Nam, nên phần lớn là
các doanh nghiệp sẽ phải tự mò mẫm học hỏi và vì vậy, họ rất dễ trở thành nạn
nhân của mặt trái của mô hình này như bị “nhái” nhãn hiệu, hoặc để bảo vệ
quyền sở hữu đối với các bí mật kinh doanh của mình mà có những quy định
trong hợp đồng NQTM vi phạm PLCT của các quốc gia khác mà doanh nghiệp
có hoạt động nhượng quyền. Chính vì thế mà ngoài việc quan tâm đến phẩm
chất đạo đức của các đối tượng mà mình trao quyền, các doanh nghiệp cần rất
thận trọng trong khâu làm hợp đồng để tránh những sai phạm không đáng có,
tránh “tầm” điều chỉnh của PLCT của các quốc gia này. Với mong muốn tìm
hiểu hành lang pháp lý cho hoạt động NQTM, mà đặc biệt là các quy định pháp
luật về NQTM nhưng có liên quan đến các lĩnh vực luật khác, trong đó bao gồm
Luật cạnh tranh, em đã quyết định chọn đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về hoạt
động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh ở Việt
Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Ngoài lời nói đầu, kết luận, khoá luận
gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về hoạt động NQTM và pháp luật về NQTM.
Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về hoạt động NQTM dưới góc độ PLCT.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
NQTM dưới góc độ PLCT.
CHƯƠNG I
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG NQTM VÀ PHÁP LUẬT
doanh này còn thể hiện ở ngay việc trong năm 2005 có tới 12/52 tiểu bang của
Mỹ đều có luật bắt buộc bất kỳ công ty nào muốn tham gia vào thị trường chứng
khoán đều phải có đăng ký nhượng quyền. Những cái tên không hề xa lạ như
California, New York, Washington,…là một trong số đó [12]. Hiện tại hoạt
động NQTM diễn ra phổ biến tại Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và đang có phần
gia tăng ở các nước đang phát triển [4]. Ở Việt Nam, cà phê Trung Nguyên, Phở
24, bánh ngọt Kinh Đô, hãng thời trang Foci (công ty dệt may Nguyên Tâm),
Công ty cổ phần kiến trúc xây dựng Nhà Vui,… là những ví dụ về các doanh
nghiệp thực hiện hoạt động NQTM [14]. Tính đến thời điểm năm 2004, Việt
Nam có khoảng 70 thương hiệu áp dụng NQTM, với tốc độ tăng trưởng ước tính
15% - 20% / năm [42].
Tại Mỹ, lúc đầu NQTM được coi là những thoả thuận giữa các nhà sản
xuất, những tổ chức dịch vụ với những nhà kinh doanh độc lập khác liên quan
đến việc phân phối sản phẩm – chính là hình thức nhượng quyền phân phối sản
phẩm sau này. Trong hình thức này BNhQ chỉ được sử dụng nhãn hàng hoá của
BNQ. Ví dụ cho trường hợp này là Coca-Cola, hãng này đã thực hiện bán
Franchising lần đầu tiên cho nhà máy sản xuất vỏ chai là Georgia vào năm 1901.
Phân phối theo hình thức này, Coca-Cola đã giảm được đáng kể chi phí vận tải,
bởi thay vì vận chuyển nguyên cả chai, giờ đây Coca-Cola chỉ việc vận chuyển
nước ngọt trong các thùng lớn, khâu đóng chai sẽ được thực hiện ngay tại cơ sở
sản xuất vỏ chai, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Coca-Cola. Việc này có thể
đảm bảo Coca-Cola không phải tiết lộ bí quyết kinh doanh của mình, bởi
nhượng quyền theo hình thức này Coca-Cola vẫn sẽ là nhà sản xuất, sản phẩm
sau đó được vận chuyển trong các thùng lớn đi các nơi, đến nơi nó sẽ được đóng
vào các chai nhỏ.
Sau một thời gian tồn tại, NQTM tại Mỹ phát triển thêm một hình thái
mới đó là NQTM đối với phương thức kinh doanh. Ở hình thức này, BNQ kèm
theo việc chia sẻ quyền kinh doanh nhãn hiệu, sẽ phải chia sẻ thêm cách thức
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Theo quan điểm của pháp luật Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển
thì hoạt động franchising thực chất là hoạt động chuyển giao quyền kinh doanh
(quyền thương mại) gắn liền với quyền SHTT, bao gồm cả quảng cáo, tiêu
chuẩn hàng hoá, đào tạo người lao động, khuyến mại v.v…
Việt Nam là một nước tiếp cận với hoạt động NQTM được coi là muộn,
nên trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nước kết hợp với tình hình thực tế
của hoạt động này ở Việt Nam, lần đầu tiên Luật thương mại 2005 đã đưa ra
định nghĩa về NQTM tại Điều 284 và có quy định cụ thể về NQTM tại Mục 8
Chương VI từ các điều 284 đến điều 291. Tuy nhiên, thực ra NQTM đã xuất
hiện tại Việt Nam từ đầu thập niên 90 và thuật ngữ này lần đầu được đề cập đến
trong hệ thống pháp luật Việt Nam qua khái niệm “cấp phép đặc quyền kinh
doanh” tại Thông tư số 1254/1999 của Bộ KHCN&MT. Tại Nghị định số
11/2005/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (sửa đổi) quy định
chi tiết thi hành Chương III Phần VI Bộ luật Dân sự 1995 chính thức thừa nhận
hoạt động “cấp phép đặc quyền kinh doanh”- một dạng hoạt động NQTM, là
một trong những hoạt động chuyển giao công nghệ. Theo Điều 4 Khoản 6 Nghị
định số 11/2005, “cấp phép đặc quyền kinh doanh” là hoạt động theo đó: “ bên
nhận sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết của bên giao để
tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ thương mại”. Còn theo
Luật thương mại 2005, NQTM được quy định “NQTM là hoạt động thương
mại, theo đó Bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu Bên nhận quyền tự mình
tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ …” (Điều 284) theo cách
thức và phương pháp kinh doanh mà BNQ quy định. Hoạt động thương mại này
phải được làm thành văn bản và phải đăng ký với Bộ thương mại hoặc
các Sở thương mại theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 35/2006 của Chính
phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động NQTM.
Thực chất NQTM chính là hoạt động thương mại của các thương nhân
nhằm mở rộng quy mô kinh doanh của mình thông qua việc chia sẻ quyền phân
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Về tính đồng bộ, thống nhất. NQTM là sự phát triển đồng bộ một
thương hiệu tạo ra sự thống nhất một hình ảnh các cửa hàng, để khách hàng vào
bất cứ cơ sở, cửa hàng nào trong hệ thống cũng đều cảm thấy thoải mái, hài lòng
như nhau. Hệ thống nhượng quyền như một guồng máy mà mỗi cửa hàng, cơ sở
là một mắt xích, để tạo nên chính thể đó. Sự thay đổi của một mắt xích tất yếu
làm ảnh hưởng tới cả hệ thống. Đây là điểm nhạy cảm của NQTM, bởi nó có thể
giúp phát triển danh tiếng của hàng hoá, hệ thống nhượng quyền một cách nhanh
chóng nhưng cũng có thế làm cho uy tín xây dựng trong một thời gian dài của
sản phẩm/dịch vụ nhượng quyền đó sụp đổ.
- Về mặt nội dung của khái niệm “quyền thương mại”. Nội dung của khái
niệm này tuỳ thuộc vào từng loại hình NQTM và sự thoả thuận của các bên mà
“rộng, hẹp” khác nhau. Đây là một khái niệm trừu tượng, có mối liên hệ đặc biệt
đối với các đối tượng của SHTT. Theo cách hiểu NQTM là nhượng quyền
phương thức kinh doanh thì quyền thương mại không chỉ dừng ở việc sử dụng
tên thương mại, kiểu dáng thiết kế của hàng hoá mà còn mở rộng không ngừng
bao gồm nhiều quyền năng khác trong hoạt động kinh doanh [18]. Cũng như các
quan hệ khác, NQTM càng phát triển mở rộng thì khả năng chứa đựng nhiều
mâu thuẫn, tranh chấp càng cao. Sở dĩ như vậy là do, bản thân “quyền thương
mại” đã liên quan đến lợi ích thiết thân của một nhà kinh doanh. Việc nhượng
lại quyền thiết thân này cho một chủ thể kinh doanh khác để cùng kinh doanh,
cùng chia sẻ những lợi thế mà quyền kinh doanh đem lại, vì thế, chắc chắn sẽ
gây ra không ít tranh chấp.Vì đặc điểm này mà hoạt động NQTM phải được
pháp luật điều chỉnh .
- Về tính gắn kết của các bên trong hợp đồng NQTM. NQTM luôn tồn tại
mối quan hệ mật thiết giữa BNQ và BNhQ. Trong NQTM sự gắn bó của BNhQ
và BNQ là vô cùng chặt chẽ. Bởi NQTM về bản chất là sự nhân rộng một mô
hình kinh doanh đã thành công, BNhQ được BNQ chia sẻ các công thức kinh
doanh, các bí quyết kinh doanh, phương thức kinh doanh của BNQ nhằm tạo ra
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
với mô hình này. Ví dụ đối với thương hiệu Phở 24 - là thương hiệu khi nhượng
quyền còn cần xem xét đến cả mặt bằng kinh doanh, để có được mặt bằng kinh
doanh đạt tiêu chuẩn chủ thương hiệu này đã phải mất một thời gian mới có thể
đưa được sản phẩm của mình phát triển ra miền Bắc. Đấy là chỉ trong nội bộ
một quốc gia, chưa kể đến khi muốn phát triển mở rộng thị trường ra nước ngoài
thì rất khó để Phở 24 có thể tìm được mặt bằng ưng ý, thuê hoặc mua được mặt
bằng đó tại nước sở tại để phát triển kinh doanh. Còn rất nhiều khó khăn nữa mà
khi muốn trực tiếp kinh doanh sẽ rất khó cho một doanh nghiệp nhỏ và vừa. Có
nhiều cách thức mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn nhằm khắc phục những
khó khăn đó và NQTM là một phương pháp phù hợp.
- Khi thực hiện NQTM, BNQ sẽ nhận được một khoản phí nhất định.
Khoản phí này có thể là phí nhượng quyền ban đầu mà nhà nhận quyền phải trả
để được tham gia vào hệ thống nhượng quyền. Ngoài khoản phí tham gia hệ
thống mà BNhQ phải trả, bên này còn phải trả những khoản phí khác như: phí
định kỳ thường xuyên cho đến hết thời gian tham gia hệ thống, các loại phí khác
cho các hoạt động hỗ trợ của BNQ,... Bởi vậy có thể dẫn đến tiết kiệm và phân
chia hiệu quả hơn một số loại chi phí mà BNQ vốn phải gánh chịu, như chi phí
quảng cáo, chi phí bảo vệ quyền SHTT, chi phí nghiên cứu phát triển sản
phẩm/dịch vụ,…Không những thế BNQ còn được hưởng lợi ích vô hình, tức là
việc tăng lên không ngừng của giá trị nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương
mại và các tài sản SHTT khác do sự phát triển của mạng lưới NQTM mang lại.
- BNhQ là bên trực tiếp kinh doanh tại khu vực nhượng quyền nên BNQ
không cần phải quá lo lắng về sự am hiểu phong tục, tập quán, thói quen của
người tiêu dùng tại khu vực đó. Nhờ vào kiến thức kinh doanh mà các BNhQ có
được trên thị trường riêng của mình mà một mạng lưới sẽ có khả năng dễ dàng
tương thích với những gò bó, những đặc điểm của kinh tế địa phương và nhu cầu
đặc trưng của mỗi thị trường hơn là hệ thống chi nhánh. Từ đó giúp nâng cao
khả năng thành công của hệ thống NQTM hơn.
Điều này nếu không được chủ thương hiệu phát hiện sớm sẽ có nguy cơ làm mất
uy tín của thương hiệu. Hay đôi khi chỉ là thái độ thiếu lịch sự của một nhân
viên một cửa hàng franchise hay vết bẩn trong món ăn dẫn tới tổn hại chung cho
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cả thương hiệu và các đối tác trong hệ thống. Trong những năm đầu do là đơn vị
đi tiên phong trong lãnh vực franchise tại Việt Nam nên Trung Nguyên đã khá
bối rối trong hướng đi của mình và nếu không muốn nói là quá dễ dãi trong việc
bán franchise nên dẫn đến hiện trạng là có quá nhiều cà phê mang cùng nhãn
hiệu Trung Nguyên nhưng không cùng một đẳng cấp. Nói cách khác Trung
Nguyên rơi vào tình thế mất kiểm soát chất lượng và tính đồng bộ của mình vì
bắt đầu bán franchise với số lượng lớn khi chưa có đủ sự chuẩn bị. Thật vậy, có
quán thì khá bề thế, có quán lại quá xập xệ, khiêm tốn hay có quán có máy lạnh
phục vụ tốt, tay nghề khá và có quán thì tay nghề kém, bình dân, trang trí nội
thất cũng không được thực sự đồng bộ theo một chuẩn mực chung. Vì thế, từ
cuối năm 2002 Trung Nguyên đã cho mời chuyên gia người Úc sang để khắc
phục tình trạng này, nhưng trên thực tế để điều chỉnh lại hệ thống với hơn 400
quán cà phê trải dài khắp nước quả là một thách thức của người điều hành mỗi
quán cà phê và của người chủ thương hiệu nói chung.
1.3.2. Đối với BNhQ
* Ưu điểm của việc nhận quyền
Đối với bên này thì NQTM đem lại khá nhiều lợi ích. Điều này là do :
- Sức hấp dẫn của NQTM có thể tổng kết ở hai điểm căn bản: chi phí thấp
và ít rủi ro. BNhQ không phải tốn kém nhiều chi phí và thời gian vào việc xây
dựng mô hình kinh doanh, đào tạo đội ngũ quản lý hoặc xây dựng một thương
hiệu trên thị trường. Đối với việc tham gia vào hệ thống NQTM, BNhQ có thể
tiến hành kinh doanh ngay sau khi được nhượng “quyền thương mại”. Để bù đắp
vào khoản chi phí cho phí nhận NQTM, BNhQ tiết kiệm được rất nhiều chi phí
so với việc tự mình tham gia thị trường với thương hiệu và mô hình kinh doanh
riêng của mình. Hơn nữa, kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn, cung cấp
lập và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của chính mình thì doanh nghiệp sẽ phải
mất thời gian để chứng minh được uy tín của sản phẩm. Trong khi nếu nhận
NQTM doanh nghiệp sẽ nghiễm nhiên có được các khách hàng của hệ thống,
bởi lúc này sản phẩm hay dịch vụ của hệ thống đã được chứng minh bởi BNQ
và cả hệ thống trong thời gian trước khi BNhQ tham gia hệ thống.
- Khi kinh doanh các doanh nghiệp còn phải không ngừng nâng cao uy tín
và hình ảnh của mình trong mắt công chúng, điều này có thể thấy rõ khi Coca –
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cola đã là một nhãn hiệu nổi tiếng được phần lớn người tiêu dùng trên thế giới
biết đến nhưng vẫn tiếp tục các chiến dịch quảng cáo, khuyến mại của mình.
Nếu doanh nghiệp của bạn nhỏ, vốn đầu tư hạn chế bạn rất khó để có thể thường
xuyên quảng cáo, tiếp thị cho sản phẩm/dịch vụ của mình, nhất là trong thời đại
ai ai cũng nhìn thấy sức mạnh của quảng cáo như ngày nay. Nếu bạn là một
thành viên của hệ thống NQTM, bạn chỉ cần đóng một lượng phí nhỏ hơn rất
nhiều mà lại được quảng cáo thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại
chúng.
* Thách thức của việc nhận franchise
- Đối với BNhQ thì mặc dù có tính tự chủ tương đối nhưng bởi vì đặc
trưng của NQTM là chia sẻ cùng sử dụng “quyền thương mại” nên để bảo vệ uy
tín của thương hiệu, để tránh sự sụp đổ của cả hệ thống mà BNhQ vẫn phải chịu
các ràng buộc, hạn chế nhất định liên quan đến hoạt động kinh doanh, cạnh
tranh, hay chuyển giao doanh nghiệp từ BNQ, không hoàn toàn được tự do
quyết định hay thay đổi tất cả những gì nằm trong cửa hàng của mình. Ví dụ như
phần trang trí nội thất, thực đơn, đồng phục, giờ hoạt động của cửa hàng phải
đồng bộ với các cửa hàng khác trong cùng hệ thống franchise, BNhQ không thể
tự tiện thêm bớt các ý tưởng của riêng mình. Bởi những quy định này được áp
dụng chung cho cả hệ thống NQTM nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của
chuỗi cửa hàng NQTM. Không những thế để hạn chế tới mức tối đa các nhược
điểm của NQTM, BNQ thường buộc BNhQ phải chấp nhận những HCCT nhất
tiêu dùng được bảo vệ tăng lên, bởi nếu có điều gì đó xấu xảy ra thì với một
tiềm lực mạnh và vì uy tín của thương hiệu mà chủ thương hiệu sẽ cố gắng để
người tiêu dùng có thể phục hồi nhanh nhất, được người tiêu dùng ủng hộ, hơn
nữa vì thương hiệu của mình mà chủ thương hiệu sẽ hạn chế đến mức tối đa
những tác động xấu có thể ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
- Về sự phát triển của xã hội: NQTM giúp cho các doanh nghiệp mới
tránh được thất bại, nhờ thế lượng vốn được đầu tư hợp lý, các tình trạng xấu
như phá sản, vốn tồn đọng được giải quyết. BNQ khi kiểm soát được các tiêu
chuẩn đối với BNhQ thì uy tín được đảm bảo, lượng khách hàng tiêu dùng sản
phẩm/dịch vụ của mình được nâng cao, sẽ giúp cho BNQ yên tâm phát triển sản
phẩm phục vụ người tiêu dùng tốt hơn, đem lại lợi nhuận ngày càng tăng cho
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
BNQ. Đất nước có nhiều doanh nghiệp tham gia các hệ thống NQTM thành
công thì khả năng phát triển được tiềm lực kinh tế, tăng uy tín của mình trên
trường quốc tế, thu hút đầu tư, đời sống người dân được ổn định càng tăng cao.
- Về nền kinh tế: Nền kinh tế theo sự phát triển của NQTM sẽ cũng được
phát triển cả về bề rộng và chiều sâu. Khi NQTM phát triển sẽ kích thích cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp nhượng quyền, các doanh nghiệp này để cạnh tranh
với nhau sẽ cố gắng tìm cách nâng cao uy tín doanh nghiệp, để được nhiều
thương nhân khác chú ý tham gia vào hệ thống nhượng quyền của mình. BNQ
ngày càng mở rộng hệ thống kinh doanh và ngày càng tiếp nhận thêm nhiều
BNhQ mới, vì thế, sự sôi động của nền kinh tế càng được thúc đẩy bởi sự gắn
bó, sự liên kết bằng lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh trong hoạt động NQTM.
* Ảnh hưởng xấu tới thị trường
- Do tính chất của hoạt động NQTM mà các bên chủ thể thường xây dựng
các thoả thuận có tính chất HCCT. Những quy định HCCT như vậy trong
NQTM trong một chừng mực nhất định có thể bị lạm dụng bởi các bên, nhất là
bởi BNQ, và có thể vi phạm PLCT. Bởi nó tác động xấu tới cạnh tranh trên thị
trường, có thể hạn chế các doanh nghiệp khác tham gia thị trường, không
trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động NQTM.
Hoạt động NQTM chính là hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh
doanh, bởi thế nên pháp luật về NQTM chính là một bộ phận cấu thành nên hệ
thống pháp luật thương mại. Trong vị trí ấy, pháp luật về NQTM có những vai
trò sau:
- Thứ nhất, pháp luật về NQTM có vai trò tạo hành lang pháp lý cho hoạt
động NQTM diễn ra một cách lành mạnh.
Pháp luật về NQTM sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động
NQTM. Họ sẽ thấy hoạt động kinh doanh của mình được pháp luật thừa nhận,
bảo vệ và khuyến khích, từ đó họ sẽ mạnh dạn trong kinh doanh hơn, mở rộng
quy mô, tìm nhiều đối tác để nhượng quyền,…Không những thế, pháp luật với
chức năng tiên liệu trước được các quan hệ xã hội có thể phát sinh, các tình
huống có thể xảy ra, có thể giúp doanh nghiệp căn cứ vào đó tránh được những
sai sót không đáng có. Pháp luật sẽ có những hướng dẫn đứng mực cho các chủ
thể kinh doanh để họ có thể đi đến thành công trong việc áp dụng phương thức
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
kinh doanh NQTM. Mặt khác, pháp luật về NQTM lại là công cụ trong tay Nhà
nước để duy trì hoạt động NQTM diễn ra một cách lành mạnh bằng việc kiểm
soát các hành vi có thể làm biến dạng cạnh tranh, làm mất đi động lực phát triển
của nền kinh tế. Vai trò lớn nhất của pháp luật về NQTM là đảm bảo được chức
năng điều tiết các hoạt động NQTM, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển một
cách phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường, xác lập các hoạt động kinh
doanh công bằng.
- Thứ hai, pháp luật về NQTM bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tham
gia quan hệ nhượng quyền và lợi ích của toàn xã hội.
Đây là vai trò không chỉ của pháp luật NQTM mà là của cả hệ thống pháp
luật. Pháp luật về NQTM khi điều chỉnh quan hệ NQTM luôn dung hoà lợi ích
của các bên để tránh lợi ích của người này ảnh hưởng xấu tới lợi ích của người
khác. Khi pháp luật đã đảm bảo được lợi ích của các bên thì sẽ góp phần nâng
Kinh nghiệm pháp luật các nước cho thấy việc quy định cụ thể một dạng
điều khoản nào đó trong hợp đồng NQTM là vi phạm PLCT đều có thể dẫn tới
hậu quả bóp méo hoạt động này. Do đó, việc phải thiết lập các quy định linh
hoạt phù hợp với cả PLCT và pháp luật về NQTM là cực kỳ cần thiết. Sự linh
hoạt này phải thực hiện được mục tiêu ngăn chặn sự lạm dụng quyền độc quyền
nhưng không ảnh hưởng đến việc khuyến khích phát triển hoạt động NQTM.
NQTM đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế bằng việc phổ biến các
phát minh, sáng kiến, phương thức kinh doanh thành công qua đó làm giảm các
tiêu cực của nền kinh tế thị trường như phá sản và việc khuyến khích các thành
viên mới gia nhập thị trường. Điều này dẫn đến sự khai thác có hiệu quả các
thành quả của SHTT và kinh nghiệm kinh doanh. Chủ sở hữu thương hiệu nói
chung thường không thể tự mình phát triển việc kinh doanh rộng khắp thông qua
việc khai thác giá trị quyền SHTT mà không giao kết các hợp đồng NQTM.
NQTM cũng góp phần làm tăng giá trị của quyền thương mại thông qua việc
chia sẻ chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm, chi phí giới
thiệu các cải tiến mới và thông qua đó làm gia tăng thu nhập của các bên. Chính
vì vậy, NQTM phải được khuyến khích, dù đó là NQTM giữa các đối thủ cạnh
tranh. Mặt khác như đã đề cập đến ở trên, những quy định HCCT trong các thoả
thuận nhượng quyền có thể bị lạm dụng bởi các bên, gây ảnh hưởng đến quy
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
luật cạnh tranh của thị trường mà sau cùng là ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường,
bóp méo thị trường.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật về NQTM và pháp luật về
cạnh tranh đều là những bộ phận của hệ thống pháp luật thương mại, vì thế giữa
chúng có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau. Hay nói theo quan điểm triết
học Mác Lênin thì pháp luật về NQTM và pháp luật về cạnh tranh là hai cái
riêng trong một cái chung là hệ thống pháp luật thương mại. Vì thế việc nghiên
cứu mối quan hệ giữa chúng là việc nên làm, bởi vì “…bất cứ cái riêng nào cũng
nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung…” [10]. Để có thể hoàn chỉnh hệ thống
tích những nội dung cơ bản của việc áp dụng PLCT của Mỹ và EU trong hoạt
động NQTM; xem xét và so sánh với những quy định hiện hành của pháp luật
Việt Nam trong lĩnh vực này. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng có
hiệu quả PLCT trong hoạt động NQTM ở Việt Nam.
CHƯƠNG II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
1. Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật Cạnh tranh ở một số
nước trên thế giới
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
NQTM là phương thức kinh doanh đặc biệt có liên quan đến các khía
cạnh SHTT. Vì vậy, xem xét hoạt động này dưới góc độ PLCT, sẽ không đề cập
tới các hành vi HCCT khác mà mục tiêu chủ yếu không liên quan trực tiếp đến
quyền SHTT như tập trung kinh tế. Mặt khác, trong hợp đồng NQTM có những
quy định vốn là thể hiện bản chất của NQTM nhưng nếu xem xét dưới góc độ
PLCT lại có thể là vi phạm PLCT – đây chính là những điều mà luận văn muốn
tìm hiểu để có thể giúp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về NQTM nói riêng
và hệ thống pháp luật về thương mại của Việt Nam nói chung. Do đó, nên những
hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ không được nhắc đến trong luận văn, dù
chúng cũng là đối tượng điều chỉnh của PLCT và cũng có thể tồn tại trong hoạt
động NQTM như mọi hoạt động kinh tế khác.
Luật kinh doanh của nhiều quốc gia trên thế giới cấm chủ thương hiệu bắt
buộc đối tác mua franchise phải mua hàng do chính mình cung cấp trừ khi mặt
hàng đó không thể tìm mua ở các nguồn cung cấp khác. Coca-Cola là một
trường hợp điển hình khi lúc nào cũng yêu cầu đối tác mua franchise phải mua
nguyên liệu với công thức bí mật từ công ty mẹ - chủ thương hiệu. Một trường
hợp khác là Mc Donald’s: Mc Donald’s còn độc quyền cung cấp cho cả hệ thống
franchise một số mặt hàng chiến lược như máy xay sinh tố đa năng, khoai tây
chiên, phomát và bánh táo chiên. Hay chuỗi cửa hàng tiện ích 7-to-Eleven tính
được cho phép trong một chừng mực mà tại giới hạn đó chúng liên quan đến sự
cần thiết bảo vệ quyền SHTT của BNQ.
- Những hạn chế mà các bên không thể đưa vào trong hợp đồng.
Vậy những điều khoản mang tính HCCT nào của các bên chủ thể của hợp
đồng là vi phạm PLCT, những điều khoản nào là không vi phạm PLCT, và
những điều khoản nào mà sự vi phạm hay không vi phạm PLCT còn tuỳ từng
trường hợp? Dưới đây, sẽ trình bày một số án lệ điển hình của EU và Mỹ, để
qua đó tìm hiểu những quy định nào trong hợp đồng NQTM của các bên chủ thể
theo quy định của pháp luật các nước này là vi phạm, không vi phạm, và thuộc
vi phạm nhưng được miễn trừ.
1.1. NQTM dưới góc độ PLCT của Liên minh Châu Âu EU
Tính đến thời điểm hiện tại thì án lệ Pronuptia [35] là án lệ cơ bản của
Toà án tư pháp Châu Âu (ECJ) giải quyết về NQTM dưới góc độ PLCT.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đối tượng của vụ kiện là việc giải thích Điều 85 của Hiệp ước EEC và
Quy định số 67/67/EEC ngày 22/03/1967 của Uỷ ban Châu Âu hướng dẫn áp
dụng Điều 85(3) của Hiệp ước đối với một số hợp đồng kinh doanh độc quyền.
Các câu hỏi của Toà xét xử nhằm khẳng định liệu những căn cứ pháp lý
đang được áp dụng có phù hợp với hợp đồng NQTM hay không. Các câu hỏi
này phát sinh trong quá trình xét xử tranh chấp giữa Pronuptia de Paris GMBH -
một công ty con trực thuộc công ty Pháp có cùng tên, với bà Schillgalis - một
nhà kinh doanh tại Hamburg dưới tên Pronuptia de Paris về nghĩa vụ thanh toán
khoản nợ phí nhượng quyền trên doanh số bán hàng của BNhQ từ năm 1978 đến
năm 1980. Công ty Pronuptia tại Pháp kinh doanh trong lĩnh vực phân phối áo
cưới và trang phục cưới với thương hiệu Pronuptia de Paris. Ở Cộng hòa liên
bang Đức, những sản phẩm này được phân phối thông qua các cửa hiệu dưới sự
điều hành trực tiếp của các công ty con và các cửa hiệu thuộc các nhà bán lẻ độc
lập theo hợp đồng NQTM được ký với BNQ hoặc với công ty mẹ do BNQ đại
diện.
Pronuptia đã từng có bất kì hình thức đại diện nào;
- Thứ bảy, BNhQ không được chuyển giao cho bên thứ ba những quyền
và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng NQTM hoặc tự chuyển giao công việc kinh
doanh mà không có sự đồng ý trước của BNQ.
Tại phiên toà sơ thẩm, phán xét của toà đi ngược lại với quyền lợi của
BNhQ liên quan tới khoản nợ 158.502 Mark - khoản tiền phí hoa hồng nhượng
quyền tính trên doanh số của BNhQ từ năm 1978 tới năm 1980. BNhQ kháng án
lên Toà Oberlandesgericht của Frankfurt. Tại phiên toà này, để lẩn tránh thanh
toán khoản nợ hoa hồng nhượng quyền, BNhQ lập luận rằng các hợp đồng được
ký trái với Điều 85(1) của Hiệp ước EEC và không thuộc diện miễn trừ chung
vốn được áp dụng với nhóm các hợp đồng kinh doanh độc quyền theo Quy định
số 67/67. Với phán quyết ngày 02/12/1982, Toà Oberlandesgericht của
Frankfurt đã ủng hộ lập luận của BNhQ. Toà này cho rằng các nghĩa vụ chung
giữa hai bên về cam kết loại trừ một số hoạt động đã tạo ra những hạn chế đối
với cạnh tranh trên khu vực thị trường chung Châu Âu, các tình huống này
không thoả mãn được tiêu chí miễn áp dụng quy định cạnh tranh theo Điều
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
85(3) Hiệp ước, vì thế ba hợp đồng NQTM này được coi là vô hiệu theo quan
điểm của Toà Frankfurt.
BNQ kháng cáo trước phán quyết của Toà Oberlandesgericht lên Toà xét
xử cấp liên bang. Toà Liên bang cho rằng kết luận phúc thẩm phụ thuộc vào
việc giải thích luật của Cộng đồng chung Châu Âu và do đó đặt ra một loạt các
câu hỏi, trong đó có câu hỏi liệu Điều 85(1) của Hiệp ước có được áp dụng với
các hợp đồng NQTM hay không.
Lập luận đưa ra là hình thức NQTM cho phép BNQ được hưởng lợi từ
những thành công của chính anh ta, và vì vậy tự nó không can thiệp tới sự cạnh
tranh trên thị trường. Để hệ thống NQTM hoạt động được, cần có hai điều kiện:
(i) Một là, BNQ phải có khả năng truyền đạt bí quyết của mình cho các BNhQ
và cung cấp cho họ những trợ giúp cần thiết để tạo điều kiện áp dụng được