ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỖ TUYẾT NHUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG
1.2.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại
24
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại
26
1.2.3. Sơ lược về pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại
ở Việt Nam
32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP
ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
36
2.1. Khái niệm và phân loại hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
37
2.1.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
37
2.1.2. Phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại
40
2.2. Chủ thể của hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
42
2.3. Nội dung và hình thức của hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại
47
2.3.1. Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại
47
2.3.2. Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại
58
2.4. Một số vấn đề pháp lý liên quan giữa pháp luật hợp đồng nhƣợng
quyền thƣơng mại với pháp luật Sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh
tranh
59
2.4.1. Một số vấn đề pháp lý liên quan giữa pháp luật hợp đồng nhượng
quyền thương mại với pháp luật Sở hữu trí tuệ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Được biết đến như là một trong những phương thức kinh doanh hữu hiệu,
mang lại danh tiếng và lợi nhuận cho các thương nhân cũng như sự tăng trưởng
vững chắc cho cả nền kinh tế, nhượng quyền thương mại (franchising) đã ngày
càng khẳng định được vị trí vai trò của mình trong đời sống thương mại của các
quốc gia trên thế giới. Ở Mỹ vào năm 2001, có khoảng 800.000 cơ sở kinh doanh
theo phương thức franhchise với hơn 10 triệu nhân công và 625 tỷ USD doanh
số. Tại Trung Quốc, trong hai năm 2002, 2003 số các cửa hàng nhận quyền
thương mại đã lên tới 70.000 với doanh số bán hàng chiếm 7.8% doanh số toàn
quốc [22]. Trên bình diện toàn thế giới, doanh thu từ hoạt động kinh doanh
nhượng quyền thời điểm năm 2000 đạt 1.000 tỷ USD với khoảng 320.000 doanh
nghiệp từ 75 ngành nghề khác nhau [32, tr.28].
Ở Việt Nam, hoạt động nhượng quyền thương mại trong những năm gần
đây đang có xu hướng phát triển nhanh. Hàng loạt các doanh nghiệp có tên tuổi ở
Việt Nam đã tiến hành nhượng quyền thương mại ở trong và ngoài nước. Những
cái tên như Cà Phê Trung Nguyên, Phở 24, AQ Silk, Kinh Đô Bakery, Thời
trang Foci…đã trở nên quen thuộc với nhiều người tiêu dùng. Với tốc độ tăng
trưởng kinh tế ổn định, lại là một trong bốn thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế
giới [31, tr.163], Việt Nam là mảnh đất hứa đầy tiềm năng cho sự phát triển của
hoạt động nhượng quyền thương mại. Điều này đã đặt ra cho Việt Nam những
thách thức lớn trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động
nhượng quyền thương mại - một điều kiện vô cùng quan trọng cho sự thành công
3
pháp luật số 7/2007, bài viết: “Một số vấn đề pháp lý về chủ thể của hợp đồng
nhượng quyền thương mại” của tác giả Vũ Đặng Hải Yến đăng trên tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp số 4/2008… Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách tổng thể và chuyên sâu về các vấn đề pháp lý có liên quan tới hợp đồng
nhượng quyền thương mại. Vì vậy, đây sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một
cách có hệ thống và toàn diện về hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp
luật Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu mà luận văn hướng tới là:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận hoạt động nhượng quyền thương mại và pháp
luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.
- Phân tích thực trạng thực trạng pháp luật hợp đồng nhượng quyền
thương mại ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những ưu điểm cũng như những mặt
hạn chế, còn tồn tại trong các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng nhượng
quyền thương mại.
- Đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
thi của pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm về hoạt động nhượng
quyền thương mại và pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại, các văn bản
pháp luật của Việt Nam điều chỉnh về quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương
mại; một số kinh nghiệm pháp luật quốc tế trong việc quy định về hợp đồng
nhượng quyền thương mại. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
được thừa nhận là khởi nguồn và phát triển tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi
mà Nhà máy Singer (sản xuất máy khâu) ký kết hợp đồng nhượng quyền kinh
doanh đầu tiên cho đối tác của mình. Franchise thực sự phát triển mạnh, bùng
phát kể từ sau năm 1945 (khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc), với sự ra đời
của hàng loạt hệ thống nhà hàng, khách sạn và các hệ thống kinh doanh, phân
phối theo kiểu bán lẻ, mà sự đồng nhất về cơ sở hạ tầng, thương hiệu, sự phục vụ
là đặc trưng cơ bản để nhận dạng những hệ thống kinh doanh theo phương thức
này. Phương thức kinh doanh nhượng quyền thương mại đã mang lại danh tiếng,
sự thành công và niềm tự hào cho nhiều doanh nhân nước Mỹ. Người ta không
thể không nhắc đến các thương hiệu đã trở thành biểu tượng của văn hóa Mỹ
thông qua hoạt động nhượng quyền như McDonald’s, KFC, Holiday Inn, Dairy
Qeen, 7-Eleven, Subway…
Từ Mỹ, nhượng quyền thương mại đã phát triển rộng khắp trên quy mô
toàn cầu. Ở Châu Âu, hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển khá mạnh 6
từ những năm 1980 do nhu cầu hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng, quá trình đô
thị hóa ngày càng mở rộng. Đến năm 1998, theo số liệu thống kê của Châu Âu
thì toàn Châu Âu có tổng cộng 3.888 hệ thống nhượng quyền với 167.432 cửa
hàng nhượng quyền, đóng góp khoảng 95 tỉ Euro doanh số và tạo ra hơn 1,5 triệu
việc làm cho người dân các nước Châu Âu [32, tr.28].
Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc
gia đã có các chính sách khuyến khích phát triển franchise. Hoa Kỳ là quốc gia
đầu tiên luật hoá franchise và có các chính sách ưu đãi cho những cá nhân, doanh
nghiệp kinh doanh theo phương thức franchise. Chính phủ các nước phát triển
khác như Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các
chính sách thúc đẩy, phát triển hoạt động franchise, khuyến khích và hỗ trợ cho
doanh nghiệp trong việc bán franchise ra nước ngoài. Nhiều trung tâm học thuật,
nghiên cứu chính sách về franchise của các chính phủ, tư nhân lần lượt ra đời,
Năm 1994, ghi nhận sự ra đời của một tổ chức franchise uy tín khác, đó là Hội
đồng nhượng quyền thương mại Thế giới (World Franchise Council) với thành
viên là hiệp hội nhượng quyền thương mại của nhiều quốc gia khác nhau. Thông
qua các tổ chức này, nhiều hoạt động có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh
tế quốc gia đã được thực hiện như: tổ chức các hội chợ franchise quốc tế; xây
dựng niên giám franchise khu vực và trên toàn thế giới; hợp tác xuất bản các ấn
phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp thông tin cho mọi cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp quan tâm đến franchise ;tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển
phương thức kinh doanh franchise. Với việc ra đời các tổ chức, hiệp hội cũng
như các chính sách phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại của Chính 8
phủ các nước đã cho thấy sự lớn mạnh và vai trò to lớn của hoạt động này đối
với sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
1.1.1.2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển của hoạt động nhượng
quyền thương mại ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hoạt động nhượng quyền thương mại thực ra đã có mặt từ
trước năm 1975 thông qua hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm của các
trạm xăng dầu của Mỹ như Mobil, Exxon (Esso), Shell và các đại lý bảo dưỡng ô
tô, xe máy, sau đó là sự xuất hiện của các chuỗi cửa hàng rửa tráng phim ảnh
Kodak, Fuji, Konia…[31, tr.153]. Tuy nhiên, phải đến những năm 1990, nhượng
quyền thương mại mới chính thức được ghi nhận ở nước ta. Dù ra đời khá muộn
song nhượng quyền thương mại ở Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ rất
nhanh. Theo thống kê của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới năm
2004, Việt Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền hoạt động, trong đó phần
lớn là các thương hiệu nước ngoài. Đến năm 2006, có khoảng 530 hồ sơ đăng ký
nhượng quyền thương mại trong nhiều lĩnh vực khác nhau [31, tr.154].
Thị trường Việt Nam đã ghi nhận sự thành công của rất nhiều thương hiệu
nước ngoài khi tiến hành nhượng quyền ở Việt Nam. Có thể kể đến trong lĩnh
nhà hàng được thành lập vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi thành
lập, Phở 24 đã nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường trong nước và phát triển
trên phạm vi quốc tế. Với cách thức nhượng quyền bài bản, được chuẩn bị chu
đáo, cụ thể đến từng khâu, từng chi tiết, Phở 24 đã xây dựng 50 cửa hàng
nhượng quyền trong và ngoài nước tính đến ngày 20/3/2007 [31, tr.266]. Tại
Diễn đàn doanh nghiệp toàn cầu (Singapore), Phở 24 đã vinh dự lọt vào vòng 10
chung khảo “Giải thưởng quốc tế về nhượng quyền” do Hiệp hội nhượng quyền
châu Á - FLA (Franchising & Licensing Asia) tổ chức.
Sau thành công của Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, các doanh nghiệp khác
ở Việt Nam đã nhận ra tính ưu việt nổi trội của phương thức kinh doanh nhượng
quyền và áp dụng theo mô hình này. Hệ thống siêu thị bán lẻ G7 Mart đã hình
thành và phát triển với số lượng 500 cửa hàng. Công ty Kinh Đô Barkery đã có
100 cửa hàng nhượng quyền chính thức sau 3 năm kể từ khi cửa hàng nhượng
quyền đầu tiên đi vào hoạt động vào năm tháng 10/2007. Công ty TNHH AQ
Silk đã nhượng quyền thành công thương hiệu của mình tại Mỹ với giá 100.000
USD…
Như vậy, có thể thấy, sự xuất hiện của hoạt động nhượng quyền thương
mại ở Việt Nam là khá muộn so với các nước trong khu vực và trên thế giới,
song với những bước đi đầu tiên đã được khẳng định sẽ báo hiệu làn sóng
nhượng quyền diễn ra mạnh mẽ trong thời gian tới. Cùng với sự phát triển đó,
việc hoàn thiện pháp luật nhượng quyền thương mại nói chung và pháp luật về
hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng càng trở nên có ý nghĩa.
1.1.2. Quan niệm về nhƣợng quyền thƣơng mại
Dù đã xuất hiện khá lâu trong đời sống thương mại ở nhiều quốc gia trên
thế giới, song cho đến nay, nhượng quyền thương mại vẫn chưa có một khái
niệm chung thống nhất. Tùy theo góc độ tiếp cận, chế độ kinh tế, chính trị của
mỗi quốc gia, mỗi tổ chức mà các quan niệm, định nghĩa về nhượng quyền
và bên nhận quyền. Hai bên này có sự ràng buộc lẫn nhau về nghĩa vụ. Bên giao
phải có nghĩa vụ đề xuất hoặc duy trì sự quan tâm liên tục đến bên nhận quyền. 12
Ngược lại, bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu, phương thức kinh doanh
của bên giao, phải chịu sự kiểm soát của bên giao và chịu chi phí cho sự đầu tư
vào doanh nghiệp mình để tiến hành kinh doanh.
Cũng tiếp cận dưới góc độ pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương
mại, Bộ luật dân sự Nga định nghĩa bản chất pháp lý của hoạt động này như sau:
“Theo Hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên (bên có quyền) phải
cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn,
hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh
của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao
gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật
kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng
khác như nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ.”[31, tr.21].
Quan niệm này đã cụ thể hơn về đối tượng của hợp đồng là một tập hợp
các quyền độc quyền của bên có quyền gồm quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn
thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ. Khái
niệm này cũng đã làm rõ nghĩa vụ phải trả một khoản thù lao của bên sử dụng
(bên nhận quyền) cho bên có quyền (bên nhượng quyền) đồng thời xác định việc
chuyển giao có thể theo một thời hạn hoặc không có thời hạn tùy theo sự thỏa
thuận của các bên.
Theo Bộ Quy chế của Châu Âu về nhượng quyền thương mại do Hiệp hội
Châu Âu về nhượng quyền thương mại ban hành và có hiệu lực từ ngày
1/1/1992, hoạt động nhượng quyền thương mại được gọi bằng một tên khác là:
chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu và được định nghĩa:
“Chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu được định nghĩa là một hệ
thống thương mại hóa các sản phẩm và/hoặc các dịch vụ và/hoặc các công
14
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh.”
Như vậy, cho dù dưới những cách tiếp cận khác nhau, ở những tổ chức,
quốc gia khác nhau, nhưng tựu chung lại, có thể rút ra một số những dấu hiệu cơ
bản để nhận diện hoạt động nhượng quyền thương mại như sau:
(i) Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, được thực
hiện bởi ít nhất hai bên chủ thể khác nhau và độc lập với nhau về mặt pháp lý:
bên nhượng quyền và bên nhận quyền.
(ii) Đối tượng của nhượng quyền thương mại là quyền thương mại. Quyền
thương mại được hiểu là quyền tiến hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo
cách thức của bên nhượng quyền quy định; cùng với đó là việc sử dụng một tập
hợp các dấu hiệu tập hợp khách hàng như: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại,
bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng
cáo…của bên nhượng quyền.
(iii) Để có quyền khai thác quyền thương mại của bên nhượng quyền, bên
nhận quyền phải trả một khoản phí cho bên nhượng quyền gọi là phí nhượng
quyền. Khoản phí này có thể bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng
quyền trả định kỳ dựa trên doanh thu hàng tháng, hàng năm của bên nhận quyền.
Bên nhận quyền cũng phải chịu mọi chi phí cho việc đầu tư ban đầu cho cửa
hàng nhận quyền của mình.
(iv) Bên nhận quyền và bên nhượng quyền dù là hai chủ thể độc lập nhưng
lại luôn tồn tại một mối quan hệ ràng buộc mật thiết với nhau trong suốt thời
gian nhượng quyền. Bên nhượng quyền tiến hành cung cấp tài liệu, đào tạo nhân
viên, thường xuyên hỗ trợ kỹ thuật cho bên nhận quyền. Ngược lại, bên nhận 15
quyền có nghĩa vụ chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và tuân thủ các yêu cầu về
thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của bên nhượng quyền.
thương mại - một loại tài sản vô hình. Đó là một thể thống nhất tạo nên bởi rất
nhiều các quyền tài sản khác nhau như quyền sử dụng các đối tượng của quyền
sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh,
công nghệ sản xuất…), quyền kinh doanh theo hệ thống vận hành với phương
thức quản lý, tiếp thị, đào tạo của bên nhượng quyền… Theo cách hiểu nhượng
quyền thương mại là nhượng quyền phương thức kinh doanh thì quyền thương
mại có lẽ không chỉ dừng ở đó mà còn được mở rộng không ngừng cùng với sự
phát triển đa dạng và nhiều biến đổi của hoạt động kinh doanh. Quyền thương
mại được mở rộng hay thu hẹp đến đâu là phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các
bên tham gia trong quan hệ nhượng quyền. Điều này đã tạo nên sự phong phú,
phức tạp của khái niệm quyền thương mại cũng như tạo ra nét đặc trưng riêng
biệt của hoạt động thương mại so với các hoạt động khác.
Thứ tư, về mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, luôn
tồn tại một mối quan hệ gắn bó mật thiết và liên tục trong suốt quá trình nhượng
quyền. Sự gắn bó mật thiết của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền được
thể hiện trên hai phương diện: vừa là mối quan hệ mang tính “hỗ trợ”, vừa là mối
quan hệ mang tính “kiểm soát”. Bên nhượng quyền hỗ trợ cho bên nhận quyền
trong việc đào tạo ban đầu, trợ giúp kỹ thuật thường xuyên để bên nhận quyền
điều hành hoạt động theo đúng cách thức, tiêu chuẩn của hệ thống nhượng quyền
đề ra. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này chỉ thực sự phát huy được hết ý nghĩa của nó khi
bên nhượng quyền có quyền năng kiểm soát bên nhận quyền, buộc bên nhận 17
quyền phải tuân thủ chặt chẽ mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền. Có như
vậy, bên nhượng quyền mới giảm thiểu được rủi ro trước nguy cơ bị giảm uy tín
thương mại do bên nhận quyền gây ra, bảo tồn và phát triển được thương hiệu
của mình.
Thứ năm, về hình thức của hoạt động nhượng quyền thương mại, từ thực
tiễn hoạt động của các bên tham gia quan hệ nhượng quyền thương có thể thấy
trực tiếp thì mô hình nhượng quyền có lẽ là phù hợp nhất do không phải bỏ vốn
mà lại bảo hộ và quảng bá được thương hiệu của mình.
Chủ thương hiệu hoàn toàn có thể cải thiện doanh số của mình bằng việc
nhượng quyền sử dụng thương hiệu và công thức kinh doanh - thứ tài sản vô
cùng quý giá của mỗi doanh nghiệp. Thông qua hình thức nhượng quyền, bên
nhượng quyền có thể nhận được các khoản tiền bao gồm: phí nhượng quyền ban
đầu (initial fee/upfront fee) là phí chỉ được tính một lần, phí hàng tháng (monthly
fee) có thể là một khoản phí cố định theo thỏa thuận của hai bên hoặc là tính theo
phần trăm doanh số của bên mua franchise, phí quảng cáo Ngoài ra, nhiều chủ
thương hiệu yêu cầu các đối tác mua franchise phải mua một số nguyên liệu đặc
thù do mình cung cấp, vừa để đảm bảo tính đồng bộ của sản phẩm, vừa mang lại
một nguồn lợi nhuận đáng kể.
Không những được tăng doanh thu, bên nhượng quyền còn được cắt giảm
các khoản chi phí đáng kể như chi phí về tiếp thị, quảng cáo, các khoản chi mua
nguyên liệu. Đối với các nguyên liệu đặc thù, doanh nghiệp nhượng quyền
thường có ưu thế mua với giá rẻ hơn do mua với số lượng hàng lớn để phân phối
cho các cửa hàng trong hệ thống nhượng quyền nhằm đảm bảo yêu cầu về chất 19
lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn đồng bộ của hệ thống. Ngoài ra, các chi phí về
tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết giảm nhờ ưu thế có thể chia nhỏ ra cho nhiều
đơn vị cùng kinh doanh dưới một nhãn hiệu chung.
Ngoài các lợi ích to lớn thu được trên khía cạnh tài chính thông qua việc
bán franchise, bên nhượng quyền còn san sẻ được một phần không nhỏ các khó
khăn, trở ngại trong việc tìm hiểu các vấn đề về địa lý, kiến thức và văn hóa địa
phương…ở các khu vực khác nhau sang cho bên nhận quyền. Để kinh doanh
thành công ở một khu vực lãnh thổ nhất định, bên nhận quyền ngoài các kiến
thức trong quản lý, điều hành doanh nghiệp còn phải rất am hiểu về thị hiếu, thói
quen, sở thích, văn hóa…tại khu vực địa lý đó. Chính các kiến thức địa phương
trường xuất hiện khá nhiều quán cà phê Trung Nguyên tồi tàn, xập xệ, chất
lượng và phong cách phục vụ kém xa so với tiêu chuẩn và đẳng cấp của Trung
Nguyên. Điều này đã gây ra những hiệu ứng xấu đối với hình ảnh của Trung
Nguyên, giá trị của thương hiệu vì thế cũng bị giảm sút.
1.1.4.2. Đối với bên nhận quyền
Sức hấp dẫn đối với bên nhận quyền khi tham gia vào quan hệ nhượng
quyền thương mại nằm ở chỗ bên nhận quyền không phải mất nhiều chi phí,
thời gian và công sức vào việc xây dựng một thương hiệu trên thị trường mà vẫn
được hưởng lợi từ thương hiệu của bên nhượng quyền. Với uy tín và danh tiếng
mà bên nhượng quyền đã gây dựng được, bên nhận quyền có một lượng khách
hàng nhất định ngay từ ban đầu. Hơn nữa, kinh doanh theo một mô hình có sẵn,
sản phẩm cũng như cách thức phục vụ đã được khẳng định trên thương trường,
việc kinh doanh của bên nhận quyền sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Điều này đã lý 21
giải được phần nào được tính an toàn cao của mô hình kinh doanh nhượng
quyền. Theo con số thống kê tại Mỹ thì trung bình có khoảng 23% doanh nghiệp
nhỏ kinh doanh độc lập có thể tồn tại sau năm năm kinh doanh, trong khi con số
này đối với các doanh nghiệp mua franchise là 92% [33, tr.24].
Đối với các doanh nghiệp mới lần đầu vào thương trường, lựa chọn
phương thức đầu tư nhượng quyền sẽ tránh được rất nhiều rủi ro. Vẫn không mất
đi tính tự chủ tương đối của mình, bên nhận quyền lại nhận được sự hỗ trợ, giúp
đỡ rất lớn về nhiều mặt từ bên nhượng quyền - điều mà các doanh nghiệp mới rất
cần. Với chi phí quảng cáo thấp do được san sẻ với nhiều cơ sở khác trong cùng
hệ thống, lại yên tâm kinh doanh với nhãn hiệu đã được bên nhượng quyền bảo
hộ, bên nhận quyền vừa tiết kiệm được khá nhiều chi phí, vừa hạn chế được
nhiều rủi ro trong kinh doanh. Đó cũng là những lợi thế không nhỏ mà bên nhận
quyền có được qua phương thức mua franchise.
Tuy nhiên, mặt khác, bên nhận quyền cũng phải đối mặt với những hạn
Hơn nữa, nhượng quyền thương mại là sợi dây gắn kết đưa các nền kinh tế
xích lại gần nhau hơn. Thông qua phương thức này, giữa các quốc gia có sự giao
lưu về mọi mặt trên các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Từ đó, góp
phần quan trọng vào việc thúc đầy tiến trình hội nhập toàn cầu hiện nay.
Đối với nền kinh tế còn nhiều bỡ ngỡ với hoạt động nhượng quyền thương
mại như Việt Nam, thông qua việc mua franchise của các thương hiệu quốc tế,
các doanh nghiệp Việt Nam có dịp để cùng chia sẻ lợi nhuận từ các thương hiệu
lớn. Đồng thời cũng mở ra những cơ hội mới cho các doanh nhân học hỏi, tiếp
cận với nhiều mô hình kinh doanh và cách thức quản lý tiên tiến, hiện đại trên