Lời nói đầu
Những tháng năm cuối cùng của thế kỷ 20 với những thành tựu to lớn
của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh
sự phát triển của lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và làm
chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia. Bên cạnh đó, sự phân
công lao động quốc tế theo những lợi thế so sánh tơng đối cũng tạo ra một
khối lợng ngày càng lớn các sản phẩm hàng hoá trao đổi giữa các quốc gia
với nhau. Kim ngạch thơng mại Thế giới hiện nay chiếm khoảng 33% tổng
sản lợng thế giới, có nghĩa là 1/3 sản lợng thế giới làm ra là để trao đổi giữa
các quốc gia với nhau.
ở Việt Nam, công cuộc đổi mới kinh tế khởi đầu từ năm 1986 đã đạt
đợc những tiến bộ quan trọng : chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền
kinh tế thị trờng và mở cửa hội nhập với nền kinh tế Thế giới. Nếu nh trong
thời kỳ bao cấp (1986 trở về trớc) quan hệ buôn bán của Việt Nam chủ yếu
tập trung vào một số nớc XHCN nh Liên xô (cũ) và các nớc Đông Âu thì
trong vòng hơn 10 năm trở lại đây Việt Nam đã có quan hệ th ơng mại với
hơn 100 nớc. Tính đến tháng 12 năm 1998 Việt Nam đã ký 65 Hiệp định Th-
ơng mại song phơng với các nớc ở hầu hết các châu á, châu Âu, châu Phi,
châu Mỹ và châu Đại dơng. Bên cạnh các Hiệp định song phơng Việt Nam
còn ký một số Điều ớc đa phơng: Hiệp định về buôn bán hàng dệt may Việt
Nam - Cộng đồng châu Âu (25/12/1992); Hiệp định khung hợp tác Việt Nam
- Cộng đồng châu Âu (17/7/1995); Gia nhập ASEAN (25/7/1995) và tham
gia CEPT (12/1995); Tham gia APEC ( 12/1998)....đó là những điều kiện
thuận lợi để nớc ta mở rộng buôn bán quốc tế và đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong 10 năm (1986 - 1996) là
78.055,8 triệu USD trong khi 10 năm trớc đó (1976 - 1985) tổng kim ngạch
1
xuất nhập khẩu chỉ là 18.773 triệu rup - USD (nguồn Thơng mại thời mở cửa
- Nhà xuất bản Thống kê 1996).
Từ sự phát triển của nền kinh tế hệ thống pháp luật cũng đã và đang
từng bớc đợc điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới. Các quy phạm pháp
Chơng III : Pháp luật Việt Nam về Hợp đồng mua bán ngoại
thơng: Thực trạng - Giải pháp.
3
Chơng I
Những vấn đề lý luận chung về HĐMBNT.
i. Những vấn đề lý luận về Hợp đồng mua bán hàng hoá
1. Khái niệm về Hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa có hai hình thức
kinh tế: kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa. Kinh tế tự nhiên là hình thức
sản xuất tự cung tự cấp, các sản phẩm làm ra chủ yếu dùng để thỏa mãn nhu
cầu của ngời sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế. Đối lập với hình thức kinh
tế này là kinh tế hàng hóa trong đó hàng hóa đợc sản xuất ra nhằm mục đích
mua bán , trao đổi để thoả mãn các nhu cầu của xã hội.
Các quan hệ trao đổi hàng hóa khi đợc điều chỉnh bởi Nhà nớc thì pháp
luật về hợp đồng ra đời.
Hợp đồng mua bán hàng hoá là một loại văn bản có tính chất pháp lý
đợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận một cách bình đẳng tự nguyện giữa các
chủ thể, nhằm xác lập, thực hiện chấm dứt một quan hệ trao đổi hàng hóa.
1. Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa
Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa là những dấu hiệu đặc trng
nhất giúp ta phân biệt đợc Hợp đồng mua bán hàng hóa với các loại hợp đồng
khác. Cụ thể :
- Mặc dù là một loại Hợp đồng kinh tế nhng chủ thể của
HĐMBNT chỉ cần là thơng nhân hay một bên là thơng nhân (điều 47 Luật
4
Thơng mại) chứ không quy định phải là các bên có t cách pháp nhân hay
ít nhất phải có Đăng ký kinh doanh nh điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
1989.
- Đối tợng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hoá theo qui
định tại khoản 3 điều 5 Luật Thơng mại. Hàng hóa theo điều khoản này đ-
ợc chuyển từ nớc này sang nớc khác; hoặc và
Chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể đợc lập ở những
nớc khác nhau.
Nếu các bên ký kết không có trụ sở thơng mại thì sẽ dựa vào nơi c trú
của họ. Vấn đề quốc tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định
yếu tố nớc ngoài trong hợp đồng mua bán ngoại thơng.
+ Công ớc Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán
quốc tế hàng hoá chỉ đa ra một tiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế
của hợp đồng mua bán ngoại thơng, đó là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở
thơng mại đặt ở các nớc khác nhau.
+ ở Pháp, khi xác định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán ngoại
thơng ngời ta căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý.
Theo tiêu chuẩn kinh tế: Một hợp đồng quốc tế là hợp
đồng tạo ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tơng
ứng giữa hai nớc.
Theo tiêu chuẩn pháp lý: một hợp đồng đợc coi là quốc tế
nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia
nh quốc tịch của các bên, nơi c trú của các bên, nơi c trú của các
bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán.
6
+ ở Việt Nam, trớc đây, HĐMBNT phải có ba điều kiện: chủ thể của
HĐMBNT phải là các bên có quốc tịch khác nhau; hàng hóa là đối tợng của
hợp đồng đợc chuyển từ nớc này sang nớc khác; đồng tiền thanh toán trong
hợp đồng là ngoại tệ với một trong hai bên ký kết (Phần I - Quy chế tạm thời
số 4794/TM-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thơng nghiệp (nay là Bộ Thơng
mại) ). Trong thực tiễn áp dụng pháp luật những quy định này đã bộc lộ
nhiều nhợc điểm của nó. Ví dụ : hàng hóa là đối tợng của HĐMBNT không
nhất thiết phải chuyển từ nớc này sang nớc khác trong trờng hợp có sự mua
bán hàng hóa giữa khu công nghiệp - khu chế xuất - khu công nghệ cao với
pháp nhân trong nội địa; hay trờng hợp một thơng nhân mang quốc tịch Việt
bên đơng sự hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận chọn nguồn áp dụng cho
quan hệ hợp đồng của mình. Nguồn luật đó có thể là luật quốc gia, điều ớc
quốc tế về thơng mại hoặc tập quán thơng mại quốc tế và thậm chí cả tiền lệ
pháp.
Song, điều quan trọng ở chỗ nên chọn nguồn luật nào, làm thế nào để
có thể chọn luật thích hợp nhất để bảo vệ đợc quyền lợi của mình. Vấn đề
này thật không đơn giản. Cần phải nghiên cứu tất cả các nguồn luật nói trên
và cách áp dụng cũng nh vai trò giá trị pháp lý của từng nguồn luật đối với
HĐMBNT.
a. Điều ớc quốc tế về thơng mại.
Điều ớc quốc tế về thơng mại là sự thoả thuận bằng văn bản đợc các
quốc gia ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng nhằm ấn định, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ buôn bán quốc
tế.
8
Điều ớc quốc tế về thơng mại, xét về mặt chủ thể ký kết, có thể có hai
loại là điều ớc quốc tế có tính chất song phơng và điều ớc quốc tế có tính
chất đa phơng; Xét về mặt phạm vi, quy mô ảnh hởng, có thể có điều ớc th-
ơng mại có tính chất khu vực và điều ớc thơng mại có tính chất toàn cầu; Xét
về mặt nội dung, có điều ớc quốc tế chuẩn tắc (là điều ớc định ra các quy tắc
có tính chất bắt buộc đối với các bên ký kết cũng nh với tự nhiên nhân, pháp
nhân của họ) và điều ớc sang tính thực chứng (là điều ớc thể chế hoá hoạt
động của các tổ chức quốc tế, các hội nghị quốc tế, các văn phòng, uỷ ban
mà điều ớc có đủ thẩm quyền đa ra nghị quyết, chỉ thị, quy tắc).
Vai trò, hiệu lực, tác dụng cũng nh mối quan hệ qua lại giữa các điều -
ớc thơng mại thế giới với luật quốc gia thờng do tính chất của các loại điều -
ớc nói trên quyết định.
Về tên gọi, các điều ớc quốc tế về thơng mại có thể đợc gọi là Hiệp
định thơng mại, Công ớc, Hiệp ớc ...
Một trong những điều ớc quốc tế quan trọng điều chỉnh lĩnh vực ký kết
thể đàm phán với nhau để thoả thuận chọn luật áp dụng.
- Khi luật đó đợc quy định trong các điều ớc quốc tế hữu quan. Điều
này có nghĩa là nếu trong các điều ớc quốc tế mà quốc gia mình đã tham gia
ký kết hoặc thừa nhận có quy định điều khoản về luật áp dụng cho các hợp
đồng mua bán quốc tế thì luật đó đơng nhiên đợc áp dụng.
Luật quốc gia đợc các bên lựa chọn có thể là luật nớc ngoài bán, luật
nớc ngoài mua, luật của nớc thứ ba hoặc cũng có thể là luật nơi ký kết hợp
đồng, luật nơi thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng ...
Trong trờng hợp luật Việt Nam là luật đợc áp dụng để điều chỉnh các
mối quan hệ về hợp đồng mua bán ngoại thơng thì chúng ta sẽ sử dụng các
quy định của pháp luật về mua bán hàng hoá để áp dụng.
c. Tập quán quốc tế về thơng mại.
10
Tập quán quốc tế về thơng mại cũng là nguồn của hợp đồng mua bán
ngoại thơng. Tập quán thơng mại là những thói quen thơng mại đợc công
nhận rộng rãi. Những thói quen thơng mại sẽ đợc công nhận và trở thành tập
quán thơng mại khi thoả mãn các yêu cầu:
- Là một thói quen phổ biến đợc nhiều nớc áp dụng và áp dụng thờng
xuyên.
- Về từng vấn đề và ở từng địa phơng, đó là thói quen độc nhất.
- Là một thói quen có nội dung rõ ràng mà dựa vào đó ngời ta có thể
xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Tập quán quốc tế về thơng mại sẽ đợc áp dụng cho hợp đồng mua bán
ngoại thơng trong các trờng hợp:
- Khi chính các bên quy định trong hợp đồng mua bán ngoại thơng.
- Khi các điều ớc quốc tế liên quan quy định.
- Khi luật nội dung (luật quốc gia) do các bên thoả thuận lựa chọn,
không có hoặc có nhng không đầy đủ, còn khiếm khuyết vấn đề tranh chấp,
về vấn đề cần đợc điều chỉnh.
Trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng, tập
Freight
Giá thành + Cớc vận chuyển
CIF: Cost Insurrance
and Freight
Giá thành + Bảo hiểm + cớc
vận chuyển
CPT: Carriage Paid
To
Cớc vận chuyển trả tới (2)
CIP: Carriage and
Insurrance Paid To
Cớc vận chuyển và phí bảo
hiểm trả tới
Nhóm D
Đến nơi
DAF: Delivered at
Frontier
Giao hàng tại biên giới
DES: Delivered
ExShip
Giao hàng trên tàu cảng đích
DEQ: Delivered
ExQuay
Giao hàng tại bến tàu cảng
đánh
DDU: Delivered Duty
Unpaid
Giao hàng cha trả hết thuế
DDP: Delivered Duty
Paid
pháp luật nơi c trú của đơng sự để xác định năng lực hành vi, bất kể quốc
tịch của đơng sự (ví dụ: Anh, Mỹ...). Vì vậy, khi ký kết hợp đồng mua bán
ngoại thơng cần phải tìm hiểu kỹ để xác định năng lực hành vi của tự nhiên
nhân. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên đơng sự, pháp luật nhiều
nớc quy định một số trờng hợp ngoại lệ không áp dụng pháp luật của nớc đ-
ơng sự là công dân hoặc của nớc nơi đơng sự c trú.Ví dụ, theo điều 7 Phần
mở đầu Bộ luật dân sự Đức, điều 23 Bộ luật dân sự Bồ Đào Nha, nếu đơng sự
không đủ năng lực hành vi ký kết hợp đồng theo pháp luật của nớc mà đơng
14
sự là công dân, nhng đủ năng lực hành vi theo pháp luật của nớc mà toà án
có thẩm quyền xét xử, thì hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý.
Đối với pháp nhân, muốn xem xét một tổ chức nớc ngoài nào đó ký
hợp đồng với phía Việt nam có đủ t cách pháp nhân hay không thì trớc tiên
phải tìm hiểu xem tổ chức đó thuộc quốc tịch nớc nào, việc xác định quốc
tịch của pháp nhân tạo cơ sở xác định nội dung quy chế pháp lý của pháp
nhân trong ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng. Theo pháp luật của Pháp,
của Đức và nhiều nớc khác, pháp nhân đặt trụ sở ở nớc nào thì mang quốc
tịch nớc đó, không phân biệt nơi đăng ký thành lập hay tiến hành hoạt động
của pháp nhân. Pháp luật của Anh và Mỹ lại quy định rằng quốc tịch của
pháp nhân tuỳ thuộc vào nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập, bất
kể nơi đặt trụ sở chính hoặc nơi hoạt động của nó. Pháp luật của một số n ớc
nh Ai cập, Xi-ri...quy định áp dụng nguyên tắc quốc tịch pháp nhân tuỳ
thuộc vào nơi đặt trung tâm hoạt động của pháp nhân, bất kể nơi đặt trụ sở
chính hoặc nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân khi thành lập. Do quy định của
pháp luật các nớc về nguyên tắc xác định quốc tịch pháp nhân không giống
nhau, trong thực tiễn không tránh khỏi trờng hợp một pháp nhân đợc hai hay
nhiều nớc coi là pháp nhân mang quốc tịch nớc mình. Điều này sẽ gây khó
khăn cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng. Để giải
quyết tình hình này các nớc thờng ký kết với nhau điều ớc quốc tế nhằm
thống nhất nguyên tắc xác định quốc tịch của pháp nhân.
Hợp đồng mua bán ngoại thơng chỉ có giá trị pháp lý khi nó đợc thực
hiện dới một hình thức nhất định. Pháp luật của đại đa số các nớc đều quy
định hợp đồng mua bán ngoại thơng chỉ có giá trị pháp lý về mặt hình thức
khi nó đợc thực hiện dới hình thức văn bản.
Điều 11 Công ớc Viên 1980 quy định: Không yêu cầu hợp đồng mua
bán phải đợc ký kết hoặc phải đợc xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ
một yêu cầu nào đó về mặt hình thức.... Việc quy định này nhằm đơn giản
16
hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể hợp đồng thuộc các nớc
thành viên Công ớc có thể giao kết hợp đồng một cách nhanh chóng. Mặc dù
vậy, điều 96 Công ớc Viên 1980 cũng quy định rõ: Nếu nớc thành viên nào
mà trong pháp luật nớc đó đòi hỏi hợp đồng phải đợc ký kết hoặc phê chuẩn
dới hình thức văn bản thì điều quy định này của pháp luật nớc thành viên đó
sẽ đợc bảo lu.
Về vấn đề này, pháp luật Việt nam quy định: hợp đồng mua bán ngoại
thơng phải đợc lập thành văn bản mới có hiệu lực; điện báo, telex, fax, th
điện tử và các hình thức thông tin điện tủ khác cũng đợc coi là hình thức văn
bản (khoản 3 điều 49 Luật Thơng mại ).
c. Nội dung của hợp đồng.
Nội dung của hợp đồng mua bán ngoại thơng là sự thể hiện thoả thuận,
biểu hiện ý chí tự nguyện của các bên chủ thể nhằm ấn định các quyền và
nghĩa vụ cụ thể của các bên đối với nhau. Tuy nhiên không phải bất cứ nội
dung nào do các bên thoả thuận đa vào hợp đồng cũng đợc coi là hợp pháp.
Hợp đồng mua bán ngoại thơng chỉ hợp pháp về nội dung khi nó chứa đựng
những điều khoản phù hợp với quy định của pháp luật.
Phần nội dung của hợp đồng thờng có các điều khoản sau:
- Đối tợng của hợp đồng: Hàng hoá theo hợp đồng là hàng hoá đợc
phép mua và bán theo quy định của pháp luật nớc bên mua và nớc bên bán.
Hàng hoá phải đợc ghi cụ thể, chính xác tên thờng gọi đối với hàng hoá đó,
có kèm theo tên thơng mại hoặc tên khoa học (nếu có) hoặc ghi kèm theo tên
khoản thanh toán, điều khoản bảo hiểm, điều khoản trọng tài...
Điều 50 Luật Thơng mại của Việt Nam quy định:
Hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dung sau:
1. Tên hàng
2. Số lợng;
18
3. Quy cách, chất lợng;
4. Giá cả;
5. Phơng thức thanh toán;
6. Địa điểm và thời gian giao nhận hàng.
Ngoài các nội dung chủ yếu quy định tại điều này các bên có thể thoả
thuận các nội dung khác trong hợp đồng.
d. Hợp đồng phải đợc ký kết trên cơ sở của nguyên tắc tự nguyện.
- Nguyên tắc tự nguyện cho phép các bên đợc hoàn toàn tự do thoả
thuận về mọi vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong
khuôn khổ pháp luật.
- Nguyên tắc tự nguyện loại bỏ tất cả các hợp đồng đợc ký kết trên cơ
sở dùng bạo lực, bị đe doạ, bị lừa bịp hoặc do có sự nhầm lẫn.
2. Ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng.
a. Hình thức, nội dung và trình tự đàm phán giao dịch.
* Về hình thức, đàm phán giao dịch có thể chia thành hai loại là: đàm
phán miệng và đàm phán giấy tờ. Đàm phán miệng chủ yếu là chỉ đàm phán
đối diện trên bàn đàm phán, nh tham gia các loại hội nghị giao dịch, hội nghị
đàm phán, nhóm buôn bán ra thăm nớc ngoài và mới khách tới đàm phán
giao dịch... Ngoài ra, đàm phán miệng cũng có thể đợc tiến hành giữa hai
bên thông qua điện thoại. Đàm phán giấy tờ là chỉ tiến hành đàm phán giao
dịch thông qua các phơng tiện thông tin nh th từ, điện báo, FAX... Thông qua
đàm phán miệng và đàm phán giấy tờ, sau khi hai bên đã đi tới thoả thuận về
mặt điều kiện giao dịch, thì có thể làm hợp đồng chính thức về mặt giấy tờ.
* Nội dung của đàm phán giao dịch có liên quan tới các điều khoản
hạn ngời báo giá chịu ràng buộc và thời hạn có hiệu lực để ngời nhận báo giá
20
chấp nhận. Song, quy định kỳ hạn có hiệu lực không phải là điều kiện tất yếu
cấu thành nên báo giá, nếu trong báo giá không quy định thời hạn có hiệu
lực, ngời nhận báo giá chỉ nên chấp nhận trong thời gian hợp lý, nếu không
thì vô hiệu. Cần xem xét tình hình cụ thể của giao dịch để quyết định thời
gian hợp lý, thờng là xử lý theo tập quán chung.
* Thời điểm có hiệu lực của báo giá và thu hồi báo giá.
Điều 15 Công ớc Viên 1980 quy định:
1. Báo giá có hiệu lực khi nó đợc gửi tới ngời nhận báo giá.
2. Báo giá, cho dù là không thể huỷ bỏ, vẫn có thể thu hồi lại,
nếu thông báo thu hồi đến tay ngời nhận báo giá trớc hoặc đồng thời khi báo
giá đến tay ngời nhận báo giá.
Theo điều 15 của Công ớc tuy báo giá đã đa ra, song trớc khi đến tay
ngời nhận báo giá sẽ không có sự ràng buộc đối với ngời báo giá. Ngời nhận
báo giá cũng chỉ sau khi nhận đợc báo giá rồi mới có thể xem xét tới vấn đề
chấp nhận hay không, nếu tỏ ra chấp nhận trớc thời điểm đó do dựa vào nghe
ngóng dù có trùng hợp cũng không có hiệu lực. Trờng hợp báo giá đã đến tay
ngời nhận báo giá, lúc này ngời báo giá có ý định thay đổi, thì không phải là
vấn đề thu hồi, mà là vấn đề hủy bỏ báo giá.
* Hủy bỏ báo giá.
Huỷ bỏ báo giá khác với thu hồi, huỷ bỏ báo giá là chỉ hành vi sau khi
báo giá đã đến tay ngời nhận báo giá và đã có hiệu lực, ngời báo giá lại
muốn huỷ bỏ báo giá này, xoá bỏ hiệu lực của nó.
Vấn đề có thể huỷ bỏ sau khi báo giá đã có hiệu lực hay không, luật
hợp đồng của các nớc có những quy định khác nhau khá lớn. Các nớc theo hệ
thống luật thông lệ (Common Law) cho rằng: về nguyên tắc báo giá không
có sự ràng buộc đối với ngời báo giá. Trớc khi đa ra chấp nhận, ngời báo giá
có thể huỷ bỏ báo giá hoặc thay đổi nội dung vào bất cứ lúc nào; trờng hợp
21
đồng, tức hai bên đều có sự đền bù.
22
Ngoài ra, trong những trờng hợp sau đây cũng có thể làm cho báo giá
mất hiệu lực:
+ Ngời nhận báo giá đa ra hoàn giá (trả giá).
+ Ngời báo giá dựa vào luật pháp huỷ bỏ báo giá.
+ Kỳ hạn có hiệu lực trong báo giá đã hết.
+ Những sự cố bất ngờ mà sức ngời không thể kháng cự làm cho báo
giá mất hiệu lực, nh lệnh cấm của chính phủ hoặc biện pháp hạn chế của
chính phủ...
+ Trớc khi báo giá đợc chấp nhận, đơng sự mất khả năng hoạt động,
hoặc tử vong, hoặc phá sản.
<3> Hoàn giá (trả giá)
Hoàn giá là chỉ ngời nhận báo giá không đồng ý hoặc không hoàn toàn
đồng ý những điều kiện mà ngời báo giá đa ra trong báo giá, để thoả thuận
thêm, đa ra ý kiến sửa đổi đối với báo giá. Hoàn giá có thể nhằm vào giá cả,
cũng có thể nhằm vào các điều kiện quan trọng nh chất lợng, số lợng, thời
gian và địa điểm giao hàng, phơng thức thanh toán để đa ra ý kiến sửa đổi.
Hoàn giá là sự từ chối đối với báo giá, một khi đã đa ra hoàn giá, báo
giá trớc đó lập tức mất hiệu lực, ngời báo giá không còn bị ràng buộc nữa.
Lúc này ngời nhận báo giá trở thành ngời báo giá mới và ngợc lại.
<4> Chấp nhận.
Chấp nhận là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của ng ời báo
giá, khi đó hợp đồng đợc thành lập.
* Điều kiện của chấp nhận.
Cấu thành nên một chấp nhận có hiệu lực phải có đủ các điều kiện:
chấp nhận phải do ngời nhận báo giá đa ra; nội dung của chấp nhận phải phù
hợp với báo giá; phải chấp nhận trong thời hạn có hiệu lực của báo giá; và
chấp nhận phải đợc truyền đạt tới ngời báo giá.
23
một khi đã gửi đi là liền phát sinh hiệu lực, hợp đồng cũng đợc thành lập, nh
vậy không tồn tại việc thu hồi chấp nhận.
b. Ký kết hợp đồng.
Sau khi hai bên mua bán tiến hành đàm phán, báo giá của một bên đợc
bên kia chấp nhận hữu hiệu, lập tức đi đến ký kết giao dịch, hợp đồng coi nh
đã thành lập.
Điều 23 Công ớc Viên 1980 quy định.
Hợp đồng coi nh đợc ký kết vào thời điểm khi mà việc chấp nhận báo
giá có hiệu lực theo đúng quy định của công ớc này.
Điều 55 Luật Thơng mại CHXHCN Việt Nam quy định: Hợp đồng
mua bán hàng hoá đợc coi là đã ký kết kể từ thời điểm các bên có mặt ký vào
hợp đồng.
Trong trờng hợp các bên không cùng có mặt để ký hợp đồng, hợp đồng
mua bán hàng hoá đợc coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận
đợc thông báo chấp nhận toàn các điều kiện đã ghi trong chào hàng trong
thời hạn trách nhiệm của ngời chào hàng.
B - thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng.
Trong buôn bán quốc tế, hợp đồng mua bán khi đã thành lập theo pháp
luật, các bên hữu quan phải thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng. Do
vậy, thực hiện hợp đồng là nghĩa vụ, trách nhiệm chung của hai bên đơng sự.
I - các nguyên tắc chấp hành hợp đồng mua bán
ngoại thơng.
Nguyên tắc chấp hành hợp đồng là những t tởng chỉ đạo có tính chất
bắt buộc đối với các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng đã ký kết. Trong
việc thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng các bên phải tuân theo ba
nguyên tắc là chấp hành thực hiện, chấp hành đúng và chấp hành trên tinh
thần hợp tác hai bên cùng có lợi.
25