Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức thiết lập quan hệ. Sự xuất hiện, tồn tại và
phát triển của hợp đồng đã chứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong
việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá và tiền tệ. Khi nền kinh tế phát triển, xã hôi văn minh thì
việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng ngày càng cần thiết, càng được coi trọng và
hoàn thiện.
Ở nước ta, việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng đã được áp dụng từ lâu, song
nó chỉ được hoàn thiện hơn và phát triển mạnh khi nước ta bước vào công cuộc đổi mới với nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Để đáp ứng đòi hỏi khách quan
của nền kinh tế cần một hệ thống pháp luật thống nhất để điều chỉnh quan hệ hợp đồng và để tạo
điều kiện thuận lợi về mặt pháp luật khi đất nước hội nhập kinh tế quốc tế, WTO, ngày 14/6/2005
Quốc hội khoá XI đã ban hành Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 1/01/2006 để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Việc ban hành Bộ luật Dân sự 2005 và Luật
Thưoơg mại 2005 là cần thiết và quan trọng, đã tiến một bước dài trong việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng.
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi đến thực tập tại công ty cổ phần công nghiệp dịch vụ Cao Cường, vấn đè ký kết và
thực hiện hợp đồng của Công ty đã thu hút sự quan tâm của em, trong đó hợp đồng mua bán hàng
hoá chiếm tới 90% tổng số các loại hợp đồng tại Công ty. Hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò
quan trọng đối với mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh. Đó là quan hệ trao đổi hợp pháp mà tất cả các
tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải thực hiện trong quá trình tồn tại và phát triển của chúng.
Bởi vây, em đã chọn đề tài: "Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá - Thực tiễn áp dụng
tại công ty cổ phần công nghiệp dịch vụ Cao Cường" để là ꗬ Á ꗬ Љ2ꗬ¿22ꗬ 222ꗬꗬꗬꗬ
222222222Љ
ꗬ ꗬ ꗬ 22ê2222222Ű222¤2222¤2222¤22222222¤2 2ꗬ222ꗬ2ꗬ222ꗬ222ꗬ222ꗬ222ꗬ2µ22222ꗬ 2 ꗬ 2 ꗬ
22 ꗬ 22 ꗬ 82ꗬ ꗬ 2 ꗬ ˤ2ꗬ 222̤ǀ2ꗬ ꗬ 2 ꗬ "2ꗬ 22 ꗬ 22 ꗬ 22 ꗬ ꗬ 2 ꗬ ͬ2ꗬ Ƹ2ꗬ 2ꗬ 22ꗬ 22ꗬ 22ꗬ
22ꗬ 22ꗬ $2Ӥɨ 2ꗬL 2ﹹ ѥ222222222ꗬ222 2222222222 ꗬ Ɗ2ꗬ 22 22 22ﹹ 2huyên đề này sẽ chỉ
đề cập đến những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá trong
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong nền kinh tế thị trường nào thì các quy luật kinh tế của sản xuất và lưu thông hàng
hóa đều được phản ánh và tác động một cách khách quan thông qua cơ chế thị trường. Cơ chế thị
trường chính là một tổ chức kinh tế , trong đó người sản xuất và người tiêu dùng chịu sự tác động
chi phối lẫn nhau qua thị trường. Thị trường là nơi gặp gỡ của người mua và người bán, của người
sản xuất và người tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất không chỉ sản xuất cái gì
mình có mà phải sản xuất cái gì thị trường cần. Cơ chế thị trường hoạt động theo các quy luật của
nền kinh tế hàng hóa. Đó là quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... Thông qua
các hoạt động trao đổi mua bán, thị trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Nó điều tiết sản xuất, điều tiết tiêu dùng. Chính "bàn tay vô hình" của thị trường làm cho cơ cấu
sản xuất, cơ cấu hàng hóa phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng về số lượng và chất lượng. Nó
xác lập mối quan hệ giữa người bán và người mua trên nguyên tắc cùng có lợi. Thị trường cung
cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh và tạo yếu tố cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển
sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do trao đổi các sản phẩm
hàng hóa giữa người mua và người bán. Người bán bao giờ cũng muốn bán với giá cao, còn người
mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp, do đó mà cần có sự thống nhất ý chí, có sự thỏa thuận
giữa người bán và người mua thể hiện qua hợp đồng. Như vậy, hợp đồng về bản chất là sự thỏa
thuận, sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia ký kết theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình
đẳng không trái pháp luật.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng, nếu thiếu hợp
đồng thì nền kinh tế không thể vận hành được.
1.2. Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp trước đây, hợp đồng kinh tế được coi là
công cụ cơ bản đế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chỉ tiêu kế hoạch là cơ sở để các bên ký
kết hợp đồng kinh tế, do đó mà khi chỉ tiêu kế hoạch thay đổi, các bên cũng phải thay đổi hợp
đồng cho phù hợp. Vi phạm hợp đồng là vi phạm kế hoạch. Trong điều kiện đó hợp đồng kinh tế
chỉ là phương tiện để các đơn vị trao đổi sản phẩm cho nhau một cách hình thức, ghi nhận sự cấp
phát vật tư của Nhà nước cho các đơn vị kinh tế và sự giao nộp sản phẩm của các đơn vị kinh tế
cho Nhà nước mà thôi. Hợp đồng kinh tế "mất đi giá trị đích thực của mình với tư cách là hình
tên là "hợp đồng kinh doanh" điều chỉnh quan hệ giữa hai hay nhiều chủ thể cam kết tự nguyện
thực hiện kế hoạch của Nhà nước nhằm phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, củng cố hậu
phương vững chắc làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội.
Cơ chế kinh tế thay đổi, kéo ntheo sự thay đổi của pháp luật. Ngày 4/1/1960 Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Nghị định 004/TTg về Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế giữa
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nước. Điều lệ này quy định một kiểu hợp đồng mới,
hợp đồng được ký kết trên cơ sở kế hoạch Nhà nước và nhằm thực hiện kế hoạch Nhà nước đồng
thời thực hiện các nguyên tắc của chế độ hạch toán kinh tế. Như vậy, trong thời gian này các cơ
quan Nhà nước, các xí nghiệp đã lập và thực hiện hợp đồng kinh tế không phải xuất phát từ lợi ích
riêng của cơ quan, xí nghiệp mình mà nhằm thực hiện kế hoạch Nhà nước, vì lợi ích của Nhà
nước. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hợp đồng kinh tế theo Điều lệ tạm thời về hợp đồng
kinh tế. Đặc trưng cơ bản của sự phát triển kinh tế theo kế hoạch tập trung cao.
Ngày 10/3/1975 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/ CP ban hành Điều lệ về
chế độ hợp đồng kinh tế. Đây là bản điều lệ chính thức đầu tiên về chế độ hợp đồng của nước ta
và nó có hiệu lực thi hành đến năm 1989. Để thực hiện hai Nghị định trên Nhà nước đã ban hành
hàng loạt văn bản hướng dẫn việc thực hiện hợp đồng kinh tế như: Quyết định số 113-TTg ngày
11/9/1965 và chỉ thị 17-TTg ngày 20/01/1967 của Thủ tướng Chính phủ...
Từ việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
chúng ta thấy có nhận xét sau đây :
Một là, pháp luật hợp đồng khi đó là công cụ pháp lý của việc thực hiện kế hoạch Nhà
nước. Do nhà nước được coi là pháp lệnh nên việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế là kỷ luật
của Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế.
Hai là, hợp đồng kinh tế là hình thức pháp lý của các quan hệ mang tính chất tổ chức- kế
hoạch, còn yếu tố tài sản chỉ là thứ yếu. Vì những nội dung chủ yếu mà các bên thỏa thuận trong
hợp đồng kinh tế đều đã được xác định trong chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, ý chí của các bên chỉ là
cụ thể hóa ý chí của nhà nước.
Ba là,chủ thể của hợp đồng kinh tế chỉ là các đơn vị tổ chức được giao chỉ tiêu kế hoạch
dụng văn bản pháp luật về hợp đồng. Vì thế ngày 14/6/2005 Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội
khóa XI thông qua, trong đó có chế định về hợp đồng là nền tảng thống nhất và đồng bộ để điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng nói chung, bên cạnh các văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng trong các lĩnh vực cụ thể.
Trong lĩnh vực hợp đồng thương mại thì luật hiện hành điều chỉnh đó là Bộ luật Dân sự
năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan. Những quy định
của Bộ luật Dân sự về hợp đồng dân sự có tính nguyên tắc, là nội dung cơ bản điều chỉnh các
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan hệ hợp đồng nói chung. Những văn bản luật chuyên ngành như: Luật Thương mại, Luật
Kinh doanh bảo hiểm, Luật Du lịch, Luật Cạnh tranh…là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng trong lĩnh vực cụ thể. Nguyên tắc áp dụng luật là ưu tiên áp dụng các quy định của luật
chuyên ngành trước, những vấn đề không được quy định trong luật chuyên ngành thì áp dụng theo
quy định của Bộ luật Dân sự. Kể từ ngày 1/1/2006 khi Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại
2005 có hiệu lực thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 hết hiệu lực. Việc ban hành Bộ luật
Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 cũng như chấm dứt vai trò của Pháp lệnh Hợp đồng kinh
tế năm 1989 là cần thiết bởi hiện nay xu thế toàn cầu hóa , hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa
thương mại đang là vấn đề nổi bật của nền kinh tế thế giới. Từ đó đòi hỏi mỗi quốc gia hoàn thiện
hệ thống pháp luật của nước mình theo hướng đồng bộ và có sự tương thích với luật pháp quốc tế.
Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu
vực. Các định chế và tổ chức kinh tế- thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục
vụ cho kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung và để các nước cùng tham gia vào quá
trình giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện
một cách đơn lẻ. Trong xu thế đó đòi hỏi luật pháp Việt Nam cũng phải theo kịp đời sống kinh tế
đang diễn ra hết sức sôi động, linh hoạt. Và một đặc điểm của luật pháp trong giai đoạn hiện nay
đó là phải nội luật hóa các điều ước quốc tế làm cho hệ thống pháp luật trong nước cũng tương
thích với luật quốc tế bảo đảm cho hội nhập quốc tế. Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên thứ
150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2006 và việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật theo yêu cầu của WTO cũng là một trong các điều kiện để nước ta có đầy đủ điều kiện
tranh chấp pháp lý mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu. Hợp đồng được thành lập hợp pháp có hiệu
lực ràng buộc đối với cơ quan tài phán được giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, xử lý
các vi phạm của hợp đồng bằng tòa án hay trọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã
thỏa thuận trong hợp đồng.
2.2.2. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nhất
định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền hay nghĩa vụ của các bên
đó. Bộ luật Dân sự 2005 đã đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự một cách khái quát như sau:
"Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các
quyền và nghĩa vụ dân sự" (Điều 388).
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng cụ thể, mặt khác hợp đồng mua bán
hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động mua bán hàng hóa. Với "mua bán hàng hóa là hành vi
thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người
mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của
hai bên" (Khoản 8 điều 3 Luật Thương mại 2005).
Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa muốn có hiệu lực được pháp luật bảo vệ thì phải tuân
theo những quy định của pháp luật về các điều khoản có hiệu lực của hợp đồng.
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp. Thường thì các bên giao kết phải có
đầy đủ năng lực hành vi.
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, tức là nó xuất phát từ ý chí
thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận của hợp đồng đó.
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối tượng hợp
đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnh đó nội dung của
hợp đồng cần cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi.
Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là
có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với
các bên nếu có tranh chấp xảy ra như nơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh
chấp. Do loại hợp đồng này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận nên đòi hỏi
nội dung của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp. Vì vậy các
bên cần chú ý thận trọng soạn thảo nội dung của hợp đồng. Chẳng hạn đối với điều khoản tên
hàng, cần kèm theo có mã số và mẫu hàng, đối với điều khoản về số lượng và trọng lượng cần
chọn những đơn vị đo lường thống nhất, trường hợp không có đơn vị đo lường thống nhất thì cần
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có điều khoản giải thích, đối với điều khoản về thanh toán cần quy định rõ ràng đồng tiền thanh
toán và phương thức thanh toán...
Về hình thức của hợp đồng. Theo quy định tại Luật Thương mại 2005, hợp đồng thương
mại được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Như vậy,
hình thức của hợp đồng là rất đa dạng, linh hoạt, tùy trường hợp cụ thể mà các bên thỏa thuận để
chọn hình thức nào cho phù hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết phù hợp với quy
định của pháp luật.
II. CHẾ ĐỘ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa:
Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006
(Bộ luật Dân sự 2005); Luật Thương mại được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực
kể từ ngày 1/1/2006 (Luật Thương mại 2005); và các văn bản pháp luật có liên quan.
1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình thương lượng giữa các bên theo những
nguyên tắc và trình tự nhất định để đạt được sự thỏa thuận, qua đó xác lập các quyền và nghĩa vụ
của các bên với nhau trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải bảo đảm theo những nguyên tắc được quy định
tại điều 389 Bộ luật Dân sự 2005 đó là:
-Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
-Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.
Cùng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại được quy định từ Điều 10 đến
cùng nhau giao kết hợp đồng, nhưng nếu giữa các bên không có thiện chí, thiếu sự hợp tác chặt
chẽ với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thì việc xác lập hợp đồng này cũng không mang lại lợi
ích tối đa cho các bên trong quan hệ hợp đồng. Thêm vào đó, trong giao kết hợp đồng các bên
phải thể hiện sự trung thực, ngay thẳng thì mới có thể trở thành đối tác lâu dài của nhau trong các
quan hệ thương mại đặc biệt là trong quan hệ mua bán hàng hóa.
1.3. Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu.
Theo nguyên tắc này trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều
kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương
đương văn bản (thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương
tiện điện tử).
2. Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo quy định của Luật Thương mại 2005 chủ thể của hợp đồng phải là thương nhân hoạt
động thương mại, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mụch đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mụch đích sinh lợi khác.
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Có thể phân chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa thành các loại sau:
2.1. Chủ thể là thương nhân
Để xác định một thỏa thuận có phải là hợp đồng mua bán hàng hóa hay không thì việc
trước tiên là phải xác định một bên trong quan hệ đồng đó có phải là thương nhân hay không, sau
đó mới xem xét đến đối tượng của hợp đồng. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh.
Luật Thương mại 2005 cũng thừa nhận thương nhân thực tế bằng việc không đặt điều kiện
đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận là thương nhân.
Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của thương nhân nhưng đối với trường hợp chưa đăng ký kinh
doanh, thương nhân vẫn phải chịu mọi trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Quy định này đã
giải quyết những vấn đề đã đặt ra trong thực tế là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành
trình hoạt động thương mại và hoạt động một cách độc lập. Một tổ chức được công nhận là pháp
nhân khi có đủ các điều kiện sau đây (Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005):
- Được thành lập hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Song không phải tất cả các tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành thương nhân
mà chỉ có những pháp nhân nào là tổ chức kinh tế được thành lập để hoạt động thương mại mới
trở thành thương nhân. Pháp nhân là tổ chức kinh tế bao gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước.
- Hợp tác xã.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Công ty cổ phần.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Các tổ chức kinh tế khác có đủ các điều kiện theo quy định là pháp nhân.
2.2. Chủ thể không phải là thương nhân
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân không
phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa, khi họ giao kết
hợp đồng với thương nhân. Nghĩa là, một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương
mại độc lập và thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần các điều kiện nói trên. Khác với
bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi
để tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật. Đó có
thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng có
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập thường xuyên như một
nghề.
3. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giao kết hợp đồng bằng hình thức này nhưng để có căn cứ chắc chắn, các bên nên chọn hình thức
văn bản để giao kết hợp đồng.
4. Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng
thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng. Nội dung của hợp đồng xác định
rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, quyết định tính khả thi của hợp đồng cũng như hiệu lực pháp lý
của hợp đồng. Các bên khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng phải bảo đảm là những nội dung
hợp pháp với các điều khoản rõ ràng, cụ thể, có tính hiện thực cao.
Luật Thương mại 2005 đã không quy định về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trên cơ sở xác lập mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, khi xem xét vấn đề nội dung của hợp đồng
mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự. Theo đó, trong hợp
đồng mua bán hàng hóa các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng
- Số lượng, chất lượng
- Giá, phương thức thanh toán
- Quyền, nghĩa vụ của các bên
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Các nội dung khác.
Nội dung của hợp đồng có thể chia thành ba loại điều khoản với những ý nghĩa khác nhau:
điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ và điều khoản tùy nghi.
4.1. Điều khoản chủ yếu
Các điều khoản chủ yếu nêu lên những quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên, làm cơ sở
cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưa được coi là đã xác lập. Có những
điều khoản luôn được coi là điều khoản chủ yếu vì không có nó không thể nói là đã hình thành
hợp đồng. Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá thì điều khoản về đối tượng luôn là điều khoản
chủ yếu. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa. " Hàng hóa bao gồm: Tất cả các
loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai" (Điều 3
Khoản 2 Luật Thương mại 2005). Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng phải tuân theo quy định tại
cùng ký tên vào văn bản hợp đồng. Hợp đồng được xác lập và phát sinh hiệu lực pháp lý từ thời
điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng.
Ký kết bằng phương thức gián tiếp: Các bên không trực tiếp gặp nhau để bàn bạc thảo luận
mà trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công văn, điện báo, đơn đặt hàng, đơn chào hàng, thông
điệp dữ liệu điện tử... trong đó ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch. Trình tự ký kết hợp đồng
theo phương thức này bao gồm hai giai đoạn : chào hàng và chấp nhận chào hàng.
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5.1. Chào hàng
Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong một thời hạn nhất
định, được chuyển cho một người hay nhiều người đã xác định. Ở giai đoạn này, một bên đưa ra
lời chào hàng, tùy theo nội dung có thể là lời chào bán hoặc chào mua hàng, đồng thời đưa ra một
thời hạn để bên kia xem xét quyết định lập hợp đồng. Luật Thương mại 2005 không quy định hình
thức bắt buộc của chào hàng nói chung song để chuyển tải được đầy đủ những nội dung cần thiết
và tránh hiểu lầm thì hình thức văn bản là cần thiết. Tuy nhiên, hình thức văn bản không phải là
điều kiện bắt buộc để chào hàng có hiệu lực.
Bên chào hàng có trách nhiệm đối với lời chào hàng của mình trong thời hạn đã đưa ra
trong lời chào hàng. Nếu bên nhận được chào hàng có những đề nghị thay đổi nội dung chủ yếu
của chào hàng thì hành vi đó được coi là từ chối chào hàng và hình thành một chào hàng mới. Nếu
bên được chào hàng chỉ thay đổi những nội dung không chủ yếu thì chào hàng được coi là đã
được chấp nhận, trừ trường hợp người chào hàng ngay lập tức từ chối những thay đổi đó.
Chào hàng hết hiệu lực khi hết thời hạn chấp nhận quy định trong chào hàng đã hết hoặc bị
từ chối. Chào hàng cũng có thể bị coi là bị từ chối nếu chào hàng này không được chấp nhận một
cách vô điều kiện mà bị bên nhận được chào hàng đưa ra những yêu cầu mới. Về mặt thực tế,
chào hàng đương nhiên bị coi là hết hiệu lực nếu bên chào hàng, vì một nguyên nhân nào đó mà
ngay khi chưa hết thời hạn chấp nhận chào hàng quy định, đã không tham gia kinh doanh nữa. Đó
có thể là trường hợp bên chào hàng bị giải thể, bị phá sản, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh.
5.2. Chấp nhận chào hàng
đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng. Sau khi hợp đồng mua
bán hàng hóa được ký kết, chỉ bản hợp đồng này có giá trị bắt buộc đối với các bên hợp đồng, mọi
thư từ giao dịch và đàm phán trước đó về hợp đồng đều hết hiệu lực, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác.
* Những vấn đề khác trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
- Giao kết hợp đồng theo mẫu: Các bên có thể thỏa thuận giao kết hợp đồng theo mẫu là
hợp đồng được một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý.
- Phụ lục hợp đồng: Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục hợp đồng để quy định một cách
cụ thể, chi tiết một số điều khoản của hợp đồng mà các bên phải làm rõ khi thực hiện hợp đồng để
các bên không thể hiểu mập mờ, mâu thuẫn về các cam kết trong hợp đồng.
- Giải thích hợp đồng: Phải dựa trên những quy định của pháp luật nhằm bảo đảm hợp
đồng là ý chí chung và thể hiện lợi ích của tất cả các bên. Nguyên tắc của việc giải thích hợp đồng
được quy định riêng cho từng trường hợp: hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, khi một điều
khoản của hợp đồng có thể hiểu theo nhiều nghĩa, hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau, khi có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu, hợp đồng thiếu một số điều khoản,
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngôn từ sử dụng trong hợp đồng mâu thuẫn với ý chí chung và khi bên mạnh thế đưa vào hợp
đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế (Điều 409 Bộ luật Dân sự 2005).
III.THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1. Nguyêh tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo Điều 412 Bộ luật Dân sự 2005, các bên phải tuân thủ một số nguyên tắc trong quá
trình thực hiện hợp đồng đó là:
1.1. Thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng
Điều đó có nghĩa là các bên phải thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, đúng số lượng
và chất lượng, đúng chủng loại, đúng thời hạn, đúng phương thức đã xây dựng trong hợp đồng
hoặc do pháp luật đã quy định. Nếu không thực hiện đúng, vi phạm nghĩa vụ đã được ghi nhận
trong nội dung của hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Mà cụ thể là thực
hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng.
về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 49 Luật Thương mại 2005).
1.1.2. Quyền và nghĩa vụ của bên mua
Điều 50 và 55 Luật Thương mại 2005 quy định bên mua có nghĩa vụ:
- Thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận
- Tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã
thỏa thuận và theo quy định của pháp luật
- Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan
đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư
hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng
do lỗi của bên bán gây ra.
Ngoài ra, bên mua mất quyền sở hữu đối với hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng
hóa nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hóa
được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết
hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba (Điều 45 và 46 Khoản 1 Luật Thương mại 2005).
Bên mua cũng có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường hợp: (1) Bên
mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán; (2) Bên mua
có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm nhừng thanh
toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; (3) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán
đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên
bán khắc phục được sự không phù hợp đó.
1.2. Thực hiện hợp đồng một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, có lợi nhất cho các
bên, đảm bảo tin cậy lẫn nhau
Nguyên tắc này đòi hỏi ngay từ khi giao kết hợp đồng cho đến khi thực hiện hợp đồng các
bên phải kịp thời thông báo cho nhau về tình trạng, đặc tính của đối tượng, bao gồm cả khó khăn,
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu một bên vì lợi ích của mình mà che giấu
khuyết tật của vật là đối tượng của hợp đồng, gây ra thiệt hại cho bên đối tác thì phải bồi thường
thiệt hại. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên luôn thông tin cho nhau về tiến độ thực
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan hệ cầm cố có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác, nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu
về năng lực chủ thể.
Khi người có nghĩa vụ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người có quyền, từ thời
điểm đó họ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình. Phải báo cho bên nhận cầm cố
về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, đồng thời thanh toán cho bên nhận cầm cố
những chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố. Nhưng chỉ được bán tài sản cầm cố,
thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu được bên nhận đồng ý, hoặc có thể nhận lại tài
sản khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
Trong thời gian văn bản cầm cố có hiệu lực, người nhận cầm cố tài sản có nghĩa vụ bảo
đảm nguyên giá trị của tài sản cầm cố, không được chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho người
khác cũng như không đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác hoặc không được
khai thác công dụng tài sản cầm cố, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu bên cầm cố
không đồng ý.
2.2. Thế chấp tài sản
Là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ đối với bên kia (bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ, không chuyển
giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho người thứ ba
giữ tài sản thế chấp (Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005 ).
Tài sản thế chấp có thể là toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ đó cũng
thuộc tài sản thế chấp. Nếu chỉ thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ
thuộc tài sản thế chấp trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Hình thức thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng
hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp có quy định thì văn bản thế chấp phải được
chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền
hoặc việc thế chấp phải được đăng ký nếu tài sản thế chấp có đăng ký quyền sở hữu.
Trong thời hạn văn bản thế chấp có hiệu lực, bên thế chấp tài sản phải có nghĩa vụ bảo
quản, giữ gìn tài sản thế chấp hoặc phải có nghĩa vụ giữ nguyên giá trị của tài sản thế chấp cũng
như không được chuyển dịch quyền sở hữu hoặc tự động giao tài sản thế chấp cho người khác.
hiện nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực
hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 361
Bộ luật Dân sự 2005).
Hình thức bảo lãnh bằng văn bản, có thể lập thành văn bản riêng, nếu trong trường hợp
pháp luật quy định thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc là ghi vào hợp đồng chính.
SVTH: Trần Thị Mai Lớp Luật Kinh doanh K45
25