ĐỀ TÀI: Hợp đồng mua bán hàng hóa – thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Thương
Mại Viglacera
LỜI MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong xã hội hiện đại, mọi hoạt động kinh tế đều dựa trên cơ sở hợp đồng. Một
doanh nghiệp có thể phát triển vững chắc thì vấn đề quan trọng nhất là hợp đồng mua bán
hàng hóa. Doanh nghiệp càng kí kết được nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa, doanh thu
của doanh nghiệp càng cao. Một Nhà xã hội nổi tiếng người Pháp A.Foullier đã nhận
định: “Hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ luật hiện hành và đến khi nào đó, trong
các bộ luật quy định về hợp đồng ở các điều khoản, từ điều khoản thứ nhất đến điều
khoản cuối cùng”. Thực tế, việc kí kết được hợp đồng mua bán hàng hóa lại là vấn đề gây
đau đầu cho các nhà kinh doanh. Bởi tình trạng vi phạm hợp đồng cùng với sự xuất hiện
ngày càng nhiều hành vi xấu gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Thực trạng hiện nay vẫn còn những doanh nghiệp chưa hiểu đúng về vai trò của hợp
đồng mua bán hàng hóa, còn lúng túng trong vấn đề giải quyết vi phạm hợp đồng, từ đó
có thể dẫn đến những thiệt hại nhất định cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và
phát triển.
Hợp đồng mua bán hàng hóa rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật
và khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Trong
hệ thống pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp
đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, Luật
Thương mại 1997… và hiện tại tiêu biểu là hai văn bản pháp luật mới được ban hành: Bộ
luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005.
Có thể nói hợp đồng mua bán hàng hóa là một nội dung không thể thiếu trong hoạt
động kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng hóa thực sự là một phương tiện, công cụ hữu
hiệu nhất để ổn định, phát triển thị phần, tạo ra lợi nhuận và danh tiếng cho mỗi doanh
nghiệp. Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng
hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi, an toàn
và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc.
Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera là một công ty chuyên kinh doanh vật tư,
nguyên vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí nội ngoại thất,… Các mặt hàng như sứ vệ
- Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, trường Đại học kinh tế quốc
dân.
- Giáo trình Luật kinh tế của Đại học Luật Hà Nội.
Những công trình trên đều chứng tỏ được tầm quan trọng của hợp đồng nới chung.
Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng hiện nay còn chưa thống nhất và đồng bộ. Chính vì
vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua từng thời kì
là điều tất yếu. Do đó, một trong những thành công của những đề tài nghiên cứu trên
chính là việc phát hiện ra những điểm bất cập, những mặt còn hạn chế. Từ đó, đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng. Các công trình nói trên là
những tài liệu rất quý giá để tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận này.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cốt yếu nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta
- Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về hợp đồng mua bán hàng
hóa, áp dụng cho Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera
- Phát hiện các điểm mạnh cần phát huy và hạn chế cần khắc phục
- Đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán
hàng hóa
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến
hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera. Từ
đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và
nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở những khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa, đề tài tập trung giải
quyết vấn đề pháp lý về việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
- Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ đề cập đến những vấn đề pháp lý liên quan
đến hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước của công ty Cổ phần Thương mại Viglavera
- Phạm vi không gian: Khóa luận tập trung làm rõ hệ thống các quy phạm pháp luật quy
định về hợp đồng mua bán hàng hóa của công ty Cổ phần Thương mại Viglavera
I.1. Lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa
I.1.1. Lịch sử hình thành của pháp luật về hợp đồng
Nghiên cứu lịch sử hình thành của pháp luật về hợp đồng ở nước ta cho thấy sự
điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh đã có từ rất sớm. Từ khi
còn là thuộc địa của Pháp, Việt Nam đã có bộ luật về hợp đồng Việt Nam bao gồm hai bộ
phận cấu thành: Pháp luật về hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồng thương mại.
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã ra quyết định đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế theo hướng chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao
cấp sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 25/9/1989, Hội đồng Nhà nước đã thông qua các pháp lệnh hợp đồng kinh tế,
bước đầu xây dựng một chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế. Theo đó “Hợp đồng kinh tế
là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết về việc tham gia sản
xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các
thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ
của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. (Điều 1 – Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế)
Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 cũng đưa ra những quy
định về hợp đồng dân sự. Đến năm 1997, khi Luật Thương mại được Quốc hội thông qua
ngày 10/05/1997 cũng có những quy định về hợp đồng trong một số hành vi thương mại.
Trên thực tế, các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương mại vẫn chủ yếu căn cứ vào
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989.
Có thể thấy, các vấn đề pháp lý về hợp đồng được quy định trong ba văn bản: Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Thương mại 1997. Trong các
văn bản này lại có những quy định không thống nhất và cũng không có các quy định về
mối quan hệ giữa các văn bản với nhau gây nhiều khó khan cho người sử dụng, đòi hỏi
sự hoàn thiện và đổi mới các quy định của pháp luật về hợp đồng.
Ngày 14/06/2005, Bộ luật Dân sự mới đã được Quốc hội khóa XI thông qua và bắt
đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Bộ luật Dân sự 2005 được ban hành thay thế cho Bộ
luật Dân sự 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989. Đây được coi là đạo luật chung,
áp dụng cho tất cả các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, tạo sự thống nhất về pháp
toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa
theo thỏa thuận”. Việc mua bán hàng hóa được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng. Hiện
nay hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng thông dụng của hợp đồng dân sự, chiếm một
số lượng lớn. Tại điều 388 BLDS 2005 có nêu khái niệm chung của hợp đồng dân sự:
“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự”. Đối với hoạt động mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán
hàng hóa cũng là sự xác lập.
Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Luật
Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác
định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 Bộ luật dân sự 2005:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền
cho bên bán”. Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương
lai, và các vật gắn liền với đất. Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài
sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của
hợp đồng mua bán tài sản.
Cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa với các hợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài
sản, dịch vụ gắn liền với hàng hóa, gia công hàng hóa… Mua bán hàng hóa khác với
quan hệ thuê mua tài sản. Khi thuê tài sản, quyền sử dụng và chiếm hữu được chuyển cho
người thuê nhưng quyền sở hữu lại không được người cho thuê chuyển giao cho người đi
thuê. Mua bán hàng hóa khác với các dịch vụ giao nhận hàng hóa, vì người giao nhận
hàng hóa chỉ thực hiện chức năng trung gian.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, ta xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các tổ chức
cá nhân có đăng ký kinh doanh mà quan hệ với nhau vì mục đích lợi nhuận. Theo Khoản
8 - Điều 3 Luật Thương mại 2005 có quy định: “ Hoạt động thương mại, theo đó bên bán
có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán,
bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo
thỏa thuận”. Như vậy, về khái niệm chung không khác gì so với hợp đồng dân sự hay hợp
Hợp đồng được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Theo Luật Thương mại 2005, hợp đồng
mua bán hàng hóa có thể được giao kết giữa các thương nhân hoặc ít nhất một bên là
thương nhân.
Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Các tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp có thể bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty nhà nước và các tổ chức kinh tế khác. Thương
nhân là cá nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh và tiến hành
hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập.
Các thương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa
bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. Ngoài ra, hợp
đồng mua bán hàng hóa còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên
quan đến thương mại.
- Đối tượng của hợp đồng
Trong hợp đồng mua bán hang hóa thì cả bên mua và bên bán đều hướng tới hàng hóa,
hang hóa là đối tượng của hợp đồng. Theo Khoản 2 – Điều 3 – Luật Thương mại 2005
hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và
những vật gắn liền với đất đai. Mỗi đối tượng đều có hình thức trao đổi khác nhau, nhưng
vẫn phải tuân theo những nguyên tắc chung trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm những điều khoản mà các bên tham
gia giao kết hợp đồng thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng. Các
bên khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng phải đảm bảo là những nội dung hợp pháp
với các điều khoản rõ ràng, cụ thể, có tính hiện thực cao.
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa cần chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản
sau:
- Tên hàng;
- Số lượng;
- Quy cách chất lượng;
khác các bên có thể thỏa thuận ghi vào hợp đồng, khi các bên không ghi vào hợp đồng thì
mặc nhiên chấp nhận những quy định chung của pháp luật về vấn đề đó hoặc chấp nhận
những thói quen trong hợp đồng thương mại.
Trên cơ sở việc xác lập mối quan hệ với Bộ luật Dân sự 2005, nội dung của hợp đồng có
thể chia thành ba loại điều khoản với những ý nghĩa khác nhau: điều khoản chủ yếu, điều
khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi.
- Điều khoản chủ yếu: Các điều khoản chủ yếu nêu nên những quyền và nghĩa vụ chủ yếu
của các bên, làm cơ sở cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưa
được coi là đã được xác lập.
- Điều khoản thường lệ: Là điều khoản đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp
luật. Dù các điều khoản này không được ghi vào hợp đồng nhưng các bên mặc nhiên thừa
nhận và phải thực hiện đúng như pháp luật đã quy định.
- Điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận
của các bên, căn cứ vào khả năng, nhu cầu của các bên để xác định thêm một số điều
khản khác. Trong khuôn khổ của pháp luật, các bên có quyền lựa chọn và thỏa thuận về
những hành vi cụ thể. Điều đó nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được rõ ràng, cụ
thể, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng, tránh sự hiểu lầm trong quan
hệ hợp đồng.
Khi xem xét về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa trên các
quy định của Bộ luật dân sự. Theo đó trong hợp đồng mua bán hàng hóa các bên có thể
thỏa thuận những nội dung chủ yếu sau:
- Đối tượng của hợp đồng:
Trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là một hàng hóa nhất định đây là điều
khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa, mà khi thiếu nó hợp đồng mua bán hàng
hóa không thể hình thành được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia
hợp đồng nhằm mục đích gì, trao đổi cái gì. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa
được xác định thông qua tên gọi của hàng hóa, các bên có thể ghi rõ tên hàng bằng tên
thông thường tên thương mại…để tránh có sự hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng.
- Số lượng hàng hóa:
Điều khoản về số lượng hàng hóa xác định về mặt đối tượng của hợp đồng. Các bên có
thuận trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời gian, địa điểm và trả
tiền cho bên bán. Các bên có thể thỏa thuận với nhau sao cho hợp lý với tình hình thực
tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên. Địa điểm giao hàng có thể do hai bên thỏa thuận,
phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên. Khi thỏa thuận cần thỏa
thuận cụ thể địa chỉ giao hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của
phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện.
I.2. Pháp luật điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
I.2.1. Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
I.2.1.1. Quyền và nghĩa vụ của bên bán
- Nghĩa vụ của bên bán
Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy định của hợp đồng về số lượng, chất lượng,
cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng. Điều 35 – Luật
Thương mại quy định bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa
thuận trong hợp đồng. trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên
mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu có thỏa thuận khác (Điều 38 – Luật
Thương mại)
Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42 – Luật Thương
mại. Trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng
từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua vào thời hạn, tại địa điểm và bằng hình thức đã
thỏa thuận.
Một trong các nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng. Bên
bán phải chịu những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua hoặc đại diện của bên mua
đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình
kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán biết hoặc không thể không biết về các
khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua (Khoản 5 - Điều 44 – Luật
Thương mại)
Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa. Theo đó, bên bán phải bảo
đảm: (1) Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên
thứ ba; (2) Hàng hóa đó phải hợp pháp; (3) Việc chuyển giao hàng hóa là hợp pháp.
Ngoài ra, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điêuù 6 –
có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán; (2) Bên
mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm
ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp được giải quyết; (3) Bên có bằng chứng về
việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh
toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó.
I.2.2. Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng
Trong quan hệ hợp đồng, nếu phát sinh những tình huống không nằm trong thỏa thuận
của hai bên được ghi trong hợp đồng thì bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu những hậu
quả bất lợi mang tính vât chất. Điều kiện để xuất hiện trách nhiệm vật chất là sự vi phạm
hợp đồng được hiểu là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa
vụ trách nhiệm. Pháp luật Việt Nam tuân thủ nguyên tắc chỉ chịu trách nhiệm khi có lỗi
(Điều 312 BLDS 2005), do đó nếu chứng minh mình không có lỗi thì không phải chịu
trách nhiệm vật chất. Người bán phải chịu trách nhiệm về việc hàng không phù hợp với
hợp đồng trừ trường hợp chứng minh là mình không có lỗi.
Tùy theo từng loại nghĩa vụ hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận hoặc bên vi phạm có thể
lựa chọn các loại chế tài sau: (Điều 292 LTM 2005)
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
- Phạt vi phạm
- Bồi thường thiệt hại
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng
- Các trường hợp khác do các bên thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật Việt
Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả
chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các bên không có thỏa
thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ co quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ
trường hợp LTM có quy định khác. (Điều 307 LTM 2005)
Những trường hợp các bên được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng: (Điều 294 LTM
2005)
- Xảy ra các trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
- Bảo lãnh: Là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà been được bảo
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI VIGLACERA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán hàng hóa
của Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera
2.1.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần thương mại Viglacera
Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera được thành lập theo quyết định số
0103022396 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 14/02/2008. Công ty
thuộc hình thức công ty Cổ phần, hoạt động theo luật Doanh nghiệp và các quy định hiện
hành khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tên công ty viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VIGLACERA
Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài: VIGLACERA TRADING JOINT STOCK
COMPANY
Tên công ty viết tắt: VIGLACERA TRADING.,JSC
Địa chỉ: Tầng 1- Viglacera Tower- số 1 Đại lộ Thăng Long- xã Mễ Trì- huyện Từ Liêm-
Tp.Hà Nội
Mã số thuế: 0102640785
Số điện thoại: (04) 3553 7650
Số fax: (04) 35537648
Website: www.viglaceratrading.vn
Logo:
Công ty được thành lập với Đại Hội Đồng Cổ Đông gồm:
Chủ tịch HĐQT: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Tổng Giám đốc: Ông Nguyễn Văn Lý
Ủy viên HĐQT: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Trưởng BKS: Bà Bùi Thị Thanh Nam
Người đại diện đồng thời là Tổng Giám đốc công ty: Ông Nguyễn Văn Lý
miề
n
Trun
g
Phòn
g
phát
triển
thị
trườ
ng
Phòn
g
tổng
hợp
Phòn
g tài
chính
kế
toán
Trun
g
tâm
thiết
kế
sáng
tạo
khuô
Trun
g
thành giai đoạn 1 dự án đầu tư cải tạo và nâng công suất dây chuyền sản xuất kính nổi lên
công suất 420 tấn/ngày, sản phẩm đạt chất lượng Châu Âu, chất lượng số một tại thị
trường Việt Nam.
Hoạt động sản xuất sứ vệ sinh, sen vòi. Cùng với việc tập trung đầu tư công nghệ, nâng
cao công suất, chất lượng sản phẩm, phát triển các mẫu mã sản phẩm mới đáp ứng nhu
cầu thị trường, công ty tiếp tục hợp tác nghiên cứu sản phẩm mang đến sự tiện ích cho
khách hàng, tiết kiệm tài nguyên như sản phẩm sử dụng công nghệ phủ Nano, sản phẩm
tiết kiệm nước,… Trong năm 2013, Công ty đã sản xuất được 1.225.000 bộ sản phẩm sứ
và 500.000 bộ sen vòi.
Hoạt động sản xuất gạch ốp lát, từ dây truyền sản xuất gạch ceramic đầu tiên, Công ty
tiếp tục đầu tư mới các nhà máy và không ngừng mở rộng, đầu tư chiều sâu và nâng cao
chất lượng, đa dạng hóa mẫu mã, chủng loại sản phẩm… Đến nay, chủng loại sản phẩm
ốp lát ceramic, granite của VIGLACERA được đa dạng bao gồm từ gạch ốp tường, lát
nền nội ngoại thất, ngói lợp,…với tổng năng lực sản xuất đạt khoảng 20 triệu m
2
/năm.
Hoạt động sản xuất gạch ngói và các sản phẩm đất sét nung, liên tục được đổi mới, hiện
đại hóa công nghệ sản xuất để tiết kiệm tài nguyên, nâng cao giá trị sản phẩm, giảm thiểu
tác động môi trường,… công suất sản xuất khoảng 1,3 tỷ viên/năm. Hiện tại cơ cấu sản
phẩm đã có sự dịch chuyển theo xu hướng giảm sản lượng gạch xây dựng, chỉ sản xuất
khoảng 30-40% sản lượng theo công suất.
Thương hiệu VIGLACERA ngày càng khẳng định được uy tín và chất lượng sản phẩm
không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu sang EU, Đài Loan, Pháp, Thái Lan, Ấn Độ, Thổ
Nhĩ Kỳ, Indonesia,…
Những thành tựu đạt được trong quá trình kinh doanh của công ty Cổ phần Thương
mại Viglacera thời gian gần đây:
Cơ cấu doanh thu thuần 3 năm 2010 – 2012 Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2010 Tỷ trọng Năm 2011 Tỷ trọng Năm 2012 Tỷ trọng
1. Doanh thu thuần 3.412.674 94,53% 2.851.975 95,79% 2.427.893 94,59%
Doanh thu cho thuê hạ
Giá trị
(triệu đồng)
Công ty TNHH Samsung
Electronics Việt Nam
Yên Phong Bắc Ninh
21/3/2008
12/08/2013
59.237
650.587
Công ty TNHH Intops Việt
Nam
Yên Phong Bắc Ninh 19/06/2013 57.015
Công ty TNHH AK
Chemtech Hà Nội
Yên Phong Bắc Ninh 11/07/2013 22.197
Công ty TNHH Khoa học kỹ
thuật Texhong Ngân Long
Hải Yên Quảng Ninh 07/05/2012 270.603
Công ty TNHH Yazaki Hải
Phòng Việt Nam
Đông Mai Quảng Ninh 09/07/2013 67.297
Trong giai đoạn từ năm 2010 – 2012, Công ty vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng tài sản
(tăng trưởng bình quân 19%/năm)
Lợi nhuận tích lũy đã làm tăng vốn chủ sở hữu của Nhà nước lên gấp 2 lần từ năm 2009
đến năm 2012. Cùng với việc dùng nguồn vốn tự có, Công ty đã tận dụng nguồn vốn tín
dụng ngân hàng và vốn chiếm dụng đề tài trợ cho nguồn vốn lưu động trong quá trình mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư cải tạo công nghệ từ năm 2009 đến 2012.
Do đó, dư nợ vay ngắn hạn tăng đáng kể với tốc độ tăng 54%/năm, số dư phải trả thương
mại tăng bình quân bình quân 50%/năm, tương đương 651.347 và 389.026 triệu đồng từ
năm 2010 đến 2012.
nguồn tài chính dồi dào sẽ đảm bảo hoạt động kinh doanh được thực hiện và diễn ra liên
tục. Với khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tốt thì có thể tăng khả năng cạnh tranh
bằng các biện pháp như ứng trước tiền hàng, cho phép thanh toán chậm, đưa ra các điều
khoản thanh toán ưu đãi, và dễ dàng hơn trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng. (2)
Nguồn nhân lực, trình độ, năng lực lãnh đạo và quản trị kinh doanh của của giám đốc tốt
cũng như trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp có tay nghề cao
là nhân tố quyết định hiệu quả của hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng. (3) Cơ sở vật
chất của công ty, như nhà kho, bãi tập kết hàng, bộ phận vận tải của Công ty sẽ ảnh
hưởng tới tiến độ giao nhận hàng hóa cũng như có thể tiết kiệm được thời gian và tiền
của. Có kho bãi thì Công ty có thể tập trung hàng hóa về một mối trước khi giao hàng cho
người vận tải nên nghiệp vụ này có thể đơn giản hơn. Có bộ phận vận tải thì công việc
chuyên chở hàng hóa sẽ diễn ra thuận tiện, nhanh hơn và khớp với thời gian giao nhận
hàng.
Thứ năm là thời tiết, đây là nhân tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới thực
hiện hợp đồng, các bên trong hợp đồng không thể tác động tới. Sự ảnh hưởng này tác
động từ khâu sản xuất đến giao hàng. Trong sảm xuất nó tác động từ khâu nguyên liệu
đến thời gian hoàn thành sản phẩm. Thời tiết thuận lợi sẽ suôn sẻ nhưng thời tiết xấu có
thể ảnh hưởng tới chất lương nguyên liệu,làm chậm tiến độ sản xuất, kéo dài thời gian
giao hàng. Và còn xấu hơn nữa có thể phá hủy hoàn toàn quy trình thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra, các nhân tố như chính sách của Nhà nước, hệ thống cơ sở hạ tầng, tình hình
cạnh tranh trong nước,… nếu diễn ra không thuận lợi cũng làm ảnh hưởng tới hoạt động
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của doanh nghiệp.
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa tại Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera
2.2.1. Thực trạng thực hiện hợp đồng tại Công ty
Khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, Công ty Cổ phần Thương mại Viglacera luôn
tuân thủ nguyên tắc thực hiện đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại hàng hóa
đã thỏa thuận trong hợp đồng. Để đảm bảo quyền lợi cho mình, cho bạn hàng và giữ uy
tín trong kinh doanh, Công ty luôn thực hiện hợp đồng trên tinh thần đúng với những gì
đã cam kết trong hợp đồng. Công ty luôn thực hiện theo thời hạn đã được thỏa thuận, nếu
chất lượng, cách thức bảo quản, đóng gói hàng hóa do các bên thỏa thuận khi soạn thảo
hợp đồng mua bán hàng hóa. Hầu hết hàng hóa công ty đưa vào mua bán trong thị trường
đều có nhãn hàng hóa. Nội dung được thể hiện trên nhãn hàng hóa bao gồm: tên hàng, tên
và địa chỉ của người chịu trách nhiệm về hàng hóa và xuất xứ hàng hóa. Nhãn hàng hóa
được đặt ở vị trí dễ quan sát, bảo đảm thông tin ghi trên nhãn hàng hóa là chính xác.
Công ty luôn đảm bảo cho khách hàng nhận được hàng hóa có chất lượng cao, được giao
với đầy đủ số lượng theo nhu cầu của khách hàng. Chất lượng hàng hóa của công ty luộn
đảm bảo đúng như đã được ghi trong hợp đồng và chứng chỉ chứng nhận chất lượng hàng
hóa.
2.2.1.3. Về kiểm tra hàng hóa
Để hạn chế các rủi ro, công ty luôn tiến hành hoạt động kiểm tra hàng hoá trước khi xuất
kho và khi nhận hàng để đảm bảo hàng hoá đó đúng tiêu chuẩn, quy cách đã thoả thuận
trong hợp đồng. Công ty có quyền từ chối nhận hàng nếu thấy hàng không đáp ứng yêu
cầu và yêu cầu bên mua phải tiếp nhận hàng nếu chứng minh hàng công ty cung cấp là
đúng theo hợp đồng mà hai bên ký kết. Những việc làm này của công ty đã hạn chế phần
nào rủi ro khi giao hàng.
Ví dụ như trong một hợp đồng mua hàng của Công ty có điều khoản: “Bên Mua (Công ty
VGL) có trách nhiệm cử cán bộ kiểm tra sản phẩm trước và trong khi đóng hàng lên
phương tiện vận tải của Bên Mua và xác nhận rằng hàng hóa xếp lên container đảm bảo
số lượng và quy cách đóng gói theo hợp đồng.”
2.2.1.4. Về chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, chứng từ
Quyền sở hữu hàng hóa có thể thực hiện bất cứ lúc nào, có thể trước khi giao hàng, tại
thời điểm giao hàng hay sau khi giao hàng, tùy thuộc vào thỏa thuận các bên trong hợp
đồng. Nếu các bên không có thỏa thuận thì theo quy định của pháp luật hiện hành. Sau
khi chuyển quyền sở hữu, người mua sẽ có toàn quyền đối với hàng hóa đồng thời phải
chịu những rủi ro đối với hàng hóa đố nếu không do lỗi của bên nào.
Ví dụ về điều khoản chứng từ trong hợp đồng mua bán hàng hóa của Công ty:
Trong vòng 15 ngày kể từ ngày giao hàng, bên Bán (Công ty VGL) sẽ gửi chuyển phát
nhanh cho bên Mua những chứng từ sau:
- Vận đơn: 03/3 bản gốc