Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức thiết lập quan hệ. Sự xuất hiện, tồn tại và
phát triển của hợp đồng đã chứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả trong
việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá và tiền tệ. Khi nền kinh tế phát triển, xã hôi văn minh thì
việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng ngày càng cần thiết, càng được coi trọng và
hoàn thiện.
Ở nước ta, việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng đã được áp dụng từ lâu, song
nó chỉ được hoàn thiện hơn và phát triển mạnh khi nước ta bước vào công cuộc đổi mới với nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Để đáp ứng đòi hỏi khách quan
của nền kinh tế cần một hệ thống pháp luật thống nhất để điều chỉnh quan hệ hợp đồng và để tạo
điều kiện thuận lợi về mặt pháp luật khi đất nước hội nhập kinh tế quốc tế, WTO, ngày 14/6/2005
Quốc hội khoá XI đã ban hành Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 1/01/2006 để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Việc ban hành Bộ luật Dân sự 2005 và Luật
Thưoơg mại 2005 là cần thiết và quan trọng, đã tiến một bước dài trong việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng.
Khi đến thực tập tại công ty cổ phần công nghiệp dịch vụ Cao Cường, vấn đè ký kết và
thực hiện hợp đồng của Công ty đã thu hút sự quan tâm của em, trong đó hợp đồng mua bán hàng
hoá chiếm tới 90% tổng số các loại hợp đồng tại Công ty. Hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò
quan trọng đối với mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh. Đó là quan hệ trao đổi hợp pháp mà tất cả các
tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải thực hiện trong quá trình tồn tại và phát triển của chúng.
Bởi vây, em đã chọn đề tài: "Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá - Thực tiễn áp dụng
tại công ty cổ phần công nghiệp dịch vụ Cao Cường" để làm chuyên đề này sẽ chỉ đề cập đến
những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước.
Bố cục của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành ba
chương:
Chương I: Chế độ pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hoá
Chương II: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty cổ phần
công nghiệp dịch vụ Cao Cường
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sản xuất, cơ cấu hàng hóa phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng về số lượng và chất lượng. Nó
xác lập mối quan hệ giữa người bán và người mua trên nguyên tắc cùng có lợi. Thị trường cung
cấp thông tin cần thiết cho nhà kinh doanh và tạo yếu tố cạnh tranh làm động lực cho sự phát triển
sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do trao đổi các sản phẩm
hàng hóa giữa người mua và người bán. Người bán bao giờ cũng muốn bán với giá cao, còn người
mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp, do đó mà cần có sự thống nhất ý chí, có sự thỏa thuận
giữa người bán và người mua thể hiện qua hợp đồng. Như vậy, hợp đồng về bản chất là sự thỏa
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thuận, sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia ký kết theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình
đẳng không trái pháp luật.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng, nếu thiếu hợp
đồng thì nền kinh tế không thể vận hành được.
1.2. Vai trò của hợp đồng trong nền kinh tế thị trường
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp trước đây, hợp đồng kinh tế được coi là
công cụ cơ bản đế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chỉ tiêu kế hoạch là cơ sở để các bên ký
kết hợp đồng kinh tế, do đó mà khi chỉ tiêu kế hoạch thay đổi, các bên cũng phải thay đổi hợp
đồng cho phù hợp. Vi phạm hợp đồng là vi phạm kế hoạch. Trong điều kiện đó hợp đồng kinh tế
chỉ là phương tiện để các đơn vị trao đổi sản phẩm cho nhau một cách hình thức, ghi nhận sự cấp
phát vật tư của Nhà nước cho các đơn vị kinh tế và sự giao nộp sản phẩm của các đơn vị kinh tế
cho Nhà nước mà thôi. Hợp đồng kinh tế "mất đi giá trị đích thực của mình với tư cách là hình
thức pháp lý chủ yếu của quan hệ kinh tế".
Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh
theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng. Nhà nước chỉ có thể sử dụng pháp luật để tác động
vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp
đồng đó và lợi ích chung của toàn xã hội.
Hợp đồng là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của chính các chủ thể
kinh doanh, làm cho kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có thể thực hiện được nếu người sản xuất
mua được nguyên vật liệu và ký được hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của mình. Đồng thời hợp đồng
riêng của cơ quan, xí nghiệp mình mà nhằm thực hiện kế hoạch Nhà nước, vì lợi ích của Nhà
nước. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hợp đồng kinh tế theo Điều lệ tạm thời về hợp đồng
kinh tế. Đặc trưng cơ bản của sự phát triển kinh tế theo kế hoạch tập trung cao.
Ngày 10/3/1975 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/ CP ban hành Điều lệ về
chế độ hợp đồng kinh tế. Đây là bản điều lệ chính thức đầu tiên về chế độ hợp đồng của nước ta
và nó có hiệu lực thi hành đến năm 1989. Để thực hiện hai Nghị định trên Nhà nước đã ban hành
hàng loạt văn bản hướng dẫn việc thực hiện hợp đồng kinh tế như: Quyết định số 113-TTg ngày
11/9/1965 và chỉ thị 17-TTg ngày 20/01/1967 của Thủ tướng Chính phủ...
Từ việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
chúng ta thấy có nhận xét sau đây :
Một là, pháp luật hợp đồng khi đó là công cụ pháp lý của việc thực hiện kế hoạch Nhà
nước. Do nhà nước được coi là pháp lệnh nên việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế là kỷ luật
của Nhà nước đối với các đơn vị kinh tế.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai là, hợp đồng kinh tế là hình thức pháp lý của các quan hệ mang tính chất tổ chức- kế
hoạch, còn yếu tố tài sản chỉ là thứ yếu. Vì những nội dung chủ yếu mà các bên thỏa thuận trong
hợp đồng kinh tế đều đã được xác định trong chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, ý chí của các bên chỉ là
cụ thể hóa ý chí của nhà nước.
Ba là,chủ thể của hợp đồng kinh tế chỉ là các đơn vị tổ chức được giao chỉ tiêu kế hoạch
của nhà nước.
2.1.2. Pháp luật về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, WTO
Xuất phát từ quan điểm đòi hỏi phải mở rộng quyền tự chủ kinh doanh của các đơn vị kinh
tế, Đại hội toàn quốc. Thế mới coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng quan
trọng, coi trọng việc sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hóa- tiền tệ, bảo đảm quyền tự chủ kinh
doanh của doanh nghiệp trong việc tiếp cận với nhu cầu thị trường. khai thác mọi tiềm năng để
phát triển sản xuất kinh doanh, nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch của doanh nghiệp. Cơ chế quản
lý kinh tế mới đòi hỏi phải rà soát lại tất cả các chính sách, chế độ, trong đó có pháp luật về hợp
đồng kinh tế. Vì vậy ngày 25/9/1989 Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế và sau đó một loạt các văn bản như Nghị định số 17/HĐBT , Quyết định số 18/HĐBT ngày
tế năm 1989 là cần thiết bởi hiện nay xu thế toàn cầu hóa , hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa
thương mại đang là vấn đề nổi bật của nền kinh tế thế giới. Từ đó đòi hỏi mỗi quốc gia hoàn thiện
hệ thống pháp luật của nước mình theo hướng đồng bộ và có sự tương thích với luật pháp quốc tế.
Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu
vực. Các định chế và tổ chức kinh tế- thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục
vụ cho kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung và để các nước cùng tham gia vào quá
trình giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện
một cách đơn lẻ. Trong xu thế đó đòi hỏi luật pháp Việt Nam cũng phải theo kịp đời sống kinh tế
đang diễn ra hết sức sôi động, linh hoạt. Và một đặc điểm của luật pháp trong giai đoạn hiện nay
đó là phải nội luật hóa các điều ước quốc tế làm cho hệ thống pháp luật trong nước cũng tương
thích với luật quốc tế bảo đảm cho hội nhập quốc tế. Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên thứ
150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2006 và việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật theo yêu cầu của WTO cũng là một trong các điều kiện để nước ta có đầy đủ điều kiện
để trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại toàn cầu này.
2.2. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
2.2.1. Hợp đồng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Cũng như những chủng loại hợp đồng khác, hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa
các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý trong những quan hệ kinh
doanh cụ thể.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Trong hợp đồng, yếu tố cơ bản nhất là sự thể hiện ý chí, tức là sự ưng thuận giữa các bên
với nhau. Nguyên tắc này là nguyên tắc thỏa thuận và được coi là tiến bộ của kỹ thuật pháp lý
hiện đại.
Nguyên tắc thỏa thuận là hệ quả tất yếu của tự do hợp đồng, khi giao kết hợp đồng các bên
được tự do quyết định nội dung của hợp đồng, tự do xây dựng phạm vi nghĩa vụ của các bên.
Đương nhiên tự do hợp đồng ở tất cả các nước trên thế giới không phải là tự do tuyệt đối mà là tự
do trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng mua bán hàng hóa là giao dịch pháp lý hợp pháp, do vậy
sự ưng thuận ở đây là lẽ công bằng, hợp pháp. Hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu là giao kết dưới tác
động của sự lừa dối, cưỡng bức, đe dọa hay mua chuộc.
theo những quy định của pháp luật về các điều khoản có hiệu lực của hợp đồng.
Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp. Thường thì các bên giao kết phải có
đầy đủ năng lực hành vi.
Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, tức là nó xuất phát từ ý chí
thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận của hợp đồng đó.
Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối tượng hợp
đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnh đó nội dung của
hợp đồng cần cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi.
Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là
có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với
những quy định của pháp luật đối với loại hợp đồng mua bán hàng hóa.
Quan điểm trên cho thấy trong điều kiện cơ chế kinh tế mới, Nhà nước có quan niệm mới
về hợp đồng mua bán hàng hóa, quan niệm chuyển từ thương nhân chỉ được làm những gì nhà
nước cho phép sang được làm những gì nhà nước không cấm, từ đó rút ra những đặc điểm của
hợp đồng mua bán hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Các thương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa
bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. Ngoài ra, hợp đồng
thương mại còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương
mại. Các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp có thể bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty nhà nước, và các tổ chức kinh tế khác. Thương
nhân là cá nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh và tiến hành hoạt động
thương mại một cách thường xuyên, độc lập.
Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa. Hàng hóa theo hợp đồng là hàng hóa được phép mua
bán theo quy định của pháp luật. Theo quy định hiện hành, đối với hàng hóa thuộc danh mục hàng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện thì thương nhân phải thực hiện đầy đủ quy định
hiện hành của pháp luật về kinh doanh các hàng hóa đó.
Nội dung của hợp đồng chứa đựng những nội dung cơ bản của một hợp đồng mua bán
Cùng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại được quy định từ Điều 10 đến
Điều 15 của mục 2 chương 1 Luật Thương mại 2005. Đó là:
-Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại
(Điều 10)
-Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại (Điều 11)
-Nguyên tắc áp dụng thói quen, tập quán trong hoạt động thương mại (Điều 12 và 13)
-Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14)
-Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại
(Điều 15)
Trong các nguyên tắc điều chỉnh chế độ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sau đây xin
được làm rõ một số nguyên tắc quan trọng sau:
1.1. Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng cho phép cá nhân, tổ chức được tự do quyết định trong
việc giao kết hợp đồng với ai, như thế nào, với nội dung, hình thức nào. Hợp đồng phải xuất phát
từ ý muốn chủ quan và lợi ích của các chủ thể. Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận muốn được pháp
luật bảo vệ khi có sự vi phạm quyền và nghĩa vụ dẫn đến tranh chấp thì phải nằm trong khuôn khổ
của pháp luật, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Vì lợi ích của mình, các chủ thể phải hướng
tới việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của người khác cũng như lợi ích của toàn xã
hội.
1.2. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Theo nguyên tắc này, các bên tự nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng phải bảo
đảm nội dung của các quan hệ đó, thể hiện được sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ trong hợp
đồng, bảo đảm lợi ích cho các bên. Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân, tổ chức dù thuộc
thành phần kinh tế nào, do cấp nào quản lý khi ký kết hợp đồng đều bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ. Khi hợp đồng đã được xác lập thì phải bảo đảm quyền và nghĩa vụ tương xứng giữa các chủ
thể, có thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ thì mới được hưởng quyền, nếu vi phạm phải bị xử lý.
Sự bình đẳng được đề cập ở đây là sự bình đẳng về mặt pháp lý, sự bình đẳng trước pháp
luật chứ không phải là sự bình đẳng về mặt kinh tế giữa các chủ thể. Dựa trên cơ sở tự nguyện
cùng nhau giao kết hợp đồng, nhưng nếu giữa các bên không có thiện chí, thiếu sự hợp tác chặt
chẽ với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thì việc xác lập hợp đồng này cũng không mang lại lợi
đích sinh lợi có thể vẫn phải chịu trách nhiệm như thương nhân.
2.1.1. Thương nhân là cá nhân.
Để được công nhận là thương nhân thì một cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
theo quy định của pháp luật và hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên như một
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghề nghiệp. Cá nhân cũng có thể trở thành thương nhân ngay cả khi hoạt động thương mại một
cách độc lập thường xuyên như một nghề mà chưa đăng ký kinh doanh.
Trong lĩnh vực hoạt động thương mại, do thương nhân phải chịu trách nhiệm đầy đủ về
hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau đây không được công nhận là thương nhân:
- Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hính sự, người đang phải chấp hành hình phạt tù;
- Người đang trong thời gian bị tòa án cướp quyền hành nghề vì các tội buôn lậu, đầu cơ,
buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng hóa, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối
khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật.
2.1.2. Thương nhân là tổ chức
Có thể hiểu tổ chức kinh tế trước hết phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân trong quá
trình hoạt động thương mại và hoạt động một cách độc lập. Một tổ chức được công nhận là pháp
nhân khi có đủ các điều kiện sau đây (Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005):
- Được thành lập hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
- Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Song không phải tất cả các tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành thương nhân
mà chỉ có những pháp nhân nào là tổ chức kinh tế được thành lập để hoạt động thương mại mới
trở thành thương nhân. Pháp nhân là tổ chức kinh tế bao gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước.
- Hợp tác xã.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.
nào đó;
- Hình thức miệng (bằng lời nói): Hình thức này được áp dụng trong trường hợp hợp đồng
thỏa thuận thực hiện một công việc cụ thể hoặc giá trị của hợp đồng là không lớn, các bên tin
tưởng lẫn nhau. Cho nên các bên giao kết chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản
của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau;
- Hình thức bằng văn bản (viết): Các bên giao kết hợp đồng cam kết thỏa thuận về quyền
và nghĩa vụ hợp đồng bằng văn bản. Trong văn bản đó, các bên phải ghi rõ nội dung cơ bản mà
các bên đã cam kết với nhau và người đại diện của các bên phải ký tên vào văn bản. Thông điệp
dữ liệu thông qua các phương tiện điện tử cũng được coi là hình thức văn bản. Nếu xảy ra tranh
chấp, hợp đồng được nký kết bằng hình thức văn bản là căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên có cơ sở chắc chắn hơn là bằng hình thức lời nói. Đôi khi đối tượng của hợp
đồng có giá trị lớn, phức tạp, dễ dẫn đến tranh chấp trong quan hệ giao kết thì các bên có thể lập
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thành văn bản có chứng nhận của cơ quan công chứng nhà nước, hoặc của Ủy ban nhân dân cấp
có thẩm quyền nếu nơi đó không có công chứng. Hợp đồng được giao kết bằng hình thức này có
giá trị chứng cứ cao nhất. Vì vậy mà có những quan hệ hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải
giao kết hợp đồng bằng hình thức này nhưng để có căn cứ chắc chắn, các bên nên chọn hình thức
văn bản để giao kết hợp đồng.
4. Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng bao gồm những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng
thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng. Nội dung của hợp đồng xác định
rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, quyết định tính khả thi của hợp đồng cũng như hiệu lực pháp lý
của hợp đồng. Các bên khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng phải bảo đảm là những nội dung
hợp pháp với các điều khoản rõ ràng, cụ thể, có tính hiện thực cao.
Luật Thương mại 2005 đã không quy định về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trên cơ sở xác lập mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, khi xem xét vấn đề nội dung của hợp đồng
mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự. Theo đó, trong hợp
đồng mua bán hàng hóa các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:
- Đối tượng của hợp đồng
của các bên trong hợp đồng, từ đó xác định rõ trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng.
4.3. Điều khoản tùy nghi
Là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên căn cứ vào
khả năng, nhu cầu của các bên để xác định thêm một số điều khoản khác. Trong khuôn khổ pháp
luật, các bên có quyền lựa chọn và thỏa thuận về những hành vi cụ thể. Điều đó nhằm làm cho nội
dung hợp đồng được rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng,
tránh sự hiểu lầm trong quan hệ hợp đồng. Ví dụ thỏa thuận về giám định hàng hóa, kiểm dịch,
hòa giải, trọng tài để giải quyết tranh chấp... Từ vai trò này của điều khoản tùy nghi mà các bên có
quyền tự lựa chọn và tự nguyện thỏa thuận với nhau sao cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng mua bán hàng hóa thuận lợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia.
5. Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được ký kết bằng phương thức trực tiếp hoặc phương
thức gián tiếp.
Ký kết bằng phương thức trực tiếp: Người đại diện có thẩm quyền của các bên trực tiếp
gặp nhau, cùng bàn bạc, thương lượng và thỏa thuận thống nhất về các nội dung của hợp đồng và
cùng ký tên vào văn bản hợp đồng. Hợp đồng được xác lập và phát sinh hiệu lực pháp lý từ thời
điểm các bên có mặt ký vào hợp đồng.
Ký kết bằng phương thức gián tiếp: Các bên không trực tiếp gặp nhau để bàn bạc thảo luận
mà trao đổi qua các tài liệu giao dịch như công văn, điện báo, đơn đặt hàng, đơn chào hàng, thông
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
điệp dữ liệu điện tử... trong đó ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch. Trình tự ký kết hợp đồng
theo phương thức này bao gồm hai giai đoạn : chào hàng và chấp nhận chào hàng.
5.1. Chào hàng
Chào hàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong một thời hạn nhất
định, được chuyển cho một người hay nhiều người đã xác định. Ở giai đoạn này, một bên đưa ra
lời chào hàng, tùy theo nội dung có thể là lời chào bán hoặc chào mua hàng, đồng thời đưa ra một
thời hạn để bên kia xem xét quyết định lập hợp đồng. Luật Thương mại 2005 không quy định hình
thức bắt buộc của chào hàng nói chung song để chuyển tải được đầy đủ những nội dung cần thiết
và tránh hiểu lầm thì hình thức văn bản là cần thiết. Tuy nhiên, hình thức văn bản không phải là
thời điểm chào hàng được chuyển đi cho bên được chào hàng đến hết thời hạn chấp nhận chào
hàng được ghi trong chào hàng. Trong trường hợp thời hạn chấp nhận chào hàng không được xác
định rõ trong chào hàng thì thời hạn trách nhiệm của bên chào hàng được luật quy định là ba mươi
ngày, kể từ ngày chào hàng được chuyển đi cho bên được chào hàng. Thời điểm chấp nhận là thời
điểm bản thông báo chấp nhận được chuyển đi cho bên chào hàng. Đây cũng là thời điểm bắt đầu
trách nhiệm của bên chấp nhận chào hàng. Trong trường hợp bên được chào hàng chấp nhận chào
hàng sau khi hết thời hạn chấp nhận chào hàng quy định thì chấp nhận đó không có hiệu lực, trừ
trường hợp bên chào hàng thông báo ngay cho bên được chào hàng về việc mình chấp nhận dù
quá hạn.
* Thời điểm xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa:
Hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là đã ký kết kể từ thời điểm các bên có mặt ký vào
hợp đồng. Trong trường hợp các bên không cùng có mặt để ký vào hợp đồng, hợp đồng được coi
là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện
đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng. Sau khi hợp đồng mua
bán hàng hóa được ký kết, chỉ bản hợp đồng này có giá trị bắt buộc đối với các bên hợp đồng, mọi
thư từ giao dịch và đàm phán trước đó về hợp đồng đều hết hiệu lực, trừ trường hợp các bên có
thỏa thuận khác.
* Những vấn đề khác trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
- Giao kết hợp đồng theo mẫu: Các bên có thể thỏa thuận giao kết hợp đồng theo mẫu là
hợp đồng được một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý.
- Phụ lục hợp đồng: Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục hợp đồng để quy định một cách
cụ thể, chi tiết một số điều khoản của hợp đồng mà các bên phải làm rõ khi thực hiện hợp đồng để
các bên không thể hiểu mập mờ, mâu thuẫn về các cam kết trong hợp đồng.
- Giải thích hợp đồng: Phải dựa trên những quy định của pháp luật nhằm bảo đảm hợp
đồng là ý chí chung và thể hiện lợi ích của tất cả các bên. Nguyên tắc của việc giải thích hợp đồng
được quy định riêng cho từng trường hợp: hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, khi một điều
khoản của hợp đồng có thể hiểu theo nhiều nghĩa, hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghĩa khác nhau, khi có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu, hợp đồng thiếu một số điều khoản,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình
kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán biết hoặc không thể không biết về các khiếm
khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua (Khoản 5 Điều 44 Luật Thương mại 2005).
Bên bán còn có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa. Theo đó bên bán phải
bảo đảm: (1) quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ
ba; (2) hàng hóa đó phải hợp pháp; (3) việc chuyển giao hàng hóa là hợp pháp.
Ngoài ra, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 46 Luật
Thương mại 2005). Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm
bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn bảo hành đã thỏa thuận và phải chịu các chi phí
về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 49 Luật Thương mại 2005).
1.1.2. Quyền và nghĩa vụ của bên mua
Điều 50 và 55 Luật Thương mại 2005 quy định bên mua có nghĩa vụ:
- Thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận
- Tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã
thỏa thuận và theo quy định của pháp luật
- Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan
đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư
hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng
do lỗi của bên bán gây ra.
Ngoài ra, bên mua mất quyền sở hữu đối với hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng
hóa nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hóa
được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết
hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba (Điều 45 và 46 Khoản 1 Luật Thương mại 2005).
Bên mua cũng có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường hợp: (1) Bên
mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán; (2) Bên mua
có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm nhừng thanh
toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết; (3) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán
đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên
đảm thực hiện hợp đồng như: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo
lãnh.
2.1. Cầm cố tài sản
Là việc một bên giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ (Điều 326 Bộ luật Dân sự 2005). Về hình thức, việc cầm cố tài sản phải được lập thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
văn bản (có thể là văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính). Trong đó ghi rõ đối tượng, giá trị
tài sản, thời hạn cầm cố và phương thức xử lý tài sản cầm cố.
Tài sản cầm cố có thể bị khấu trừ phần nghĩa vụ chưa thực hiện, được giao cho bên nhận
cầm cố cầm trước một tài sản của bên cầm cố để bảo đảm cho quyền lợi của mình. Các bên trong
quan hệ cầm cố có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác, nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu
về năng lực chủ thể.
Khi người có nghĩa vụ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người có quyền, từ thời
điểm đó họ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình. Phải báo cho bên nhận cầm cố
về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, đồng thời thanh toán cho bên nhận cầm cố
những chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố. Nhưng chỉ được bán tài sản cầm cố,
thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu được bên nhận đồng ý, hoặc có thể nhận lại tài
sản khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
Trong thời gian văn bản cầm cố có hiệu lực, người nhận cầm cố tài sản có nghĩa vụ bảo
đảm nguyên giá trị của tài sản cầm cố, không được chuyển dịch sở hữu vật cầm cố cho người
khác cũng như không đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác hoặc không được
khai thác công dụng tài sản cầm cố, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu bên cầm cố
không đồng ý.
2.2. Thế chấp tài sản
Là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ đối với bên kia (bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ, không chuyển
giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho người thứ ba
giữ tài sản thế chấp (Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005 ).
Tài sản thế chấp có thể là toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ đó cũng
2.5. Ký quỹ
Là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá
trị khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 360
Bộ luật Dân sự 2005). Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ
gây ra, sau khi đã trừ chi phí dịch vụ ngân hàng.
2.6. Bảo lãnh
Là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực
hiện nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực
hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 361
Bộ luật Dân sự 2005).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hình thức bảo lãnh bằng văn bản, có thể lập thành văn bản riêng, nếu trong trường hợp
pháp luật quy định thì phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc là ghi vào hợp đồng chính.
Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo
lãnh.
Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi, tiền nợ gốc, tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình
để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ. Đối với một nghĩa vụ có thể có nhiều người cùng bảo lãnh thì phải liên đới thực
hiện nghĩa vụ đó, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định bảo lãnh theo các phần
độc lập hoặc bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người liên đới phải thực hiện
toàn bộ nghĩa vụ.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng dân sự được Bộ luật Dân sự 2005 quy định rất
đầy đủ và chi tiết, bởi vậy trong Luật Thương mại 2005 không quy định lại nữa. Khi các bên cần
chọn biện pháp để bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa thì có thể áp dụng các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 đã được trình