Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá Thực tiễn áp dụng tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhật Việt - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ - THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHẬT VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT THƯƠNG MẠI
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Thái Trường
Bộ môn : Luật chuyên ngành
Sinh viên thực hiện:
Lưu Thị Minh Trang
Lớp: K47P2
HÀ NỘI, 2015
TÓM LƯỢC
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực
hiện chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đồng thời, hoạt động mở rộng quan hệ đối
ngoại và chủ động hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị… đã
giúp cho các mối quan hệ về kinh tế, dân sự, thương mại phát triển đa dạng và không
ngừng tăng thêm về số lượng cũng như chất lượng của các hợp đồng. Để tạo ra môi
trường pháp lý ổn định, bảo đảm an toàn pháp lý cho các cá nhân và tổ chức khi tham
gia quan hệ hợp đồng thì cần phải bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật, trong đó bao
gồm các quy định pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói
riêng. Nội dung cơ bản của khóa luận được tóm lược như sau: Chương 1 khóa luận
nghiên cứu một cách chi tiết về khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Từ các phân tích về hợp đồng mua bán hàng hóa, khóa luận cũng làm rõ được vai trò
của nó đối với nền kinh tế xã hội. Đối với chương 2, khóa luận tập trung đánh giá về
thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa. Qua đó rút ra được
những khó khăn trong việc áp dụng và thi hành các quy định pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa của các doanh nghiệp. Sau khi đánh giá thực trạng về việc áp dụng

UNIDROIT năm 2004
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận.
Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO năm
2007, luật pháp Việt Nam đã có những thay đổi căn bản nhằm thu hẹp khoảng cách
giữa phap luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài, tạo sân chơi bình đẳng cho các bên
tham gia vào hoạt động thương mại tại Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đã thông qua
nhiều đạo luật mới trong đó có Bộ luật dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 thay thế
cho Bộ luật dân sự và luật thương mại cũ đồng thời chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế. Đây được xem là sự thay đổi lớn và cần thiết với hệ thống pháp luật
Việt Nam nói chung và pháp luật về hợp đồng nói riêng.
Như chúng ta đã thấy, trong đời sống xã hội, hợp đồng là một hình thức thiết lập
quan hệ giữa người với người. Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã
chứng minh đó là một hình thức pháp lý thích hợp và hiệu quả. Khi nền kinh tế phát
triển thì việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ hợp đồng ngày càng cần thiết và hoàn
thiện. Mua bán hàng hoá là hoạt động chính trong hoạt động thương mại, là cầu nối
giữa sản xuất và tiêu dùng và không chỉ giới hạn ở phạm vi mỗi quốc gia mà còn mở
rộng ra cả các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới. Khi hai bên tiến hành mua bán
hàng hoá với nhau thì nảy sinh một hình thức được hai bên ký kết có thể bằng miệng,
bằng văn bản, bằng email, fax… mà người ta gọi là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hợp
đồng mua bán hàng hoá rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá
phổ biến trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Trong hệ
thống pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp
đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự (BLDS)
1995, Luật Thương mại (LTM) 1997… và cho đến nay là hai văn bản pháp luật mới
được ban hành BLDS 2005 và LTM 2005.
Như vậy, có thể nói hợp đồng mua bán hàng hoá là một nội dung không thể thiếu
trong hoạt động kinh doanh. Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hoá sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng

Quốc gia Hà Nội, năm 2012. Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và
pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và phân
tích một cách có hệ thống về thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam về giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Đồng thời, luận văn còn so sánh
pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài.Từ thực tiễn ấy luận văn đề xuất các kiến nghị hoàn thiện
cho pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài.
- Luận văn Thạc sỹ “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
của tác giả Nguyễn Thị Hường, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010 đã nghiên
cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tự do giao kết hợp đồng. Bên cạnh đó, luận
6
văn còn phân tích những khía cạnh cơ bản của nguyên tắc quyền tự do giao kết hợp
đồng và các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này và đề xuất những kiến nghị cụ thể
nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam.
- Bài viết “Hợp đồng: thuật ngữ và khái niệm” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh
được đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 08/2006. Bài viết nói về vấn đề xác
định các thuật ngữ liên quan đến hợp đồng. Thêm vào đó, bài viết cũng đưa ra hai yếu
tố: sự thỏa thuận và mục đích tạo lập hiệu lực pháp lý. Hợp đồng thương mại không
được hình thành nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên hoặc nếu sự thỏa thuận
không nhằm mục đích tạo lập hệ quả pháp lý, tức làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân
sự. Tuy nhiên bài viết mới chỉ sơ lược về những yếu tố có liên quan, mà chưa đi cụ thể
từng vấn đề có liên quan, nhất là vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia
hợp đồng thương mại.
Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ nghiên cứu hợp đồng ở một số khía cạnh,
lĩnh vực nào đó mà chưa luận giải một cách đầy đủ. Vì vậy bài khóa luận này sẽ đi sâu
phân tích cụ thể vấn đề ký kết và thực hiện hợp đồng theo luật hiện hành và áp dụng cụ
thể vào công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhật Việt. Từ đó, chỉ ra các bất cập và đưa ra giải
pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp đồng
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.

4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa kể từ
khi Bộ luật dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005 ban hành cho đến nay.
- Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán
hàng hóa tại Việt Nam, nghiên cứu điển hình tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhật
Việt.
- Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa và các vấn đề lý luận, thực tiễn trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn đề lý
luận và pháp lý liên quan đến các qui định về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa.
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: phương pháp
tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic… Dưới đây
là hai phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập thông tin là làm cơ sở lý
luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa.
+ Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng quan
quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa
8
nói riêng như: LTM 2005, BLDS 2005, các văn bản pháp luật có liên quan từ đó đưa ra
một số nội dung pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa.
+ Thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa trong công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhật Việt để làm rõ thực trạng áp dụng
pháp luật hợp đồng trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
tại công ty
-Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, người viết phân tích đánh giá nội dung

thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh
các nghĩa vụ ràng buộc các bên.
Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được
tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu
của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triển
phong phú và đa dạng. Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành Việt Nam tại Điều 3
khoản 2 LTM 2005 thì “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất động
sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. Cũng tại Điều 3 khoản
8 của Luật này cũng quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó
các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận
thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hoá theo đúng thoả thuận”
1.1.2.Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau. Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai
văn bản pháp luật quan trọng là BLDS 2005 và LTM 2005. Theo quy định của Điều
428 BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận
tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Theo điều 163
10
BLDS 2005 thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. LTM
2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ đưa ra khái niệm
về hoạt động mua bán hàng hoá. Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là
hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là
động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại. Từ hai định nghĩa trên
có thể thấy hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của LTM 2005 là một dạng cụ
thể của hợp đồng mua bán tài sản. Bên cạnh đó cũng cần phân biệt hợp đồng mua bán
hàng hoá với các hợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng
hoá, gia công hàng hoá… Mua bán hàng hoá khác với quan hệ thuê mua tài sản. Khi

bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành
vi mua bán hàng hóa:
- Thứ nhất, chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân.
Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng
có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Hoạt động của bên chủ thể
không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán
hàng hoá phải tuân theo LTM khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
- Thứ hai, mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa khác với các hợp đồng khác.
Hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi nhuận
cho các thương nhân. Vì chủ thể chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá là thương
nhân, mà đã nói đến thương nhân thì khó có thể không nhắc đến lợi nhuận, hoạt động
chính của họ là kinh doanh và thu lợi nhiận, không có lợi nhuận họ không thể tồn tại
lâu dài dù vốn đầu tư có lớn đi nữa
- Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc
bằng hành vi cụ thể. Điều này được quy định cụ thể tại điều 401 BLDS 2005. Cũng tại
điều 24 LTM 2005 quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa thì hợp
đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập
bằng hành vi cụ thể. Chủ yếu các hợp đồng mua bán hàng hóa được thành lập bằng
văn bản, bởi việc giao kết hợp đồng bằng văn bản mang tính đảm bảo cao hơn so với
các hình thức khác. Hơn nữa, do hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra là nhằm mục
đích sinh lợi nên việc ký kết hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản.
- Thứ tư, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa. Theo LTM 2005, hàng hóa được
định nghĩa “bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương
lai; các vật gắn liền với đất đai” (khoản 2 điều 3 LTM 2005). Hàng hóa là đối tượng
mua bán phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà
nước (Nghị định 59/2006/NĐ- CP ngày 12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh
mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các
quy định của pháp luật về mua bán các loại hàng đó.
12
- Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên

điều tiết các hoạt động kinh tế đối ngoại sao cho nền kinh tế không bị lệ thuộc vào
nước ngoài. Vì vậy, hệ thống pháp luật của Việt Nam luôn luôn thay đổi sao cho phù
hợp với các quy định chung trên thế giới khi có sự hợp tác với nước ngoài và sự đa
dạng trong hoạt động thương mại, đặc biệt là hoạt động mua bán hàng hóa. Việc xây
13
dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đối với nước ta là một quá trình lâu dài. Vì thị
trường luôn luôn biến động nên hệ thống pháp luật cũng phải được bổ sung hoàn
chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế. Do vậy, Quốc hội đã thông qua
BLDS 2005 thống nhất điều chỉnh các mối quan hệ về hợp đồng nói chung và LTM
2005 quy định mang tính chuyên ngành về hợp đồng mua bán hàng hóa để giải quyết
những bất cập nêu trên, đồng thời để đáp ứng nhu cầu hội nhập WTO, phù hợp với sự
phát triển của kinh tế nước ta
 Cơ sở về xã hội
Trong nhà nước pháp quyền, mọi quan hệ xã hội đều cần được điều chỉnh bởi pháp
luật. Quan hệ mua bán hàng hóa là một phần của quan hệ xã hội. Thực chất hoạt động
mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa hai bên nhằm mục đích kinh doanh, sao cho
hai bên đều được hưởng lợi ích tối đa. Việc ban hành các quy định về mua bán hàng
hóa thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể
tham gia, từ đó tạo điều kiện xây dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp
giữa cá nhân, tổ chức trong xã hội.
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung do Nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện bởi quyền lực nhà nước để điều
chỉnh những quan hệ xã hội giữa các cá nhân, tổ chức. Như đã phân tích ở trên, hợp
đồng mua bán hàng hóa thể hiện mối quan hệ hợp đồng phát sinh trong hoạt động mua
bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua nên những quan hệ đó được điều chỉnh bởi các
quy định, quy tắc xử sự chung của nhà nước.
Như vậy, pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa là tập hợp những quy
phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các

mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều
kiện.
 Quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Trên cơ sở Bộ luật Dân sự 2005 và Luật thương mại 2005 là căn cứ pháp lý quan
trọng nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa, nội dung pháp luật điều chỉnh hợp
đồng mua bán hàng hóa có thể chia thành các nhóm quy phạm sau:
- Các quy phạm quy định về chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa: Chủ
thể giao kết hợp đồng là những cá nhân hay tổ chức đáp ứng đủ các điều kiện của pháp
luật được phép tham gia hoạt động mua bán hàng hóa, được thỏa thuận và ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa, khi đó hợp đồng mua bán hàng hóa mới có giá trị pháp lý
ràng buộc các bên.
- Các quy phạm quy định về nội dung và hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa:
LTM 2005 không quy định nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng trên
15
cơ sở hợp đồng nói chung thì nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể căn
cứ vào các quy định của BLDS 2005. Tuy nhiên, LTM 2005 quy định cụ thể về thanh
toán, quyền sở hữu hàng hóa và quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán
hàng hóa.
- Các quy phạm về trình tự thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa: Bất cứ
loại hợp đồng nào cũng phải được giao kết theo một trình tự thủ tục nhất định, đó là
cách thức mà các bên phải tiến hành nhằm xác lập mối quan hệ hợp đồng có giá trị
pháp lý. BLDS 2005 quy định cụ thể và chi tiết về đề nghị giao kết hợp đồng, thời hạn
trả lời chấp nhận đề nghị giao kết, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng…
- Các quy phạm khác về hợp đồng mua bán hàng hóa: BLDS 2005 và LTM 2005
cũng quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, trách
nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.3.Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.1. Nguyên tắc trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận, không được trái pháp luật, đạo đức xã

các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, tức là tất cả các quyền và nghĩa vụ phát
sinh từ quan hệ hợp đồng đều phải được thực hiện đầy đủ. Cụ thể là thực hiện đúng
đối tượng, đúng chất lượng, đúng thời gian, đúng số lượng, đúng phương thức thanh
toán và các thoả thuận khác trong hợp đồng.
- Nguyên tắc giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng: Nguyên tắc này
đòi hỏi các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau, thường xuyên theo dõi và giúp đỡ nhau
để thực hiện đúng và nghiêm chỉnh mọi điều khoản của hợp đồng, giúp nhau khắc
phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế.
Qua chương 1, tác giả đã đưa ra khái niệm về hợp đồng nói chung và hợp đồng
mua bán hàng hóa nói riêng với những đặc điểm đặc trưng của nó. Bên cạnh đó, tác
giả cũng đã khái quát được nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa mà
pháp luật điều chỉnh, thấy được tầm quan trọng của nó trong đời sống hàng ngày. Giao
kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa luôn luôn diễn ra xung quanh chúng ta.
Và để cho mọi người có hiểu rõ hơn về hợp đồng mua bán hàng hóa, tác giả sẽ đi sâu
phân tích thực trạng đồng thời chỉ ra những thành công và bất cập của pháp luật điều
chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam tại chương 2
17
Chương 2
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN NHẬT VIỆT
18
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh
hợp đồng mua bán hàng hóa
2.1.1. Tổng quan tình hình về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa
Khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị
trường, các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế cũng có sự thay đổi. Trong điều
kiện đó, điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày
10/3/1975 không còn phù hợp nữa. Nhà nước đã ban hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế

của từng loại hợp đồng, phạm vi chủ thể có quyền giao kết có những sự khác nhau
nhất định. Theo BLDS 1995, các chủ thể của hợp đồng dân sự bao gồm: cá nhân (có
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự), pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình. Tại
Điều 5 LTM 1997 cũng quy định chủ thể của hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là
cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương
mại. Như vậy, phạm vi chủ thể có quyền giao kết hợp đồng được mở rộng đáng kể.
Thứ hai là về hình thức hợp đồng. BLDS 1995 và LTM 1997 đều quy định hình
thức có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể. Các chủ thể khi giao kết hợp đồng có
thể lựa chọn bất kỳ hình thức nào kể cả fax, email…mà vẫn bảo đảm chặt chẽ cần thiết
về mặt pháp lý. Trong khi đó, PL HĐKT lại bắt buộc các chủ thể khi ký kết thì hợp
đồng phải được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc những giấy tờ có giá trị tương đương.
Như vậy, với những quy định mở rộng về chủ thể giao kết và hình thức giao kết
mà BLDS 1995 và LTM 1997 đã phần nào giải quyết mâu thuẫn tư tưởng của PL
HĐKT về quyền tự do hợp đồng, mở rộng phạm vi điều chỉnh các loại hình doanh
nghiệp mà PL HĐKT không điều chỉnh. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật quy định về
hợp đồng đang tồn tại này khi đưa vào thực thi lại xuất hiện nhiều vấn đề bất cập.
Trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng, chúng ta thấy có ba khái
niệm cùng tồn tại: hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại. Các hợp
đồng này có những điểm đặc trưng về hợp đồng nhưng giữa chúng vẫn tồn tại thiếu sót
như sự trùng lặp, thiếu nhất quán và không đồng bộ gây ra không ít sự vướng mắc, khó
khăn trong việc áp dụng pháp luật để tiến hành giao kết hợp đồng và giải quyết tranh
chấp. Với thực trạng pháp luật về hợp đồng như hiện nay thì việc duy trì khái niệm
hợp đồng kinh tế và hệ thống các văn bản pháp luật quy định riêng về nó là không cần
thiết. Hơn nữa, cách thức áp dụng các văn bản pháp luật để điều chỉnh một quan hệ
hợp đồng cụ thể cũng không rõ ràng, có thể áp dụng các quy định của BLDS 1995 để
điều chỉnh quan hệ hợp đồng kinh tế được hay không? Thứ tự ưu tiên áp dụng các văn
quy định trong văn bản pháp luật chuyên ngành so với các quy định trong BLDS 1995,
LTM 1997, PL HĐKT như thế nào? Như vậy, một yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần sớm
ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới để thống nhất sự điều chỉnh của pháp luật
về hợp đồng. [9, tr.8]

Thứ tư là nguồn lực của doanh nghiệp. Nhân tố này ảnh hưởng lớn đến hợp đồng
nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, nó có thể tác động trực tiêp đến
việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng hơn, đơn giản hơn và hiệu quả hơn hoặc ngược
lại.
21
Thứ năm là vấn đề thời tiết. Đây là nhân tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực
tiếp tới thực hiện hợp đồng, các bên trong hợp đồng không thể tác động tới. Sự ảnh
hưởng này tác động từ khâu sản xuất đến giao hàng. Trong sản xuất nó tác động từ
khâu nguyên liệu đến thời gian hoàn thành sản phẩm , thời tiết thuận lợi thì mọi việc
sẽ suôn sẻ, nhưng thời tiết xấu thì có thể ảnh hưởng tới chất lượng nguyên liệu, làm
chậm tiến độ sản xuất và kéo dài thời gian giao hàng.
2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán
hàng hóa
2.2.1. Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được giao kết giữa thương nhân với thương
nhân hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân.
a. Chủ thể là thương nhân
Theo Điều 6 LTM 2005 thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập
hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
LTM 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiện đăng ký
kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưng đối với
trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi
hoạt động của mình. Quy định này đã giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế là
người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi là
thương nhân không. Bên cạnh đó, những quy định này lại có phần không rõ ràng vì nó
không giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thương mại. Vì
vậy một tổ chức, cá nhân trước khi đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi không
nhằm mục đích sinh lợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm như với thương nhân.
[10, tr. 4]
Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy được thừa nhận là

Công ty cổ phần; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Các tổ chức kinh tế khác có
đủ điều kiện theo quy định là thương nhân. Theo quy định của LTM năm 2005 hộ gia
đình và tổ hợp tác không được xếp là tổ chức hay cá nhân.
b. Chủ thể không phải là thương nhân.
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân
không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân.
Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và
thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên. Bên không phải là
thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực vì hành vi để tham gia giao kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật. Đó có thể là cá
nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng
23
có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập và thường
xuyên như một nghề.
2.2.2. Nội dung và hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa
Để hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực, thì nội dung các thoả thuận trong hợp
đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Trong LTM 2005 không quy định
nội dung giao kết của hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng trên cơ sở hợp đồng nói
chung có thể khái quát nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo Điều 402
BLDS 2005
Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những nội dung mà khi các bên giao kết với
nhau đều phải thoả thuận, nếu chưa thoả thuận được thì coi như chưa giao kết hợp
đồng. Khi đã thoả thuận được nội dung chủ yếu thì hợp đồng mua bán hàng hoá coi
như đã có hiệu lực pháp lý. Nội dung khác các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp
đồng, khi các bên không ghi vào hợp đồng thì mặc nhiên chấp nhận những quy định
chung của pháp luật về vấn đề đó hoặc chấp nhận những tập quán thói quen trong hoạt
động thương mại.
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá là cách thức thể hiện ý chí thoả thuận
giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự
2005 thì hợp đồng mua bán hàng hoá có thể giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng

hàng được chấp nhận, và nêu rõ hàng hóa, ấn định hoặc quy định cách xác định số
lượng và giá cả. Hơn nữa, Khoản 2 Điều 14 CISG cũng phân biệt một chào hàng với
một lời mời đưa ra chào hàng. Theo đó, một đề nghị không gửi cho những người xác
định chỉ được coi là một lời mời đưa ra chào hàng. Nội dung này không có quy định
tương ứng trong pháp luật Việt Nam.
Thứ hai về thời điểm để một chấp nhận chào hàng có hiệu lực
Pháp luật Việt Nam quy định trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực
khi được thực hiện trong thời hạn được bên đề nghị ấn định. Theo khoản 1 Điều 397
BLDS 2005 thì nếu bên đề nghị nhận được trả lời khi đã hết thời hạn đó thì chấp nhận
này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời. Mặt khác, nếu căn cứ vào khoản 2
Điều 18 CISG thì thời điểm chấp nhận chào hàng tới nơi người chào hàng. Một chấp
nhận chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người chào hàng trong thời hạn quy định
hoặc trong một thời hạn hợp lý (nếu không ấn định thời hạn). Ngoài ra, theo khoản 2
điều 18 CISG và khoản 2 điều 397 BLDS 2005 đều yêu cầu một chào hàng bằng
miệng phải được chấp nhận ngay lập tức, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo Điều 19 CISG ghi nhận trường hợp trả lời chấp nhận chào hàng có kèm theo
những nội dung sửa đổi đề nghị chào hàng ban đầu sẽ cấu thành một chào hàng mới,
trừ khi những sửa đổi không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng ban
đầu. Các yếu tố sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, chất lượng và
25

Trích đoạn BẢNG KÊ CÁC HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH NHẬT VIỆT NĂM Đánh giá chung về thực trạng áp dụng các quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH Nhật Việt Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu Quan điểm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status