một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạ công ty TNHH dệt may - Pdf 27

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 5
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 7
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 8
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết
và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 10
1.1.1 Khái niệm hợp đồng 10
1.1.3 Khái niệm hàng hóa 10
1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá 10
1.1.4 Khái niệm thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.1.5 Khái niệm vi phạm hợp đồng 11
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa 11
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật 11
1.2.1.1Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa 11
1.2.1.2 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 11
1.2.1.3 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 12
1.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 13
1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết 13
1.2.2.1.1 Chủ thể 13
1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa 14
1.2.2.1.3 Nguyên tắc kí kết hợp đồng 14
1.2.2.1.4 Đề nghị kí kết hợp đồng 14
1.2.2.1.5 Chấp nhận đề nghị kí kết hợp đồng 15

2.3.2. Thực tiễn thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty TNHH dệt may
Hưng Thịnh 33
2.3.2.1 Thực hiện hợp đồng 33
2.3.2.1.1Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa 33
2.3.2.1.2. Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa 33
2.3.2.1.3. Thực hiện nội dung về giá cả, phương thức thanh toán. 34
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 34
2.4.1 Thuận lợi 34
2.4.2. Những khó khăn của công ty 35
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết
và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa 37
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hóa. 37
3.2 Một số kiến nghị 39
3.2.1.Kiến nghị về phía nhà nước nhằm hoàn thiện pháp luật 39
3.2.1.1 Nhà nước cần ban hành một hệ thống pháp luật văn bản pháp lý thống nhất,
ổn định và minh bạch. 39
3.2.1.2 Cần nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa 40
3.2.1.3 Nâng cao vị thế của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp
về hợp đồng mua bán hàng hóa. 41
3.2.2 Kiến nghị về phía doanh nghiệp 41
3.2.2.1 Về công tác soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hoá 41
3.3 Những vấn đề đặt ra 43
KẾT LUẬN 44
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS Bộ Luật Dân sự

nhiễu và bảo vệ quyền lợi của chính mình.Tồn tại song song với sự phát triển mạnh mẽ
về kinh tế thì các quy định về hoạt động của doanh nghiệp cũng ngày càng được hoàn
thiện nhằm mục đích tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, giúp các doanh
nghiệp thuận lợi hơn trong sự phát triển sự nghiệp của mình. Bên cạnh đó, với mỗi doanh
nghiệp tùy thuộc và loại hình doanh nghiệp, nghành nghề kinh doanh mà các quy phạm
pháp luật điều chỉnh cũng khác nhau.
Kiến thức pháp lý của cán bộ, nhân viên còn hạn chế nên chưa nắm được đầy đủ
quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với công ty.
Công tác quản lý còn nhiều bất cập, các chức năng của từng bộ phận chưa thực sự
cụ thể, rõ ràng. Nhiều khi chồng chéo gây nên chậm chạp trong quá trình xử lý công việc.
Do trong Công ty không có phòng pháp chế nghiên cứu về pháp luật nên những
vướng mắc, hạn chế của pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty chưa được giải đáp. Việc ký kết các hợp đồng có yếu tố nước ngoài còn rất hạn chế về
số lượng. Hợp đồng giữa công ty và đối tác còn sơ sài, chưa chặt chẽ, chưa tính đến hậu
quả cũng như phương hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
Việc áp dụng luật pháp trong công ty còn nhiều bất cập, thiếu sót như người sử
dụng lao động áp dụng xử lý người lao động còn tùy tiện và không hợp lý. Về phía người
lao động thì kiến thức hiểu biết về pháp luật chưa cao, ý thức kỷ luật kém dẫn đến những
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
tổn thất không đáng có cho công ty. Hơn thế nữa các quy định thường xuyên có sự thay
đổi đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự am hiểu pháp luật nếu muốn gặp rủi ro về pháp lý
hay mất cơ hội kinh doanh.
Việc soạn thảo hợp đồng của công ty với đối tác không được chặt chẽ và vẫn có kẽ
hở nên khi có xảy ra tranh chấp với khách hàng là khó tránh khỏi vì vậy công ty nên tạo
cho mình một mẫu hợp đồng sẵn và rà soát lại các nội dung trong hợp đồng để tránh khỏi
những tranh chấp không đang có khi xảy ra mâu thẫn với khác hàng.
Mặc dù, môi trường pháp lý đã tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp nhưng do
pháp luật còn thiếu ổn định khiến doanh nghiệp gặp không ít khó khăn đặc biệt là khi ký

SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
- Luận văn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đàm phán, kí kết và thực hiện hợp
đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty cổ phần vật tư bưu điện”. Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Oanh. Trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu các hoạt động kinh doanh nhập
khẩu của công ty sau đó phân tích quá trình đàm phán, kí kết và thực hiện hợp đồng nhập
khẩu thiết bị của công ty để tìm ra những mặt phù hợp và mặt chưa phù hợp của công ty.
/>thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-thiet-bi-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-buu-dien-potmasco-
pdf.htm
- Khóa luận: “Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty TNHH
Nhất Nước”. Tác giả Mai Thị Thương, lớp luật kinh doanh 48, trường đại học Kinh Tế
Quốc Dân. Tác giả trong tiểu luận này tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp
đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty. Từ đó, tìm ra những vấn đề còn
tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa, đồng thời đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả
trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
/>tai-cong-ty-tnhh-nhat-nuoc.htm
- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả: Đặng Văn Vũ, khoa luật kinh tế, trường đại học
Kinh Tế Quốc Dân, do TS.Đỗ Kim Hoàng hướng dẫn thực tập. Đề tài của tác giả là:
“thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu
hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình”. Trong đề tài này tác giả
nghiên cứu khái quát những vấn đề pháp lý chung về kí kết và thực hiện hợp đồng nhập
khẩu hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình, để tìm hiểu những
vấn đề thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân tồn tại những khó khăn trong việc kí kết và
thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa tại công ty.
/>ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-hang-hoa-tai-cong-ty-co-phan-vat-tu-bao-ve-
thuc-vat-hoa-binh.htm
- Đề tài khóa luận: “Cơ sở pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu Ninh

điều tất yếu. Do đó một trong những điểm thành công trong các đề tài nghiên cứu đó là
phát hiện ra được những bất cập còn thiếu sót, những mặt còn hạn chế. Từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Nhận thấy được vai trò quan trọng trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng trong
hoạt dộng mua bán hàng hóa nên em đã chọn đề tài “một số vấn đề pháp lý về kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH dệt may
Hưng Thịnh” để tìm hiểu và nghiên cứu. Qua việc lựa chọn đề tài này, em muốn tập
trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp
dụng tại công ty. Từ đó, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm
góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời em
cũng đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh
hàng hóa.
Trên cơ sở lý luận và pháp luật điều chỉnh về các vấn đề liên quán đến kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa để hiểu rõ hơn vai trò và pháp luật điều chỉnh về
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đưa ra những điểm còn bất cập, hạn chế cần khắc phục để tìm hướng giải quyết
trong vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu chế độ pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa. Lấy xuất phát điểm là lời chào hàng, chấp nhận lời chào hàng, trình tự kí
kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa từ đó liên hệ thực tiễn tại công ty TNHH
dệt may Hưng Thịnh.
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
+ Làm rõ hơn các lý luận pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề về kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU
CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể
1.1.2 Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
thông qua trao đổi, mua bán.
Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa được định nghĩa “bao gồm tất cả các loại
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; các vật gắn liền với đất đai” (khoản
2 điều 3 Luật thương mại 2005). Hàng hóa là đối tượng mua bán phải không thuộc danh
mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định 59/2006/NĐ- CP
ngày 12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh
có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp luật về mua bán các loại
hàng đó.
1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thể thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau.

nghĩa vụ mà mỗi bên tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng các quyền tương
ứng của bên kia theo như nội dung đã thỏa thuận cam kết trong hợp đồng.
1.1.5 Khái niệm vi phạm hợp đồng
Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi mà các bên vi phạm những điều quy
định đã được thỏa thuận và những quy định pháp luật theo điều 320 của Luật Thương mại
năm 2005.
Chế định trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng có vai trò bảo đảm, củng cố kỷ luật
hợp đồng, phòng ngừa vi phạm pháp luật về hợp đồng, tăng cường ý thức trách nhiệm
của các bên trong việc thực hiện cam kết: Khi các bên tự nguyện giao kết hợp đồng thì họ
sẽ bị ràng buộc bởi chính những cam kết đó, ngay cả khi một bên không có lợi ích phát
sinh; những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng đều
bị đe dọa phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm hợp đồng; việc áp dụng trách nhiệm
hợp đồng với các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, phạt hợp đồng, bồi thường thiệt
hại… chính là những biện pháp bảo hộ pháp lý đảm bảo , củng cố kỷ luật hợp đồng.
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa
1.2.1.1Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.2.1.2 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Luật Thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong
thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự
để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 Bộ Luật Dân sự
năm 2005 , hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có
nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và
trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong
tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp
hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ
thể của hợp đồng mua bán tài sản. Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa
trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích
sinh lời. Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào là tùy thuộc vào
quy định của pháp luật từng quốc gia. Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng

thống nhất ý chị giữa các bên tham gia ký kết hợp đồng theo nguyên tắc tư do, tự nguyện
và bình đẳng, không trái pháp luật.
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý
là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp
đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong
quan hệ mua bán hàng hóa. Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởi hợp đồng
giữa các bên và quy định của pháp luật. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung
của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Để đảm bảo lợi ích của cả người bán và người mua
việc xác lập những quy tắc chung trong quá trình mua bán ký kết hợp đồng, thực hiện
hợp đồng là yếu tố rất quan trọng. Do vậy việc thiết lập luật về hợp đồng mua bán trở
thành yếu tố tiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được phát triển ổn định và bền
vững.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
1.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết
1.2.2.1.1 Chủ thể
Chủ thể là thương nhân.
Để xác định một thoả thuận có phải là một HĐMBHH hay không thì việc trước tiên
là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là tư nhân hay không, sau đó
mới xét đến đối tượng của hợp đồng. Thường nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng
ký kinh doanh.
LTM năm 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiện
đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưng đối
với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi
hoạt động của mình. Quy định này đã được giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế
là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có được coi là

Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức, là chủ yếu của
HĐMBHH. Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp nhằm mục đích hoạt động thương
mại một cách độc lập, thường xuyên và có ĐKKD sẽ được coi là thương nhân. Một tổ
chức được công nhân là pháp nhân khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84- BLDS
năm 2005. Không phải tất cả những tổ chức được coi là pháp nhân đều có thể trở thành
thương nhân mà chỉ có pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh được thành lập để hoạt động
thương mại mới trở thành thương nhân. Pháp nhân là tổ chức kinh tế gồm: Doanh nghiệp
Nhà nước; Hợp tác xã; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài; Các tổ chức kinh tế khác có đủ điều kiện theo quy định là thương
nhân. Theo quy định của LTM năm 2005 hộ gia đình và tổ hợp tác không được xếp là tổ
chức hay cá nhân.
Chủ thể không phải là thương nhân.
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân
không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân.
Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và
thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên khác với bên là
thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực vì hành
vi để tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH theo quy định của pháp luật. Đó có thể là
cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng
có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập và thường xuyên
như một nghề.
1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết bằng văn bản giữa thương nhân với
thương nhân, giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhân nhằm
mục đích mua bán, trao đổi hàng hóa
1.2.2.1.3 Nguyên tắc kí kết hợp đồng:
Theo Điều 389 Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các
nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã
hội:

Chấp nhận đề ghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyển cho
bên đề nghị về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết hợp
đồng. Về vấn đề này Điều 18 công ước viên 1980 cũng quy định rõ:" Tuyên bố, hành
động nào đó của người được chào hàng thể hiện sự đồng ý với đơn chào hàng được gọi
là việc chấp nhận. Thái độ im lặng hoặc không hành động không phải khác là việc chấp
nhận đơn chào hàng". Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó
là hành vi, hành động mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua bán hàng hoá.
Không thể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi
nghi giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi họ không có biểu hiện nào
bên ngoài để cho người đề nghị biết là mình đồng ý với toàn bộ đề nghị giao kết hợp
đồng thời hạn trách nhiệm của bên đề nghị bắt đầu từ thời điểm đề nghị giao kết hợp
đồng được chuyển đi cho bên được đề nghị đến hết thời hạn ghi trong đề nghị giao kết
hợp đồng.
Tuy nhiên, để tạo mọi khả năng để các bên có thể tiến tới giao kết hợp đồng mua
bán hàng hoá các bên có thể tiến hành hành động khác khi nhận được chấp nhận đề nghị
quá giới hạn. Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được thông báo chấp
nhận đề nghị sau khi hết thời hạn chờ trả lời thì lời đề nghị đó được coi như là đề nghị
mới của bên chậm trả lời: Nghĩa là đã xuất hiện một đề nghị giao kết hợp đồng mới từ
phía đối tác của người đã đề nghị và người đã đề nghị nếu tiếp tục chấp nhận thì trở thành
người chấp nhận đề nghị. Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến
chậm vì lý do khách hàng, mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
thông báo chấp nhận giao kết này vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời
ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có điều
kiện sửa đổi, bổ sung một trong những nội dung của đề nghị thì hành vi đó được coi là từ
chối đề nghị và hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới. Như vậy, nếu bên được
đề nghị sửa đổi, bổ sung đề nghị không làm thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao

- Số lượng, chất lượng.
- Giá, phương thức thanh toán.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
- Quyền, nghĩa vụ của các bên.
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
- Phạt vi phạm hợp đồng.
- Các nội dung khác.
1.2.2.2.3 Thực hiện các điều khoản
Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa.
Điều khoản về đối tượng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty rất lưu ý đến điều khoản này, thực hiện giao
hàng đầy đủ số lượng, trọng lượng hàng hóa theo đơn vị đo lường mà hai bên đã thỏa
thuận. Trong hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hóa mà công ty ký kết, khi thực hiện
điều khoản này, nếu bên nhận hàng kiểm tra thấy chất lượng hàng không phù hợp với
hợp đồng thì yêu cầu bên kia giao hàng đúng chất lượng đồng thời bồi thường thiệt hại
nếu có. Trường hợp giao hàng không đúng số lượng thì bên mua nhận và chỉ thanh toán
theo số hàng đã nhận và yêu cầu giao tiếp hàng thiếu. Còn nếu sản phẩm có lỗi (dù là bên
mua nhận thấy trước lúc nhận hàng hay sau) thì công ty vẫn nhận lại những hàng hóa đó
để sửa chữa cho bên mua, nhằm giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài và tạo uy tín trong kinh
doanh.
Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa.
Đối với hầu hết hợp đồng mua hàng hóa của công ty, thì địa điểm nhận hàng đều
quy định tại kho của công ty. Còn đối với hợp đồng bán hàng hóa thì địa điểm giao hàng
tại kho bãi của bên mua đối với hợp đồng có số lượng lớn và địa điểm giao hàng là kho
bãi của công ty đối với hợp đồng có số lượng ít.
Thực hiện nội dung về thời điểm giao nhận hàng thì tùy theo thỏa thuận trong từng
hợp đồng cụ thể giữa công ty với bạn hàng. Tuy nhiên, điều khoản này chủ yếu là thực

hợp đó bên bán có quyền lấy tiền lãi với thời gian chậm thanh toán đó, tuy nhiên, để giữ
mối làm ăn lâu dài, công ty thường không lấy lãi mà chỉ nhắc nhở để yêu cầu bên mua
thanh toán.
1.2.2.2.4 Quyền của bên bán:
Theo Điều 306 Luật thương mại, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán có
quyền nhận tiền hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi bên mua chậm thanh toán thì
bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ
trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời, nếu bên bán
chậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán có
quyền ngừng giao hàng hoặc yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại, ngoài ra bên bán còn
có thể áp dụng các hình thức chế tài khác như: buộc thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm,
hủy bỏ hợp đồng.
1.2.2.2.5 Quyền của bên mua
Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ điển hình, trong đó, quyền của
bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Do đó, quyền của bên mua
chính là những điều khoản mà bên bán có nghĩa vụ thực hiện như đã đề cập ở phần nghĩa
vụ của bên bán. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 51 Luật thương mại thì bên mua có
quyền ngừng thanh toán tiền hàng trong các trường hợp:
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối;
- Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có
quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp
đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù
hợp đó.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
1.2.2.2.6 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
Việc xác lập và thực hiện các hợp đồng trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên

Đặt cọc
Đặt cọc là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, được định nghĩa
tại Điều 358 BLDS năm 2005 ‘Ðặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền
hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong
một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự”. Khi tiến hành đặt cọc
thì phải lập thành văn bản ghi rõ các vấn đề như đối tượng, giá trị bằng tiền hay tài sản
đặt cọc, thời hạn đặt cọc trong văn bản. Trong trường hợp, hợp đồng dân sự được giao
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện
nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài
sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực
hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương
đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Ký quỹ
Theo khoản 1 Điều 360 BLDS thì ký quỹ cũng là một biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ đối với các bên, nó được thực hiện thông qua ngân hàng – nơi nhận tài sản để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho một bên trong hợp đồng. Ngân hàng sẽ được bên có
quyền yêu cầu thanh toán hay bồi thường thiệt hại (sau khi đã trừ đi chi phí dịch vụ ngân
hàng) do bên có nghĩa vụ gây ra khi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Bảo lãnh
Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận
bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi
đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Tài sản bảo lãnh phải ngang bằng hoặc lớn hơn giá trị phần nghĩa vụ được cam kết thực
hiện. Ngoài sự xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước thì phải có thêm sự chứng
thực của cơ quan ngân hàng, nơi người bảo lãnh mở tài khoản hay thực hiện các giao
dịch khác chứng nhận về mức giá trị tài sản, hay về khoản tiền có trong tài khoản đưa ra
bảo lãnh mới chính thức công nhận có sự bảo lãnh tài sản cho người có nghĩa vụ tài sản

Do bản chất của hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận nên kết quả thỏa thuận không
có tính chất bắt buộc thi hành cao như giải quyết tại Trung tâm trọng tài hay Tòa án.
Giải quyết tại Trung tâm trọng tài
Cũng như hai phương thức giải quyết trên thì phương thức giải quyết tranh chấp tại
Trung tâm trọng tài được các bên lựa chọn bởi những ưu điểm của phương thức này có
thể được kể đến đó là: Đỡ tốn kém về thời gian bởi đây là phương thức giquyết tại Tòa
án. Và nó cũng đảm bảo tính khách quan, trung lập của trọng tài. Phán quyết của trọng tài
có hiệu lực thi hành bởi nó được Tòa án công nhận và cho thi hành qua một thủ tục tư
pháp. Ngoài ra phương thức này cũng đảm bảo bí quyết kinh doanh của các bên vì nó
không phải là phương thức giải quyết công khai như giải quyết tại Tòa án.
Để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thì
phải có đủ các điều kiện sau:
+ Tranh chấp phải phát sinh từ hoạt động thương mại thương mại. Các hoạt động
thương mại được liệt kê ở Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài năm 2003.
+ Trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có Thỏa thuận trọng tài (Khoản 1
Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003)
Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài mà khi xảy ra tranh chấp lại có thỏa
thuận trọng tài thì cũng được áp dụng hình thức này, tuy nhiên phải thỏa thuận giải quyết
tại trọng tài trước khi các bên khởi kiện lên trung tâm trọng tài
+ Người ký kết thỏa thuận trọng tài có năng lực ký kết theo quy định của pháp luật.
Đó là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có thẩm quyền ký kết thỏa thuận
đó. Tuy nhiên trong trường hợp nếu người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền
ký kết và khi phát sinh tranh chấp mà một bên có yêu cầu tòa án giải quyết, thì tòa án yêu
cầu người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng văn bản họ có
chấp nhận thỏa thuận trọng tài đó hay không. Nếu họ chấp nhận thì trường hợp này thỏa
thuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng
tài theo thủ tục chung.
+ Bên ký kết thỏa thuận trọng tài không bị lừa dối, bị đe dọa.
+ Thỏa thuận trọng tài phải quy định rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có
thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, nếu không quy định rõ thì sau đó phải có thỏa thuận

được sự tương ứng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp cho các bên. Khái niệm về sự
tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng dẫn đến thái độ thiện chí, hợp tác, trung
thực và ngay thẳng giữa các bên.
Nguyên tắc tự do kinh doanh, kí kết, giao kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận ý chí của các bên tham gia kí kết làm
phát sinh các nghĩa vụ pháp lý, do đó việc kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải dựa
trên cơ sở tự do ý chí của các bên. Việc bày tỏ ý chí thể hiện trên ba khia cạnh: tự do
chon đối tác kinh doanh, tự do xác lập nội dung giao kết và tự do lựa chọn hình thức giao
kết. Về nội dung hợp đồng, nguyên tắc tự do giao kết cho phép các bên tự do thỏa thuận
các điều khoản về nội dung của hợp đồng, nhưng để nội dung hợp đồng có hiệu lực pháp
luật thì những điều khoản nội dung của hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức
xã hội.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ
VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kí kết và thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa
2.1.1. Tổng quan về công ty trách nhiệm hữu hạn dệt may Hưng Thịnh
2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của công ty TNHH Dệt may Hưng Thịnh
Tên đơn vị thực tập: Công ty TNHH DỆT MAY HƯNG THỊNH
Tên giao dịch : HƯNG THỊNH
Loại hình công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất Sợi và các loại khăn bông
Số lượng nhân viên: 297 người
Năm thành lập năm:25/5/2005
Trụ sở chính: Khu công nghiệp Đồng Tu – Hưng Hà – Thái Bình
Điện thoại: 0363.971.779
Fax: 0363.955.329

ty nhằm đáp ứng sự phát triển trong sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phòng tài chính - kế toán có chức năng tham mưu cho ban Giám đốc về công tác
tài chính cho công ty, nhằm sử dụng đồng tiền và đồng vốn đúng mục đích, đúng chế độ,
chính sách, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Văn phòng công ty là đơn vị tổng hợp vừa có chức năng giải quyết các nghiệp vụ
quản lý sản xuất kinh doanh, vừa làm nhiệ vụ hành chinh và xã hội; có chức năng tham
mưu cho ban Giám đốc về công tác quản lý cán bộ, lao động, tiền lương, bảo vệ an ninh,
hành chính
- Phòng chất lượng có chức năng tham mưu cho ban Giám đốc trong công tác quản
lý hệ thống chất lượngcủa công ty theo tiêu chuẩn ISO9000; duy trì và đảm bảo hệ thống
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
Ban Giám đốc
Phòng
Hành
chính
Phòng
XNK
Phòng
KD &
PTTT
Phòng
Kế toán
Phòng
kỹ thuật
Phòng
chất
lượng
Phòng
sợi mẫu
Phân

2012 2013 2014 13/12 14/13
Tổng doanh thu 17.712.717 24.115.976 28.786.452 36,15% 19,36%
Chi phí 16.207.801 20.968.822 24.468.346 29,37% 16,69%
Lợi nhuận
(trước thuế)
1.504.916 3.147.154 4.318.106 109% 37,20%
Nộp ngân sách 376.229 786.788 863.621 109% 9,76%
Lợi nhuận
(sau thuế)
1.128.687 2.360.366 3.454.485 109% 46,35%
Nguồn: báo cáo tài chính của công ty
Dựa vào bảng số liệu trên, nhìn chung hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
khá ổn định.Công ty đã đẩy mạnh các hoạt động mở rộng thị trường nâng cao khả năng
cạnh tranh, xây dựng thương hiệu mạnh cho việc kinh doanh của công ty.
2.2 Thực trạng các qui phạm pháp luật điều chỉnh về kí kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa
2.2.1. Ưu điểm
BLDS 2005 và LTM 2005 được ban hành trong điều kiện đất nước đang trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ký kết và thực hiện
hợp đồng cũng như các hoạt động thương mại khác phát triển,góp phần giúp cho môi
trường kinh doanh ở Việt Nam thông thoáng hơn, hiệu quả hơn. Sau khi hai văn bản pháp
luật này ra đời thì Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương Mại 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế 1989 được bãi bỏ. Các chế định về hợp đồng trong pháp luật Việt Nam đã được
xây dựng lại: BLDS thống nhất quy định về tất cả các loại hợp đồng, không kể tên, loại
hợp đồng, LTM chỉ xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một số trường hợp cụ
thể. Như vậy trong mối quan hệ giữa BLDS 2005 và LTM 2005 thì BLDS đóng vai trò là
luật chung còn LTM đóng vai trò là luật chuyên ngành. Do đó, nếu giữa hai văn bản có
những quy định chồng chéo thì khi áp dụng phải tuân theo các điều khoản trong LTM.
Có thể nói, việc thống nhất trong quy định về hợp đồng giữa BLDS và LTM đã giải toả
được những mâu thuẫn luẩn quẩn của chế định hợp đồng trước đây. Điều này đã tạo dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status