Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời Mở đầu
Năm 2005 là năm đánh dấu sự thay đổi lớn trong hệ thống văn bản pháp
luật (VBPL) kinh tế Việt Nam. Cùng với Bộ luật dân sự 2005, Luật Thơng mại
2005, hai văn bản pháp luật bao gồm Luật đầu t 2005 và Luật doanh nghiệp 2005
đã bớc đầu tạo ra một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, thông thoáng, rõ ràng
và minh bạch cho hoạt động đầu t kinh doanh ở nớc ta. Bên cạnh việc cho ra đời
các công cụ pháp lý phù hợp cho toàn thể các doanh nhân, nhà quản lý và những
ngời đang hoạt động trong lĩnh vực đầu t, kinh doanh, thơng mại, hệ thống các
VBPL này thực sự là bớc đi định hớng, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam thực
thi các thoả thuận mà Quốc hội và Chính phủ đã cam kết trong các điều ớc song
phơng, đa phơng, cũng nh khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ
chức thơng mại thế giới (WTO).
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trờng định
hớng XHCN, đã làm phát sinh và phát triển nhiều lĩnh vực kinh doanh mới nh:
đầu t chứng khoán, nhợng quyền thơng mại, kinh doanh đa cấp và các ngành nghề
kinh doanh gắn liền với công nghệ thông tin.
Gần đây, cùng với sự sôi động của thị trờng chứng khoán, một thị trờng
khác cũng đang có sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu t, các chủ thể kinh
doanh, các tổ chức, cá nhân đó là thị trờng mua bán doanh nghiệp. Với những đặc
điểm tích cực đợc xác định, mua bán doanh nghiệp là một trong những cách lựa
chọn tốt nhất để giải quyết tình trạng bế tắc của doanh nghiệp trong sản xuất kinh
doanh, gặp khó khăn về tài chính. Đặc biệt là, khi muốn chuyển sang lĩnh vực kinh
doanh mới hay khi muốn khởi đầu một công việc kinh doanh mà cha có đầy đủ cơ
sở vật chất, hệ thống khách hàng cha đợc thiết lập, hoặc cha có một tên thơng mại
nổi tiếng, các nhà đầu t thờng tìm đến với hoạt động mua bán doanh nghiệp.
Tuy vậy, không thể phủ nhận đợc là hoạt động mua bán doanh nghiệp là
một lĩnh vực kinh doanh tơng đối mới. Tại Việt Nam, các vấn đề pháp lý liên quan
đến lĩnh vực này vẫn còn cha đợc tổng kết thành hệ thống lý luận trong khoa học
pháp lý. Mặt khác, trên thực tế, hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam còn
1
1.1. Khái niệm mua bán doanh nghiệp
Mua bán doanh nghiệp là một lĩnh vực kinh doanh mới ở Việt Nam. Theo
một số ý kiến đánh giá, khi Việt Nam ra nhập tổ chức thơng mại thế giới( WTO),
cùng với quy chế thơng mại bình thờng vĩnh viễn (PNTR), hầu nh mọi rào cản th-
ơng mại đợc dỡ bỏ, vì vậy, các hoạt động đầu t, mua bán doanh nghiệp và dịch vụ
kèm theo sẽ trở nên sôi động hơn bao giờ hết
(1)
. Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt
Nam khoa học pháp lý cha đề cập đến vấn đề này một cách có hệ thống, cũng nh
các quy định pháp luật hiện nay cha thể tạo thành một khung pháp lý thống nhất
và đồng bộ để trực tiếp điều chỉnh toàn bộ hoạt động mua bán doanh nghiệp. Liên
quan trực tiếp đến hoạt động mua bán doanh nghiệp, việc tiếp cận khái niệm mua
bán tài sản dân sự, khái niệm mua bán hàng hoá trong thơng mại và các khái niệm
có liên quan sẽ là cơ sở để tiến tới xây dựng một khái niệm mua bán doanh
nghiệp" trên tinh thần các quy định pháp luật hiện hành.
Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, quan hệ mua bán tài sản đợc nhìn
nhận dới góc độ Luật Dân sự là một quan hệ pháp luật theo đó ngời mua và ngời
bán có quyền và nghĩa vụ nhất định, thông qua việc mua bán làm chấm dứt quyền
sở hữu của ngời bán đối với tài sản, đồng thời làm phát sinh quyền sở hữu của ng-
ời mua. Một cách cụ thể, Mua bán tài sản là thoả thuận giữa các bên theo đó
bên bán có nghĩa vụ chuyển giao tài sản cho bên mua và nhận tiền bán tài sản,
còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số
lợng và phơng thức mà các bên đã thoả thuận
(2)
.
Pháp luật thơng mại cũng có những quy định liên quan đến việc mua bán
tài sản dới dạng các hàng hoá, đồng thời định nghĩa: Mua bán hàng hoá là hoạt
động thơng mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
1
- Mua bán doanh nghiệp đã đến thời kỳ sôi động (Nguồn tạp chí tài
Từ các khái niệm trên, nếu tiếp cận theo góc độ mua bán tài sản có thể định
nghĩa về mua bán doanh nghiệp nh sau:
Mua bán doanh nghiệp là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán
có nghĩa vụ chuyển giao toàn bộ doanh nghiệp (gồm có tài sản, các quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp) cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa
vụ nhận toàn bộ doanh nghiệp (tài sản, quyền và nghĩa vụ) và trả tiền cho bên
bán.
3
Xem: Trờng Đại học Luật Hà Nội, 2006, Giáo trình Luật Thơng mại, tập 2. NXB Công an nhân dân, Hà Nội -
2006, trang 6.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong khái niệm này, thoả thuận là cơ sở của quan hệ mua bán giữa các
bên; đối tợng của quan hệ mua bán là doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ tài sản, các
quyền nghĩa vụ khác của doanh nghiệp. Xét ở khía cạnh hình thức, quan hệ mua
bán doanh nghiệp cũng giống nh một quan hệ chuyển nhợng tài sản đơn thuần.
Xét dới khía cạnh pháp lý, hiện tại, pháp luật Việt Nam cũng chỉ mới dừng lại ở
quan điểm cho rằng quan hệ mua bán doanh nghiệp cũng tơng tự nh các quan hệ
mua bán tài sản khác. Bởi vì theo quy định của pháp luật về mua bán doanh nghiệp
t nhân và mua bán công ty nhà nớc, sau khi mua lại doanh nghiệp chủ sở hữu
doanh nghiệp mới phải tiến hành đăng ký kinh doanh lại. Vì vậy, nếu chỉ dừng lại
ở mục đích mua khối tài sản doanh nghiệp thì bản chất của mua bán doanh nghiệp
là sự chuyển nhợng tài sản doanh nghiệp mà không chuyển nhợng t cách pháp lý
của doanh nghiệp đợc bán
(4)
. Tuy nhiên, xét về chủ thể tham gia quan hệ - là chủ
doanh nghiệp, đối tợng của quan hệ là doanh nghiệp và mục đích của việc mua
bán là tìm kiếm lợi nhuận hay mua lại doanh nghiệp để tiếp tục kinh doanh thì
quan hệ mua bán doanh nghiệp lại có bản chất thơng mại sâu sắc.
Theo Luật doanh nghiệp 2005, một doanh nghiệp có thể đợc thành lập
bán doanh nghiệp hoàn thành, chủ sở hữu mới có quyền khai thác các đặc tính th-
ơng mại của doanh nghiệp, trong đó có các tài sản thơng mại nh : tên thơng hiệu,
sáng chế, hệ thống khách hàng của doanh nghiệp, nói cách khác là có quyền kinh
doanh trên nền tảng của doanh nghiệp mua đợc. Tuy nhiên, điều cần phải quan
tâm nhất là chủ doanh nghiệp mới bắt buộc hay không bắt buộc phải đăng kí kinh
doanh lại nh đối với mua bán doanh nghiệp t nhân hay công ty nhà nớc. Nếu
không phải đăng ký kinh doanh lại từ đầu, chủ doanh nghiệp mới này chỉ cần tiến
hành thủ tục thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh. Nhiều quan điểm cho rằng,
chỉ cần thay đổi nội dung đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp để có thể vận
hành một vòng quay kinh doanh mới của doanh nghiệp, bởi lẽ đây có thể coi là
việc làm tạo điều kiện cho các chủ doanh nghiệp có thể nhanh chóng đi vào sản
xuất kinh doanh. Mặc dù vậy, riêng đối với trờng hợp doanh nghiệp t nhân, có thể
nói, quy định đăng ký kinh doanh lại chính là công cụ bảo vệ quyền lợi cho chủ
doanh nghiệp t nhân mới, bởi vì theo quy định của Luật doanh nghiệp, chủ doanh
nghiệp t nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ của doanh nghiệp do
đó nếu không đăng ký kinh doanh lại, dẫn tới tình trạng có những khoản nợ không
đợc kê khai khi mua bán sẽ trở thành nghĩa vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp mới.
1.2. Phân biệt mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp
5
Xem: Trờng Đại học Luật Hà Nội, 2006, Giáo trình Thơng mại, tập 1. NXB Công an nhân dân, Hà Nội - 2006,
trang 3.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trên thực tế, chủ doanh nghiệp có thể bán các tài sản thuộc quyền sở hữu
cho cá nhân hay tổ chức khác thông qua một quan hệ mua bán tài sản dân sự hoặc
mua bán sản nghiệp thơng mại, đó là quá trình khai thác các tài sản thơng mại
bằng các hình thức nh chuyển nhợng quyền sở hữu hay chia sẻ quyền sử dụng tài
sản nhằm tìm kiếm các khoản lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Dựa trên bản chất của việc bán tài sản doanh nghiệp, có thể đi đến một định
nghĩa cụ thể nh sau: Bán tài sản doanh nghiệp là sự chuyển nhợng một phần
là quá trình xác định sản nghiệp và định giá tài sản đem bán.
2. Những đặc trng cơ bản của hoạt động mua bán doanh nghiệp
2.1. Chủ thể của quan hệ mua bán doanh nghiệp
2.1.1. Bên bán
Bên bán doanh nghiệp là cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ra quyết định
thành lập hay tổng công ty đối với công ty nhà nớc; chủ sở hữu đối với các doanh
nghiệp khác.
Về t cách chủ thể, bên bán phải thoả mãn các điều kiện luật định, đó là phải
có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Bên cạnh đó, bên này đồng thời
phải là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Ngoài ra, bên bán phải thoả mãn các điều
kiện về thành lập và quản lý doanh nghiệp. Hơn nữa, là ngời thờng xuyên có hoạt
động thơng mại, bên bán có t cách của thơng nhân.
Điều 145 LDN2005 quy định quyền bán doanh nghiệp của chủ doanh
nghiệp t nhân. Nghị định 80/2005/ NĐ- CP quy định các trờng hợp bán công ty,
bộ phận công ty nhà nớc, ngoài ra không có quy định nào khác. Nh vậy, chủ sở
hữu của bất kì một doanh nghiệp nào đều có quyền bán doanh nghiệp của mình
theo quy định của luật doanh nghiệp và luật thơng mại hiện hành.
Trong quan hệ mua bán doanh nghiệp, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao
toàn bộ doanh nghiệp (tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp) cho bên mua,
đổi lại sẽ nhận đợc số tiền theo giá thoả thuận giữa hai bên. Trừ những nghĩa vụ
(khoản nợ) không khai báo, không thoả thuận đợc để chuyển giao cho bên mua,
bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm. Pháp luật cũng quy định vấn đề này nh sau
khi bán doanh nghiệp của mình thì chủ doanh nghiệp t nhân vẫn phải chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp cha đợc thực
hiện trừ trờng hợp ngời mua, ngời bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận
khác. (khoản 2 điều 145 LDN 2005)
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.2. Bên mua
Bên mua doanh nghiệp là những cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện luật định
(7)
.
6
Xem điều 3 nghị định 80/2005/NĐ-CP.
7
Xem khoản 4 điều 145 Luật Doanh nghiệp năm 2005 và khoản 2 điều 4 NĐ 80/2005/NĐ-CP.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2. Đối tợng của quan hệ mua bán doanh nghiệp
Cũng giống nh mua bán tài sản dân sự hay mua bán hàng hoá thơng mại,
đối tợng của mua bán doanh nghiệp phải thoả mãn điều kiện của pháp luật để có
thể đợc phép giao dịch. Đối tợng của mua bán doanh nghiệp là một doanh nghiệp
trong đó có toàn bộ tài sản bao gồm: tài sản hữu hình và tài sản vô hình mà doanh
nghiệp đó đang sở hữu. Tài sản hữu hình gồm có: đất đai, nhà xởng, cơ sở hạ tầng,
trang thiết bị vật t, máy móc, dây truyền sản xuấtCác tài sản vô hình gồm có: uy
tín của doanh nghiệp, tên doanh nghiệp, vị trí địa lý của doanh nghiệp, bí quyết
kinh doanh, hệ thống khách hàng, đội ngũ lao động có tay nghề trong doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, các quyền và nghĩa vụ phát sinh trong các hợp đồng mà
doanh nghiệp đang sở hữu cũng là một bộ phận tài sản có thể định giá để bán hoặc
chuyển giao cho chủ sở hữu mới kế thừa.
Doanh nghiệp là một tài sản thuộc về chủ sở hữu, do đó việc mua bán doanh
nghiệp, về bản chất chính là một hoạt động mua bán tài sản. Nh vậy, xét ở một góc
độ nhất định, có thể cho rằng chỉ cần điều chỉnh hoạt động này bằng các chế định
của pháp luật dân sự giống nh đối với việc mua bán mọi loại tài sản khác, bởi vì
doanh nghiệp là một tài sản đáp ứng đợc các điều kiện giao dịch dân sự. Bên cạnh
đó, các tài sản, quyền tài sản của doanh nghiệp cũng hoàn toàn có thể chuyển nh-
ợng thông qua các hợp đồng dân sự nh: hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ, hợp
đồng chuyển nhợng quyền sử dụng đất, các hợp đồng mua bán quyền sở hữu, nh-
ợng quyền sử dụng các đối tợng của quyền sở hữu trí tuệ nh: tên thơng mại, sáng
chế Tuy nhiên, doanh nghiệp lại là một chủ thể kinh doanh hoạt động theo Luật
nghiệp, cũng nh định giá tài sản để xác định giá trị của doanh nghiệp đó.
Trong các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành có thể tìm thấy các định
nghĩa về tài sản của doanh nghiệp nh sau:
Sản nghiệp thơng mại là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền
sử dụng hợp pháp của thơng nhân, phục vụ cho hoạt động thơng mại nh trụ sở,
cửa hàng, kho tàng, thiết bị, hàng hoá, tên thơng mại, biển hiệu, nhãn hiệu hàng
hoá, mạng lới khách hàng và cung ứng dịch vụ (LTM 1997).
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp hoặc quyền quản lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp
nhà nớc (LPS 1993)
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tài sản góp vốn vào công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, giá
trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật,
các tài sản khác (khoản 4 điều4 LDN 2005).
Tài sản hiện có của công ty bao gồm: tài sản cố định và đầu t dài hạn,
tài sản lu động và đầu t ngắn hạn, tài sản đi thuê, cho thuê, giữ hộ, thanh lý,
chiếm dụng .Tài sản hiện có của công ty đ ợc phân loại thành :
- Tài sản có thể tiếp tục sử dụng.
- Tài sản không thể tiếp tục sử dụng.
- Tài sản đợc hình thành từ quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi.
(Điều 19 nghị định 80/2005/ NĐ - CP)
Điều 49 luật phá sản 2004 có liệt kê các tài sản của doanh nghiệp gồm có:
+) Tài sản và quyền tài sản.
+) Các khoản nghĩa vụ, các tài sản bảo đảm.
+) Quyền sử dụng đất.
Trên thực tế, căn cứ vào đặc tính của tài sản có thể chia tài sản của doanh
nghiệp thành hai bộ phận: tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Nh vậy, bên cạnh tài
sản hữu hình, một bộ phận tài sản mới chiếm vị trí quan trọng đó là các tài sản vô
hình. Loại tài sản này đợc thể hiện cụ thể bao gồm các đối tợng của quyền sở hữu
+) Các tài sản tơng tự có khả năng tạo ra giá trị không phải nhớ vào các
thuộc tính vật chất mà nhờ vào nội dung trí tuệ hoặc các quyền tài sản
vô hình khác của nó.
Trong khi đó, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 chia tài sản vô hình thành
các nhóm cơ bản sau:
+) Đối tợng của quyền tác giả.
+) Đối tợng của quyền sở hữu công nghiệp.
+) Đối tợng của quyền đối với giống cây trồng và vật liệu nhân giống cây
trồng.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thơng mại, các tài sản vô hình có giá
trị thơng mại lớn là các đối tợng thuộc quyền sở hữu công nghiệp (tên thơng mại,
sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá)
Trong quan hệ mua bán doanh nghiệp, các tài sản vô hình có giá trị và đợc
các bên quan tâm là:
+) Tên doanh nghiệp.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+) Vị trí địa lý của doanh nghiệp.
+) Uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
+) Hệ thống khách hàng của doanh nghiệp.
+) Đội ngũ ngời lao động có tay nghề trong doanh nghiệp.
Mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp là làm cách nào để gia tăng giá trị
của doanh nghiệp, đặc biệt là các đối tợng của tài sản vô hình nh giá trị của tên th-
ơng mại, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, bí mật kinh doanh (Luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam 2005). Điều này khẳng định lại một lần nữa giá trị tài sản vô hình trong
doanh nghiệp là một đại lợng có thật và trong nhiều trờng hợp có giá trị rất lớn,
thậm chí lớn hơn nhiều giá trị của tất cả tài sản hữu hình trong doanh nghiệp.
Nhiều trờng hợp, địa vị của một doanh nghiệp trên thơng trờng đợc thể hiện thông
qua giá trị của một tên thơng mại hay giá trị của một nhãn hiệu nỗi tiếng gắn liền
với doanh nghiệp đó: ví dụ Coca - cola (68,945 tỷ USD), Microsoft (65,.68 tỷ
. Tài sản vô hình- uy tín, các đối tợng thuộc quyền sở hữu trí tuệ nh phát
minh, sáng chế, tên thơng mại, tên miền webside, các khoản đầu t dài hạn.
+) Tài sản vãng lai là những tài sản ngắn hạn mà giá trị của chúng có thể
dao động từ ngày này qua ngày khác nh:
. Cổ phiếu.
. Bán thành phẩm.
. Tiền nợ của khách hàng.
. Các khoản đầu t ngắn hạn.
. Các khoản trả trớc (VD nh tiền thuê)
+) Các khoản nợ vãng lai là các khoản nợ phải trả trong vòng một năm của
doanh nghiệp bao gồm:
. Tiền nợ các nhà cung cấp.
. Các khoản vay dài hạn, rút quá ở ngân hàng, hoặc các khoản mục tài chính
khác.
. Thuế phải trả trong một năm.
+) Các khoản nợ dài hạn nh: Các khoản nợ kỳ hạn sau 1 năm, các khoản
vay hoặc tài chính đến hạn phải trả sau một năm.
+) Vốn chủ sở hữu và dự trữ: Vốn cổ phần và lợi nhuận để bù lại.
Tuy nhiên, khi mua bán doanh nghiệp điều mà bên mua quan tâm và làm cơ
sở để hình thành nên giá cả thoả thuận của bên mua và bên bán lại là giá trị thực
tế của công ty hay doanh nghiệp đó:
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Giá trị thực tế của công ty là tổng giá trị tài sản thực có của công ty theo
giá thị trờng tại thời điểm xác định giá trị công ty. (khoản 13 điều3 NĐ/80/-CP).
Trên thực tế giữa giá trị doanh nghiệp theo sổ sách kế toán và giá trị theo thị
trờng của doanh nghiệp (hoặc công ty) thờng chênh lệch nhau rất lớn, một trong
các nguyên nhân là do các số liệu kế toán thờng không có tính chính xác và tính
minh bạch cao, hơn nữa rất khó định giá chính xác bộ phận tài sản vô hình. Tuy
vậy giá trị thực tế lại là điều mà bên mua quan tâm nhất, cũng nh về nguyên tắc
thuận để xác định giá trị của doanh nghiệp. Cụ thể là, khi việc mua bán doanh
nghiệp diễn ra, các bên sẽ thoả thuận với nhau để lựa chọn và thành lập nên một
hội đồng định giá tài sản. Hội đồng này sẽ có trách nhiệm đa ra cách thức định giá
phù hợp theo quy định của pháp luật hay ý chí của cả hai bên. Đối với trờng hợp
mua bán công ty nhà nớc sẽ do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền thành lập hay tổng
công ty chỉ định các thành viên và quyết định thẩm quyền của hội đồng định giá.
Trách nhiệm của hội đồng định giá là phải căn cứ vào thực trạng của tài sản, giá cả
thị trờng của tài sản và trình độ chuyên môn để xác định và đánh giá chính xác giá
trị của doanh nghiệp.
2.3.2. Định giá tài sản của doanh nghiệp.
2.3.2.1. Định giá tài sản hữu hình
Các tài sản hữu hình của doanh nghiệp nh: nhà xởng, đất đai, cơ sở vật
chất, trang thiết bị, dây truyền sản xuất là bộ phận chủ yếu để duy trì hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ phận tài sản này đợc định giá theo ph-
ơng pháp giá trị thực tế dựa trên giá trị thờng tại thời điểm định giá, theo đó:
+) Đối với các tài sản là hiện vật nh các tài sản còn giá trị sử dụng, tài sản
ứ đọng, tài sản chờ thanh lý sẽ căn cứ vào thời giá và chất lợng của tài sản để xác
định.
+) Chất lợng của tài sản thờng đợc xác định bằng giá trị còn lại tính theo tỷ
lệ phần trăm so với nguyên giá tài sản mới mua hoặc mới bắt đầu xây dựng.
+) Giá thị trờng dùng để tính giá trị thực tế là giá đang mua bán trên thị tr-
ờng cộng với chi phí vận chuyển, lắp đặt (nếu có) đối với những tài sản là máy
móc thiết bị, phơng tiện vận tải có lu thông trên thị trờng. Nếu đó là những tài sản
đặc thù thì căn cứ theo giá mua của tài sản cùng loại, có cùng công suất, có tính
9
Xem phần III: Phơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp, Thông t 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng tơng đơng. Trờng hợp không có tính năng tơng đơng thì căn cứ vào sổ sách
kế toán
10
Xem điểm 5, mục A, phần III. Thông t 126/2004/TT-BTC.
18