Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Bất cứ một xã hội nào muốn phát triển một cách phồn vinh thì cũng đều cần
có một cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã
hội. Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, hoạt động đầu tư, xây dựng cơ
bản được đánh giá là ngành kinh tế kỹ thuật hết sức quan trọng của đất nước, bởi lẽ
nó liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, lại được sử dụng một nguồn tài chính,
nguồn nhân lực hết sức to lớn.
Nếu như trước đây, nguồn vốn cho đầu tư, xây dựng thuộc về ngân sách nhà
nước, nhưng từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động của
ngành xây dựng cũng có sự phát triển tương ứng. Nguồn vốn này có thể thuộc tất cả
các thành phần kinh tế khác nhau (Ngân sách Nhà nước, kinh tế tư nhân, vay từ nước
ngoài…)
Là công ty TNHH một thành viên, công ty Cavico Việt Nam xây dựng Cầu
Hầm là một trong số ít các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã thành công trong lĩnh
vực kinh doanh đầu tư xây dựng cơ bản – một lĩnh vực được coi là thế mạnh của
các doanh nghiệp xây dựng Nhà nước, với hàng loạt các công trình trọng điểm
Quốc gia được đánh giá chất lượng cao như công trình thủy điện Đại Ninh, Thủy
điện Buôn Kuốp, Thủy điện Bản Vẽ, Thủy điện Bắc Bình….
Với vai trò là công ty con, được thừa hưởng nhiều nguồn lực, vật lực và kinh
nghiệm quản lý của Tổng công ty Cavico Việt Nam, trong những năm qua Cavico
Việt Nam xây dựng Cầu Hầm là đơn vị đi đầu về sản lượng và lợi nhuận. Đây thực
sự là môi trường tổ chức hợp lý với đội ngũ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo đã góp
phần dựng nên thương hiệu: Nhà đầu tư, nhà thầu chuyên nghiệp Cavico Việt Nam.
Quá trình học tập tại trường đại học Kinh tế Quốc Dân, được tiếp thu những
kiến thức về pháp luật trong kinh doanh dưới nhiều lĩnh vực: Mua bán xuất nhập
khẩu hàng hóa, kinh doanh Bảo Hiểm, tín dụng ngân hàng…. Trong đó, lĩnh vực em
thấy hứng thú và hấp dẫn nhất là kinh doanh đầu tư xây dựng cơ bản. Chính bởi lẽ
đó, em đã chọn công ty TNHH Cavico Việt Nam xây dựng Cầu Hầm là nơi thực tập
của mình.Thời gian thực tập tại công ty Cavico Việt Nam xây dựng Cầu Hầm đã
giúp em trưởng thành hơn trong tư duy cũng như kinh nghiệm thực tế.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy chế pháp lý
về đấu thầu trong xây lắp và quá trính áp dụng tại công ty
Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chuyên đề đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học, cụ thể như: so sánh, tổng hợp, phân tích kết hợp với các
phương pháp thống kê, phân tích kinh tế. Phù hợp với từng vấn đề, từng nội dung
nghiên cứu cụ thể mà để tài sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp nhiều phương pháp nhằm
làm rõ nội dung của đề tài.
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
2
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
ĐẤU THẦU XÂY DỰNG VÀ ĐẤU THẦU TRONG XÂY LẮP
1.1. Một số khái niệm liên quan trong đấu thầu xây dựng
1.1.1. Dự án
Theo nghĩa chung nhất, Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn
nhau nhằm tạo ra một sản phẩm đơn chiếc trong giới hạn cho phép về không gian
và nguồn lực. Theo quy định tại Điều 4.7 của Luật đấu thầu ngày 29.11.2005 của
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: “ Dự án là tập hợp
các đề xuất để thực hiện một phần hoặc toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu
hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.”
Sản phẩm của dự án thường là kết quả lao động mang tính trọn vẹn như một
đoạn đường hay một cây cầu, một bộ phận hoàn chỉnh của một công trình khoa học,
một công trình xây dựng, lắp đặt, vận hành thiết bị làm thay đổi chất lượng của một
thực thể (như dự án xóa đói giảm nghèo, dự án xóa mù chữ, dự án thu hoạch mùa
vụ của một khu vực canh tác). Các dự án mang tính đơn chiếc, đặc thù, tính chuẩn
mực. Mỗi dự án là một đối tượng tương đối độc lập về nguồn lực, trách nhiệm,
quyền hạn và được diễn ra trong một khuôn khổ thời gian nhất định. Khi khuôn khổ
thời gian đó chấm dứt thì dự án đó cũng tự động chấm dứt. Có dự án chỉ diễn ra
khai ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được chấp nhận. Theo đó, thì
“đấu thầu” là cuộc đọ sức công khai giữa các tổ chức kinh tế và tài chính.
Đấu thầu xây dựng được hiểu là quá trình lựa chọn nhà thầu - nhà xây dựng
có tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu - đáp ứng đủ các yêu cầu của bên mời
thầu.Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đấu thầu xây dựng.
Theo quan điểm của nhà thầu
Đứng trên quan niệm của nhà thầu thì khái niệm đấu thầu được hiểu là một
phương thức kinh doanh mà thông qua đó nhà thầu với các điều kiện và khả năng về
năng lực tài chính, kỹ thuật, tiến độ đáp ứng được cơ bản các yêu cầu của Bên mời
thầu, có cơ hội dành được hợp đồng thực hiện các công việc của gói thầu.
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là phương thức chủ yếu để có được dự án giúp cho doanh nghiệp tồn tại
và phát triển. Tính chất của đấu thầu đối với nhà thầu là quá trình cạnh tranh với các
nhà thầu khác về khả năng tiến hành công tác xây dựng bảo đảm các yêu cầu về
chất lượng, tiến độ, chi phí để dành được thực hiện dự án mà bên mời thầu đưa ra.
Có thể nói đây là quá trình hết sức khó khăn, nhạy cảm và nhiều rủi ro có thể
xảy ra. Trong quan hệ giữa bên mời thầu và nhà thầu, có nhiều quan hệ được nảy sinh
cần được sự điều chỉnh của pháp luật để tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh đó là:
Quan hệ giữa bên mời thầu với các bên tham gia đấu thầu. Ở đây muốn nhấn mạnh
là, ở mỗi cuộc đấu thầu đều có vận “may”, “rủi”, mà có Nhà thầu trúng thầu, có Nhà
thầu không trúng thầu.
Theo quan niệm của Bên mời thầu
Đấu thầu là hình thức (Quá trình) lựa chọn nhà thầu tốt nhất đáp ứng được
các yêu cầu về kinh tế, về kỹ thuật, chất lượng, tiến độ thi công và chi phí xây dựng
công trình. Quan niệm này cũng như theo Điều 4.2 của Luật đấu thầu năm 2005 quy
định “ đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu
để thực hiện gói thầu thuộc các dự án được quy định bắt buộc phải đấu thầu trên cơ
sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch, và hiệu quả kinh tế”. Có thể hiểu
dân sự, thương mại… trong nền kinh tế thị trường.
Xét về bản chất đấu thầu là phương thức lựa chọn đối tác. Sau khi đấu thầu,
bên mời thầu xếp hạng được một danh sách ưu tiên giao kết hợp đồng. Người trúng
thầu là người đứng đầu danh sách được ưu tiên thương thảo, ký kết đầu tiên. Nếu
không thành, sẽ đến lượt người tiếp theo. Còn pháp luật về hợp đồng không điều
chỉnh việc lựa chọn đối tác, mà đó là quyền tự do của các chủ thể giao kết hợp đồng.
Pháp luật về hợp đồng chỉ điều chỉnh khi đã xác định được các đối tác giao kết.
Hình thức của hợp đồng giao kết thông qua đấu thầu phải bằng văn bản. Hợp
đồng chỉ có hiệu lực khi được người có thẩm quyền phê duyệt. Các hình thức giao
kết đối với hợp đồng theo nguyên lý thông thường có thể bằng văn bản, lời nói,
hoặc hành vi cụ thể.
Quá trình thương thảo trong đấu thầu, nhà thầu trúng thầu bị ràng buộc về
nội dung chào hàng của mình. Hai bên có quyền thương thảo, nhưng không được
làm giá cao hơn giá trúng thầu đã được phê duyệt. Phần lớn những nội dung của
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
6
Chuyên đề tốt nghiệp
chào hàng đã được bên mời thầu dự tính chấp nhận. Đối với hợp đồng giao kết theo
nguyên lý thông thường các bên hoàn toàn tự do trong việc xác định về nội dung.
Bên đưa ra đề nghị cũng bị ràng buộc về nội dung đề nghị đối với bên được đề nghị.
Một điểm khác biệt có thể thấy rõ giữa hai hình thức hợp đồng này đó là các
điều khoản quy định về bảo lãnh thực hiện hợp đồng, trong đấu thầu là bắt buộc, nhưng
không quá 10% giá trị hợp đồng; trong khi đó quy định này là không bắt buộc, do các
bên tự thỏa thuận trong hợp đồng giao kết theo nguyên lý thông thường.
Tóm lại, các quan điểm trên được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, có
thể rút ra khái niệm về đấu thầu, đó là quá trình lựa chọn Nhà thầu đáp ứng cơ bản
các yêu cầu của bên mời thầu nhằm bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch
và hiệu quả kinh tế của gói thầu. Có thể nói đây là biện pháp hiệu quả nhất để khắc
phục tiêu cực trong các hoạt động kinh tế như mua bán, xây dựng vv…
1.2.1. Phân loại các hình thức đấu thầu
quy định trên, có thể đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng khác. Sau
thời hạn 10 ngày kể từ ngày đăng tải lần đầu tiên thông mời nộp hồ sơ quan tâm,
bên mời thầu sẽ phát hành miễn phí cho các nhà thầu có nhu cầu tham dự thầu.
Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham
gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho các nhà thầu cho một hoặc một số nhà
thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Quá trình xét thầu được thực hiện công khai và bình đẳng. Nhà thầu nào có
giá thầu hợp lý thuộc phạm vi giá của Chủ đầu tư dự kiến (giá trần) và thỏa mãn các
điều kiện mà chủ đầu tư đề ra thì nhà thầu đó sẽ trúng thầu. Đây là hình thức chủ
yếu được áp dụng trong đấu thầu nói chung và đấu thầu trong xây lắp nói riêng.
Do số lượng người dự thầu là khá đông, vì vậy bên mời thầu có cơ hội để lựa
chọn nhà thầu có đủ tư cách, năng lực tham gia dự án. Nhưng cũng chính vì vậy,
nên chi phí đánh giá hồ sơ đấu thầu cũng rất tốn kém, trong khi đó chi phí của
người đi vay là phải sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả nhất. Hơn nữa, đối với
những dự án đòi hỏi có yêu cầu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, đặc biệt mà chỉ có
một số nhà thầu mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi chủ đầu tư phải tiến hành sơ
tuyển để lựa chọn nhà thầu có đủ tư cách, năng lực tham gia dự thầu.
1
Xem Điều 1, Điều 18 của Luật đấu thầu ngày 29-11-2005.
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Đấu thầu hạn chế
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, trước khi phát hành hồ sơ mời
thầu, chủ đầu tư sẽ phê duyệt danh sách nhà thầu được coi là có đủ năng lực và kinh
nghiệm để mời tham gia đấu thầu.Trên cơ sở đó Bên mời thầu sẽ gửi thư mời thầu
tới các nhà thầu trong danh sách đó, tuy nhiên phải mời tối thiểu 5 nhà thầu, trường
hợp thực tế có ít hơn 5 nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem
xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức
lựa chọn khác.
được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật được mở để đánh giá trước, đề
xuất về tài chính của tất cả nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng
yêu cầu được mở sau để đánh giá tổng hợp. Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ
thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được
mở để xem xét, thương thảo.
Phương thức đấu thầu hai giai đoạn
Phương thức này được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu
thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật
công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:
Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp đề
xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi
với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai;
Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham
gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất về kỹ
thuật, đề xuất tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu.
Phương thức chỉ định thầu- chào hàng cạnh tranh - tự thực hiện
+ Chỉ định thầu
Đây là hình thức không tổ chức đấu thầu mà chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng
yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng.
Hình thức này chỉ áp dụng trong các trường hợp đặc biệt sau:
++ Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục
ngay (ví dụ như xảy ra hiện tượng sụp đổ một cây cầu nào đó mà cần khắc phục
ngay để phục vụ cho việc đi lại).
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
10
Chuyên đề tốt nghiệp
+ +Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;
+ +Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an
ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;
+ +Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá trị dưới 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Đấu thầu tuyển chọn tư vấn thiết kế kiến trúc công trình xây dựng
Tư vấn đầu tư và xây dựng là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức,
kinh nghiệm chuyên môn cho Bên mời thầu trong việc xem xét quyết định kiểm
nghiệm chuyên môn cho Bên mời thầu trong việc xem xét quyết định kiểm tra quá
trình chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư.
Đấu thầu tư vấn là quá trình lựa chọn ra nhà tư vấn có đủ trình độ và kinh
nghiệm để giúp đỡ, tư vấn cho chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị đầu tư và thực
hiện đầu tư.
Việc lựa chọn nhà thầu tư vấn được thực hiện theo quy định củat Luật xây
dựng được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2003. Tại Điều 55 của Luật này quy
định: “các công trình sau đây trước khi lập dự án đầu tư xây dựng phải thi tuyển
thiết kế kiến trúc:
+ Trụ sở cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên;
+ Các công trình văn hóa, thể thao, các công trình công cộng có quy mô lớn;
+ Các công trình khác có kiến trúc đặc thù.”
Đấu thầu mua sắm hàng hóa
Đấu thầu mua sắm hàng hóa là quá trình lựa chọn nhà thầu cung ứng hàng
hóa đáp ứng được yêu cầu của Bên mời thầu trên cơ sở sự cạnh tranh giữa các nhà
cung cấp. Hàng hóa ở đây có thể là máy móc, phương tiện vận chuyển, thiết bị, bản
quyền sở hữu công nghiệp, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng (thành
phẩm, bán thành phẩm).
Đấu thầu trong xây lắp là quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện những công
việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình.
Những quy định pháp luật cụ thể về đấu thầu trong xây lắp sẽ được đề cập cụ thể ở
phần sau.
Đấu thầu để lựa chọn đối tác thực hiện dự án
Đây là quá trình lựa chọn đối tác để thực hiện một phần hay toàn bộ công
việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó. Căn cứ vào danh mục đầu tư hàng năm do
Nguyên
tắc dữ liệu
đầy đủ
Nguyên
tắc bảo
mật hồ sơ,
tài liệu,
thông tin
Nguyên
tắc đánh
giá công
bằng
Nguyên
tắc trách
nhiệm
phân minh
Nguyên
tắc bảo
hành, bảo
lãnh và
bảo hiểm
thích đáng
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau
Đặc điểm của đấu thầu là cạnh tranh, vì chỉ như vậy mới giúp nhà đầu tư tìm
ra được nhà thầu đáp ứng được tối ưu nhất yêu cầu của mình. Tuy nhiên sự cạnh
tranh phải diễn ra trên cơ sở công bằng, thể hiện: Mỗi gói thầu phải có sự tham dự
của một số lượng nhà thầu nhất định có năng lực, đủ để đảm bảo sự cạnh tranh giữa
các nhà thầu. Những điều kiện mà Bên mời thầu đưa ra và những thông tin cung cấp
cho các nhà thầu phải ngang bằng nhau, nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng về cơ
thực hiện những nhiệm vụ nhất định và phải có trách nhiệm đối với việc mình đã
làm. Mỗi bên có liên quan đều biết rõ mình phải gánh chịu những hậu quả gì nếu có
sơ suất và do đó mỗi bên phải nỗ lực tối đa trong kiểm soát bất trắc và phòng ngừa
rủi ro. Việc tuân thủ triệt để nguyên tắc này sẽ là cơ sở cho việc phân định rạch ròi
phạm vi trách nhiệm của mỗi bên để không một sai sót nào không có người chịu
trách nhiệm và cũng không để ai phải chịu trách nhiệm về những thứ mà không
thuộc trách nhiệm của mình.
Nguyên tắc bảo hành, bảo lãnh và bảo hiểm thích đáng
Để thực hiện quá trình đấu thầu một cách thành công đòi hỏi phải có sự nỗ
lực của tất cả các bên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đấu thầu nhiều khi do
các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà các nhà thầu gây cản trở
đến quá trình đấu thầu như: Đòi rút lại Hồ sơ dự thầu hoặc cung cấp các số liệu
không chuẩn xác, cũng có khi trúng thầu nhưng không thực hiện hợp đồng…. Chính
vì vậy mà trong Luật đấu thầu có quy định cụ thể về vấn đề bảo lãnh, bảo đảm, bảo
hành trong đấu thầu.
3
Đây là một chế định giúp cho Bên mời thầu tránh được các
rủi ro do các nhà thầu gây ra.
Những nguyên tắc trên đây là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá
trình đấu thầu được áp dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay. Việc thực hiện những
nguyên tắc này mục tiêu cuối cùng cũng là để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về tiến
độ, chất lượng, tài chính của dự án, bảo đảm lợi ích chính đáng cho cả chủ đầu tư
lẫn nhà thầu.
3
Xem điều 55, Điều 56 Luật đấu thầu ngày 29-11-2006.
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
15
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3. Vai trò của đấu thầu xây dựng trong nền kinh tế quốc dân
khi mua sắm tài sản, đồ vật phải hết sức tiết kiệm và phải lựa chọn những vật phẩm
từ nguồn cung cấp thích hợp nhất để không lãng phí tài sản của dân.
Sau đó, trong suốt thời kỳ chiến tranh từ năm 1946 đến đầu những năm 1980
Việt Nam cũng đã từng có một số văn bản liên quan đến việc lựa chọn người bán
khi mua tài sản công. Tuy nhiên, do đặc thù của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp với hệ thống chỉ tiêu mang tính pháp lệnh, Nhà nước can thiệp sâu vào hoạt
động kinh tế. Hàng hóa ít người mua nhiều người bán, không có sự cạnh tranh. Với
mỗi công trình xây dựng, Nhà nước sẽ chỉ định cho các đơn vị thực hiện xây lắp tùy
theo kế hoạch Nhà nước đề ra hoặc căn cứ vào mối quan hệ giữa các đơn vị đó với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không qua đấu thầu.
Theo cơ chế này, không tồn tại khái niệm cạnh tranh trong tất cả các ngành
kinh tế nói chung và trong hoạt động đầu tư xây dựng nói riêng, từ đó tạo ra nhiều
tiêu cực, sai lầm gây thất thoát lớn cho xã hội. Các văn bản về hoạt động xây dựng
cơ bản mang tính pháp lý thấp và chỉ nhằm xử lý một vài vụ cụ thể hơn là xác lập
cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, hoạt động của
ngành xây dựng cũng có sự thay đổi tương ứng. Dưới ánh sáng của nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI- 1986, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng một cơ chế
mới phù hợp với quy luật khách quan với trình độ phát triển của nền kinh tế đó là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo cơ chế đó, khái niệm cạnh tranh ngày càng trở nên thông dụng. Trong
hoạt động đầu tư xây dựng, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau đều bình đẳng trước pháp luật, đều có cơ hội tham gia xây dựng các công trình
ngang nhau nên giữa các doanh nghiệp luôn tồn tại sự cạnh tranh.
Nền kinh tế càng phát triển, thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Đứng trước
thực tế đó hoạt động đấu thầu đã xuất hiện và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh,
các doanh nghiệp xây dựng có cơ hội được thể hiện mình một cách tốt nhất. Để tạo
môi trường nhằm tăng cường hiệu quả của hình thức đấu thầu, cùng với việc tổ
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Các quy định về đấu thầu được ban hành đã tăng cường tính cạnh tranh, công
bằng, minh bạch trong đấu thầu, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự án, tăng cường một
bước công tác thanh tra quản lý hoạt động đấu thầu và thực hiện hợp đồng, nâng cao
công tác quản lý thông tin về đấu thầu và Nhà thầu. Nhờ thực hiện theo quy chế đấu
thầu, Việt Nam đã đạt được một số thành tích, qua đấu thầu đã lựa chọn được nhà
thầu có đủ kinh nghiệm, năng lực để thực hiện gói thầu, có giải pháp, biện pháp thực
hiện khả thi để đảm bảo nguyên tắc là giá trúng thầu không vượt quá giá gói thầu.
- Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 11 đã thông qua việc ban hành
Luật xây dựng và có hiệu lực từ ngày 1-7-2004 thay cho quy chế quản lý đầu tư xây
dựng được ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP, với chương 16 về lựa
chọn Nhà thầu và Hợp đồng xây dựng. Có thể nói đây là một sự kiện có tính bước
ngoặt trong quá trình thực hiện hệ thống pháp luật đầu tư xây dựng ở nước ta.
- Đấu thầu là một công việc mới nên bên cạnh những thành tích đã đạt được,
không tránh khỏi những vướng mắc, tồn tại trong thực hiện. Chính vì vậy, ngay từ
năm 1999, trong chương trình xây dựng Luật và Pháp lệnh, Quốc hội đã yêu cầu
xây dựng Pháp lệnh đấu thầu (PLĐT) thay cho quy chế đấu thầu ban hành kèm theo
Nghị định). Đến tháng 6/2005, Chính phủ thông qua Dự thảo lần 10 PLĐT để trình
sang UBTVQH xem xét, phê duyệt. Tuy nhiên, do tầm quan trọng của công tác đấu
thầu (trong quan hệ với nhiều Luật khác như Luật phòng, Chống tham nhũng, Luật
thực hành tiết kiệm chống lãng phí…) UBTVQH đã đề nghị nâng PLĐT lên thành
Luật Đấu thầu. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội Khóa XI của nước CHXHCN Việt Nam
đã thông qua Luật đấu thầu tại ngày họp cuối cùng (29/11/2005). Với quyết tâm
của Chính Phủ và Quốc hội Luật đấu thầu được hình thành và thông qua trong thời
gian chưa đầy 5 tháng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho các hoạt động đấu thầu sử
dụng nguồn vốn Nhà nước Việt Nam.
Luật đấu thầu xây dựng được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm,
chủ trương của Đảng và Chính sách của Nhà nước, làm cho Luật trở thành một
giúp chủ đầu tư giải quyết tình trạng phụ thuộc vào một nhà thầu. Tạo cho chủ đầu
tư quyền chủ động trong việc chuẩn bị tất cả các thủ tục pháp lý trước khi tiến hành
mời thầu và tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu. Tuy nhiên, để đánh giá được
chúng, các hồ sơ dự thầu đảm bảo tính công bằng trong đấu thầu, đòi hỏi các cán bộ
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
20
Chuyên đề tốt nghiệp
của chủ đầu tư phải có trình độ nhất định. Việc quản lý dự án đầu tư với yêu cầu
thực tế sẽ thúc đẩy nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ kinh tế, kỹ thuật của
bên chủ đầu tư.
Đối với Nhà thầu
Trong đấu thầu, do giành được những hợp đồng lớn có khi lên tới cả nghìn tỷ
USD nên các nhà thầu cũng có lợi nhiều mặt. Thứ nhất, phương thức đấu thầu sẽ
phát huy được tính chủ động, linh hoạt, tích cực tìm kiếm các thông tin liên quan
đến dự án, các thông tin về các đối thủ cạnh tranh, gây dựng mối quan hệ với các tổ
chức quốc tế trong và ngoài nước, tìm cách tăng cường uy tín của mình để có thể
nắm bắt được các cơ hội dự thầu.
Mặt khác, thông qua đấu thầu còn giúp cho các nhà thầu có điều kiện thay
đổi thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh. Như chúng ta đã biết, bên mời
thầu trong bộ hồ sơ mời thầu đã đòi hỏi các nhà thầu trong tương lai phải cung cấp
hàng hóa thiết bị, đạt những chuẩn mực nhất định hoặc sử dụng các công nghệ hiện
đại, tiên tiến. Muốn có đủ điều kiện như trên các nhà thầu không còn con đường nào
khác là phải không ngừng nâng cao về trình độ về mọi mặt: Tổ chức quản lý, đào
tạo đội ngũ cán bộ, đầu tư nâng cao năng lực thiết bị, mở rộng mạng lưới thông tin.
Như vậy, thông qua đấu thầu, nhà thầu sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm cạnh
tranh, tiếp thu được những kiến thức về khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại, có
điều kiện để khẳng định mình ở hiện tại và tương lai, có cơ hội để cạnh tranh trên
thị trường trong nước và quốc tế.
Nếu trúng thầu, uy tín của nhà thầu sẽ được nâng cao, giá cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán tăng (nếu doanh nghiệp đăng ký niêm yết trên thị trường chứng
của các doanh nghiệp xây dựng.
Đấu thầu trong xây lắp là phương thức mà chủ đầu tư sử dụng để cạnh tranh
giữa các nhà thầu xây dựng nhằm lựa chọn một đơn vị có khả năng thực hiện tốt
nhất các yêu cầu của dự án đầu tư. Các yêu cầu đó thường là yêu cầu về mặt kinh tế
-tài chính, yêu cầu về mặt kỹ thuật, yêu cầu về mặt tỉến độ thi công.
Thực chất của đấu thầu trong xây lắp là việc ứng dụng phương pháp xét hiệu
quả kinh tế trong việc lựa chọn tổ chức thi công xây dựng. Phương pháp này đòi hỏi
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
22
Chuyên đề tốt nghiệp
sự so sánh giữa tổ chức xây dựng trên cùng một phương diện (như kỹ thuật hay tài
chính) để chọn lấy một nhà thầu đủ khả năng, sau đó lại so sánh tiếp. Kết quả cuối
cùng sẽ tìm được một tổ chức xây dựng đáp ứng tốt nhất, các yêu cầu của chủ đầu tư.
Đấu thầu trong xây lắp là một hoạt động mua bán, nhưng nó khác những vụ
mua bán thông thường ở chỗ nó bán công việc. Ở đây người mua là chủ đầu tư và
người bán là các nhà thầu. Chủ đầu tư sẽ chọn người bán nào có giá bán thấp nhất
với chất lượng công việc như nhau. Thực chất của đấu thầu trong xây lắp cũng còn
là việc tổ chức cạnh tranh trên hai phương diện : cạnh tranh giữa chủ đầu tư (bên A)
và nhà thầu (Bên B), cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau. Theo lý thuyết hành vi
người tiêu dùng thì trong một vụ mua bán, bao giờ người mua cũng cố gắng để mua
hàng với giá thấp nhất mà chất lượng vẫn đảm bảo, trong khi đó người bán lại cố
gắng để bán được cùng mặt hàng đó với giá cao nhất. Do đó nảy sinh sự cạnh tranh
giữa người mua và người bán. Giữa các nhà thầu thì họ cố gắng cạnh tranh với nhau
để bán được hàng- là công việc xây dựng mà họ sẽ làm cho chủ đầu tư. Kết quả
cạnh tranh này là có lợi cho chủ đầu tư.
Những đặc điểm giống và khác nhau giữa đấu thầu trong xây lắp và các
hình thức khác
- Điểm giống nhau:
Thông qua hình thức đấu thầu để lựa chọn đơn vị sản xuất có đủ năng lực về
kinh tế, vật chất và lao động kỹ thuật để hoàn thành một công trình, một dự án, một
đấu thầu trong xây lắp hình thành và hoàn thiện cùng với quá trình xây dựng và
phát triển của hệ thống pháp luật về đấu thầu. Xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà
nước đối với đầu tư xây dựng là nhằm mục tiêu tái thiết đất nước và đẩy mạnh công
cuộc dựng xây Chủ nghĩa xã hội. Từ những văn bản pháp quy đầu tiên về đấu thầu
mang ý nghĩa đặt nền móng cho sự hình thành hệ thống các qui phạm pháp luật về
đấu thầu, cho đến nay pháp luật về đấu thầu xây dựng nói chung và pháp luật về đấu
thầu trong xây lắp nói riêng đã có một quá trình gần 15 năm không ngừng được hoàn
thiện về cả hình thức và nội dung, cả về chất lượng lẫn số lượng theo tiến trình xây
dựng và phát triển kinh tế- xã hội, đáp ứng cơ bản các yêu cầu của quản lý của Nhà
nước đối với nền kinh tế nói chung và quản lý lĩnh vực đầu tư xây dựng nói riêng.
SV. Đào Thị Mai Lớp: Luật kinh doanh 45
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Xét về cấu trúc hình thức:
Hệ thống pháp luật hiện hành về đấu thầu trong xây lắp bao gồm các nhóm
văn bản pháp luật như sau:
+ Các văn bản pháp luật quy định quản lý lĩnh vực đấu thầu xây dựng bao
gồm:
• Luật xây dựng được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc Hội khoá IX ngày
26-11-2003.
• Luật đấu thầu xây dựng được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29-11- 2005.
• Nghị định số 16/2005/NĐ- CP ngày 07-02-2005 qui định quy chế quản lý
đầu tư xây dựng.
• Nghị định số 112/2006/NĐ- CP ngày 29-9-2006 về sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định số 16/2005/ NĐ- CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
• Nghị định số 111/2006/NĐ- CP ngày 29-9-2006 hướng dẫn thi hành Luật
đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng .
+ Các văn bản quy định về quản lý các chủ thể hoạt động xây dựng, tư vấn
đầu tư xây dựng. Bao gồm :
• Quyết định số 19/2003/QĐ- BXD ngày 3-7-2003 quy định điều kiện