một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạ công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh - Pdf 27

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 4
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 6
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 8
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ Luật Dân sự
LTM : Luật Thương mại
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
HĐMBHH : Hợp đồng mua bán hàng hóa
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhắc đến hoạt động kinh doanh thương mại ta không thể không nhắc đến hoạt
động mua bán hàng hóa. Mua bán hàng hóa là hoạt động đặc trưng cơ bản của kinh
doanh thương mại. Hợp đồng mua bán hàng hóa chính là cách thức để hoạt động này
được diễn ra, nó thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ mua
bán. Hợp đồng được đảm bảo thực hiện nhờ vào nhiều yếu tố như sự chấp hành của
các bên đối với các điều khoản đã thỏa thuận hay hợp đồng đó có vi phạm lợi ích của
người khác, lợi ích chung của xã hội hay không. Pháp luật với vai trò là khung định ra
những nguyên tắc cơ bản cho mọi hoạt động trong xã hội, cũng điều chỉnh những vấn

tính đến hậu quả cũng như phương hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
Việc áp dụng luật pháp trong công ty còn nhiều bất cập, thiếu sót như người sử
dụng lao động áp dụng xử lý người lao động còn tùy tiện và không hợp lý. Về phía
người lao động thì kiến thức hiểu biết về pháp luật chưa cao, ý thức kỷ luật kém dẫn
đến những tổn thất không đáng có cho công ty. Hơn thế nữa các quy định thường
xuyên có sự thay đổi đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự am hiểu pháp luật nếu muốn gặp
rủi ro về pháp lý hay mất cơ hội kinh doanh.
Việc soạn thảo hợp đồng của công ty với đối tác không được chặt chẽ và vẫn có
kẽ hở nên khi có xảy ra tranh chấp với khách hàng là khó tránh khỏi vì vậy công ty
nên tạo cho mình một mẫu hợp đồng sẵn và rà soát lại các nội dung trong hợp đồng để
tránh khỏi những tranh chấp không đang có khi xảy ra mâu thẫn với khác hàng.
Mặc dù, môi trường pháp lý đã tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp nhưng do
pháp luật còn thiếu ổn định khiến doanh nghiệp gặp không ít khó khăn đặc biệt là khi
ký kết hợp đồng. Bên cạnh đó, việc chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết
thi hành pháp luật khiến cho công ty khó khăn khi ký kết, thực hiện cũng như giải
quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
Qua quá trình thực tập tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh, em nhận thấy
rằng hoạt động mua bán hàng hóa là một trong những lĩnh vực hoạt động phát triển
nhất tại công ty và cũng là lĩnh vực có nhiều nhuững ấn đề pháp lý trong thực tiễn giao
kết và thực hiện các hợp đồng kinh doanh thương mại nói chung và hợp đồng mua bán
hàng hóa nói riêng.việc áp dụng pháp luật về hợp đồng đối với loại hợp đồng này chưa
thật sự đầy đủ và đúng đắn nên đã dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Sau một thời gian
tìm hiểu về công ty và tìm hiểu về thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng tại công
ty cùng với kiến thức được trang bị ở nhà trường em nhận thấy rằng hợp đồng là một
công cụ pháp lý không thể thiếu của hoạt động mua bán hàng hóa. Nó giúp các bên
dẫn chiếu đến khi một trong hai bên không thực hiện nghĩa vụ, nhờ đó mà bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Buộc các bên tham gia hoạt động mua bán
hàng hóa phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Vì vậy em đã chọn đề tài: “một số
vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa- thực tiễn áp dụng tạ
công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh” để làm bài kháo luận của mình.

những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện
pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời đưa ra một số đề xuất giúp công ty
nâng cao hiệu quả trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
http://123doc.org/document/317931-giao-ket-va-thuc-hien-hop-dong-mua-ban-
hang-hoa-tai-cong-ty-tnhh-nhat-nuoc.htm
- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả: Đặng Văn Vũ, khoa luật kinh tế, trường đại
học Kinh Tế Quốc Dân, do TS.Đỗ Kim Hoàng hướng dẫn thực tập. Đề tài của tác giả
là: “thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kí kết và thực hiện hợp đồng nhập
khẩu hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình”. Trong đề tài này
tác giả nghiên cứu khái quát những vấn đề pháp lý chung về kí kết và thực hiện hợp
đồng nhập khẩu hàng hóa tại công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hòa Bình, để tìm
hiểu những vấn đề thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân tồn tại những khó khăn trong
việc kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa tại công ty.
http://123doc.org/document/2058783-thuc-trang-va-giai-phap-nham-nang-cao-
hieu-qua-ky-ket-va-thuc-hien-hop-dong-nhap-khau-hang-hoa-tai-cong-ty-co-phan-vat-
tu-bao-ve-thuc-vat-hoa-binh.htm
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
- Đề tài khóa luận: “Cơ sở pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu Ninh
Bình”.tác giả: Đặng Thị Xuyên, khoa luật, trường đại học Kinh Tế Quốc Dân, do
TS.Nguyễn Hợp Toàn hướng dẫn khóa luận. Đề tài đề cập đến những vấn đề pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, theo quy định của pháp luật Việt Nam và quốc
tế. Thông qua thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần sản xuất- xuất nhập khẩu Ninh
Bình để đưa ra một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình này tại công ty
nói riêng và các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu nói chung.
http://123doc.org/document/15229-co-so-phap-ly-ve-giao-ket-va-thuc-hien-hop-
dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-va-thuc-tien-ap-dung-tai-cong-ty-co-phan-sx-xnk-
ninh-binh-doc.htm

và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa - thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH dệt
may Hưng Thịnh” để tìm hiểu và nghiên cứu. Qua việc lựa chọn đề tài này, em muốn
tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực
tiễn áp dụng tại công ty. Từ đó, tìm ra những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải
pháp nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa,
đồng thời em cũng đưa ra một số đề xuất giúp công ty nâng cao hiệu quả trong sản
xuất và kinh doanh hàng hóa.
Trên cơ sở lý luận và pháp luật điều chỉnh về các vấn đề liên quán đến kí kết và
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa để hiểu rõ hơn vai trò và pháp luật điều chỉnh
về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đưa ra những điểm còn bất cập, hạn chế cần khắc phục để tìm hướng giải quyết
trong vấn đề về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Đề tài tập trung nghiên cứu chế độ pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa. Lấy xuất phát điểm là lời chào hàng, chấp nhận lời chào hàng, trình
tự kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa từ đó liên hệ thực tiễn tại công ty
TNHH dệt may Hưng Thịnh.
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
+ Làm rõ hơn các lý luận pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
+ Phân tích thực trạng kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty
TNHH dệt may Hưng Thịnh.
+ Trên cơ sở lý luận và thực trạng của công ty, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn cho việc kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Thời gian từ khi Bộ Luật Dân Sự 2005, Luật Thương Mại 2005, những quy
định về kí kết và thực hiện hợp đồng Được ban hành và có hiệu lực không gian: đi
sâu vào nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hóa tại công ty TNHH dệt may Hưng Thịnh.
5. Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN
ĐỀ VỀ KÍ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể
1.1.2 Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người thông qua trao đổi, mua bán.
Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa được định nghĩa “bao gồm tất cả các loại
động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; các vật gắn liền với đất đai”
(khoản 2 điều 3 Luật thương mại 2005). Hàng hóa là đối tượng mua bán phải không
thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định
59/2006/NĐ- CP ngày 12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinh
doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp
luật về mua bán các loại hàng đó.
1.1.3 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thể
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Hiện nay, hoạt động mua bán hàng hoá được điều chỉnh chủ yếu bởi hai văn bản
pháp luật quan trọng là Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005. Hoạt động
mua bán hàng hoá có thể được xem là một dạng cụ thể của hoạt động mua bán tài sản.
Theo quy định của Điều 428 BLDS 2005 về hợp đồng mua bán tài sản thì: Hợp đồng
mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản
cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên
bán. Theo điều 163 Bộ luật Dân sự thì tài sản bao gồm : vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản.
Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa
mà chỉ đưa ra khái niệm về hoạt động mua bán hàng hoá. Mua bán hàng hóa được định

phát sinh; những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp
đồng đều bị đe dọa phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm hợp đồng; việc áp dụng
trách nhiệm hợp đồng với các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, phạt hợp đồng, bồi
thường thiệt hại… chính là những biện pháp bảo hộ pháp lý đảm bảo , củng cố kỷ luật
hợp đồng.
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa
1.2.1. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa.
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
Luật Thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong
thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân
sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Điều 428 Bộ Luật Dân
sự năm 2005 , hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận
tài sản và trả tiền cho bên bán. Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất. Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
có phạm vi hẹp hơn tài sản. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Điểm phân biệt giữa hợp đồng
mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản khác là: đối tượng
hàng hóa, và mục đích sinh lời. Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ
yếu nào là tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia. Việc pháp luật quy
định nội dung của hợp đồng mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa
thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện và
phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luật
Thương mại Việt Nam không quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội
dung bắt buộc nào. Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa

hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa. Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập bởi
hợp đồng giữa các bên và quy định của pháp luật. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản
chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Để đảm bảo lợi ích của cả người bán
và người mua việc xác lập những quy tắc chung trong quá trình mua bán ký kết hợp
đồng, thực hiện hợp đồng là yếu tố rất quan trọng. Do vậy việc thiết lập luật về hợp
đồng mua bán trở thành yếu tố tiên quyết nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế được
phát triển ổn định và bền vững.
1.2.2 Nội dung pháp luật về kí kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Nội dung pháp luật về kí kết
1.2.2.1.1 Chủ thể
Chủ thể là thương nhân.
Để xác định một thoả thuận có phải là một HĐMBHH hay không thì việc trước
tiên là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có phải là tư nhân hay không,
sau đó mới xét đến đối tượng của hợp đồng. Thường nhân bao gồm tổ chức kinh tế
được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc
lập và có đăng ký kinh doanh.
LTM năm 2005 cũng thừa nhận thương nhân thông qua việc không đặt điều kiện
đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc để được công nhận nhưng
đối với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm
về mọi hoạt động của mình. Quy định này đã được giải quyết những vấn đề đặt ra
trong thực tế là người không đăng ký kinh doanh nhưng có hành vi kinh doanh thì có
được coi là thương nhân không. Những quy định này lại có phần không rõ ràng vì nó
không giới hạn trách nhiệm của thương nhân trong phạm vi hoạt động thương mại. Vì
vậy một tổ chức, cá nhân trước khi đăng ký kinh doanh tiến hành các hành vi không
nhằm mục đích sinh lợi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm như với thương nhân.
Thương nhân sẽ không bao gồm hộ gia đình, tổ hợp tác vì tuy được thừa nhận là
chủ thể của luật dân sự, có quyền hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh,
cá thể song hộ gia đình, tổ hợp tác không phải tổ chức kinh tế, cũng chẳng phải là cá

thể trở thành thương nhân mà chỉ có pháp nhân nào là tổ chức kinh doanh được thành
lập để hoạt động thương mại mới trở thành thương nhân. Pháp nhân là tổ chức kinh tế
gồm: Doanh nghiệp Nhà nước; Hợp tác xã; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ
phần; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Các tổ chức kinh tế khác có đủ điều
kiện theo quy định là thương nhân. Theo quy định của LTM năm 2005 hộ gia đình và
tổ hợp tác không được xếp là tổ chức hay cá nhân.
Chủ thể không phải là thương nhân.
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân
không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với thương nhân.
Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động thương mại độc lập và
thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều kiện nói trên khác với bên là
thương nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực vì
hành vi để tham gia giao kết và thực hiện HĐMBHH theo quy định của pháp luật. Đó
có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp
nhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động thương mại độc lập và
thường xuyên như một nghề.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
1.2.2.1.2 Hình thức kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết bằng văn bản giữa thương nhân với
thương nhân, giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhân
nhằm mục đích mua bán, trao đổi hàng hóa
1.2.2.1.3 Nguyên tắc kí kết hợp đồng:
Theo Điều 389 Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các
nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức
xã hội:
Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
1.2.2.1.4 Đề nghị kí kết hợp đồng

cho bên đề nghị về việc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong đề nghị giao kết
hợp đồng. Về vấn đề này Điều 18 công ước viên 1980 cũng quy định rõ:" Tuyên bố,
hành động nào đó của người được chào hàng thể hiện sự đồng ý với đơn chào hàng
được gọi là việc chấp nhận. Thái độ im lặng hoặc không hành động không phải khác là
việc chấp nhận đơn chào hàng". Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có
giá trị khi đó là hành vi, hành động mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua
bán hàng hoá. Không thể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời
đề nghị trong khi nghi giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi họ không
có biểu hiện nào bên ngoài để cho người đề nghị biết là mình đồng ý với toàn bộ đề
nghị giao kết hợp đồng thời hạn trách nhiệm của bên đề nghị bắt đầu từ thời điểm đề
nghị giao kết hợp đồng được chuyển đi cho bên được đề nghị đến hết thời hạn ghi
trong đề nghị giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên, để tạo mọi khả năng để các bên có thể tiến tới giao kết hợp đồng mua
bán hàng hoá các bên có thể tiến hành hành động khác khi nhận được chấp nhận đề
nghị quá giới hạn. Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được thông
báo chấp nhận đề nghị sau khi hết thời hạn chờ trả lời thì lời đề nghị đó được coi như
là đề nghị mới của bên chậm trả lời: Nghĩa là đã xuất hiện một đề nghị giao kết hợp
đồng mới từ phía đối tác của người đã đề nghị và người đã đề nghị nếu tiếp tục chấp
nhận thì trở thành người chấp nhận đề nghị. Trong trường hợp thông báo chấp nhận
giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách hàng, mà bên đề nghị biết hoặc phải biết
về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết này vẫn có hiệu lực, trừ
trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề
nghị giao kết hợp đồng.
Trong trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có
điều kiện sửa đổi, bổ sung một trong những nội dung của đề nghị thì hành vi đó được
coi là từ chối đề nghị và hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới. Như vậy, nếu
bên được đề nghị sửa đổi, bổ sung đề nghị không làm thay đổi cơ bản nội dung của đề
nghị giao kết hợp đồng thì hành vi đó cũng không được coi là chấp nhận đề nghị, mà
được coi là đề nghị giao kết hợp đồng mới. Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng
được sửa đổi, bổ sung có thể là điều kiện về giá, thanh toán, chất lượng, số lượng, địa

- Số lượng, chất lượng.
- Giá, phương thức thanh toán.
- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
- Quyền, nghĩa vụ của các bên.
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
- Phạt vi phạm hợp đồng.
- Các nội dung khác.
1.2.2.2.3 Thực hiện các điều khoản
Thực hiện nội dung về đối tượng hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa.
Điều khoản về đối tượng là điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty rất lưu ý đến điều khoản này, thực hiện
giao hàng đầy đủ số lượng, trọng lượng hàng hóa theo đơn vị đo lường mà hai bên đã
thỏa thuận. Trong hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hóa mà công ty ký kết, khi thực
hiện điều khoản này, nếu bên nhận hàng kiểm tra thấy chất lượng hàng không phù hợp
với hợp đồng thì yêu cầu bên kia giao hàng đúng chất lượng đồng thời bồi thường thiệt
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
hại nếu có. Trường hợp giao hàng không đúng số lượng thì bên mua nhận và chỉ thanh
toán theo số hàng đã nhận và yêu cầu giao tiếp hàng thiếu. Còn nếu sản phẩm có lỗi
(dù là bên mua nhận thấy trước lúc nhận hàng hay sau) thì công ty vẫn nhận lại những
hàng hóa đó để sửa chữa cho bên mua, nhằm giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài và tạo uy
tín trong kinh doanh.
Thực hiện nội dung thời gian, địa điểm giao nhận hàng hóa.
Đối với hầu hết hợp đồng mua hàng hóa của công ty, thì địa điểm nhận hàng đều
quy định tại kho của công ty. Còn đối với hợp đồng bán hàng hóa thì địa điểm giao
hàng tại kho bãi của bên mua đối với hợp đồng có số lượng lớn và địa điểm giao hàng
là kho bãi của công ty đối với hợp đồng có số lượng ít.
Thực hiện nội dung về thời điểm giao nhận hàng thì tùy theo thỏa thuận trong
từng hợp đồng cụ thể giữa công ty với bạn hàng. Tuy nhiên, điều khoản này chủ yếu là

định của pháp luật, trong trường hợp đó bên bán có quyền lấy tiền lãi với thời gian
chậm thanh toán đó, tuy nhiên, để giữ mối làm ăn lâu dài, công ty thường không lấy lãi
mà chỉ nhắc nhở để yêu cầu bên mua thanh toán.
1.2.2.2.4 Quyền của bên bán:
Theo Điều 306 Luật thương mại, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán có
quyền nhận tiền hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi bên mua chậm thanh toán
thì bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá
hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm
trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đồng thời,
nếu bên bán chậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua
thì bên bán có quyền ngừng giao hàng hoặc yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại,
ngoài ra bên bán còn có thể áp dụng các hình thức chế tài khác như: buộc thực hiện
hợp đồng, phạt vi phạm, hủy bỏ hợp đồng.
1.2.2.2.5 Quyền của bên mua
Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ điển hình, trong đó, quyền của
bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Do đó, quyền của bên mua
chính là những điều khoản mà bên bán có nghĩa vụ thực hiện như đã đề cập ở phần
nghĩa vụ của bên bán. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 51 Luật thương mại thì bên
mua có quyền ngừng thanh toán tiền hàng trong các trường hợp:
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối;
- Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có
quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;
- Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp
đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không
phù hợp đó.
1.2.2.2.6 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
Việc xác lập và thực hiện các hợp đồng trước hết là dựa vào sự tự giác của các
bên nhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều có thiện chí
trong việc thực hiện hợp đồng một cách nghiêm chỉnh. Do vậy trong hợp đồng thường
có điều khoản thỏa thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng để đảm bảo độ tin

thế chấp khi chấm dứt thế chấp.
Đặt cọc
Đặt cọc là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, được định
nghĩa tại Điều 358 BLDS năm 2005 ‘Ðặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một
khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt
cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự”. Khi
tiến hành đặt cọc thì phải lập thành văn bản ghi rõ các vấn đề như đối tượng, giá trị
bằng tiền hay tài sản đặt cọc, thời hạn đặt cọc trong văn bản. Trong trường hợp, hợp
đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc
hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết,
thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận
đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài
sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
Ký quỹ
Theo khoản 1 Điều 360 BLDS thì ký quỹ cũng là một biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ đối với các bên, nó được thực hiện thông qua ngân hàng – nơi nhận tài
sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho một bên trong hợp đồng. Ngân hàng sẽ được
bên có quyền yêu cầu thanh toán hay bồi thường thiệt hại (sau khi đã trừ đi chi phí
dịch vụ ngân hàng) do bên có nghĩa vụ gây ra khi không thực hiện hay thực hiện
không đúng nghĩa vụ.
Bảo lãnh
Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận
bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi
đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ. Tài sản bảo lãnh phải ngang bằng hoặc lớn hơn giá trị phần nghĩa vụ được cam kết
thực hiện. Ngoài sự xác nhận của cơ quan công chứng nhà nước thì phải có thêm sự

trọng tài hoặc tòa án; ngoài ra, nó không phải là quá trình tố tụng công khai nên đảm
bảo giữ vững được các bí mật trong thương mại mà các bên không muốn cho người
ngoài biết. Giữ vững uy tín và danh dự cho các bên.
Do bản chất của hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận nên kết quả thỏa thuận
không có tính chất bắt buộc thi hành cao như giải quyết tại Trung tâm trọng tài hay
Tòa án.
Giải quyết tại Trung tâm trọng tài
Cũng như hai phương thức giải quyết trên thì phương thức giải quyết tranh chấp
tại Trung tâm trọng tài được các bên lựa chọn bởi những ưu điểm của phương thức này
có thể được kể đến đó là: Đỡ tốn kém về thời gian bởi đây là phương thức giquyết tại
Tòa án. Và nó cũng đảm bảo tính khách quan, trung lập của trọng tài. Phán quyết của
trọng tài có hiệu lực thi hành bởi nó được Tòa án công nhận và cho thi hành qua một
thủ tục tư pháp. Ngoài ra phương thức này cũng đảm bảo bí quyết kinh doanh của các
bên vì nó không phải là phương thức giải quyết công khai như giải quyết tại Tòa án.
Để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và được giải quyết tại Trung tâm trọng tài thì
phải có đủ các điều kiện sau:
+ Tranh chấp phải phát sinh từ hoạt động thương mại thương mại. Các hoạt động
thương mại được liệt kê ở Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh trọng tài năm 2003.
+ Trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có Thỏa thuận trọng tài (Khoản 1
Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 25/02/2003)
Nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài mà khi xảy ra tranh chấp lại có thỏa
thuận trọng tài thì cũng được áp dụng hình thức này, tuy nhiên phải thỏa thuận giải
quyết tại trọng tài trước khi các bên khởi kiện lên trung tâm trọng tài
+ Người ký kết thỏa thuận trọng tài có năng lực ký kết theo quy định của pháp luật.
Đó là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có thẩm quyền ký kết thỏa
thuận đó. Tuy nhiên trong trường hợp nếu người ký thỏa thuận trọng tài không có thẩm
quyền ký kết và khi phát sinh tranh chấp mà một bên có yêu cầu tòa án giải quyết, thì
tòa án yêu cầu người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài cho biết ý kiến bằng
văn bản họ có chấp nhận thỏa thuận trọng tài đó hay không. Nếu họ chấp nhận thì
trường hợp này thỏa thuận trọng tài không vô hiệu và vụ tranh chấp sẽ thuộc thẩm

Nguyên tăc bình đẳng:
Quan hệ hợp đồng là quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng với nhau. Các chủ thể
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc kí kết và thực hiện hợp đồng. Các bên tự
nguyện cùng nhau xác lập quan hệ hợp đồng, bảo đảm nội dung của quan hệ đó thể
hiện được sự tương ứng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp cho các bên. Khái
niệm về sự tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng dẫn đến thái độ thiện chí,
hợp tác, trung thực và ngay thẳng giữa các bên.
Nguyên tắc tự do kinh doanh, kí kết, giao kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận ý chí của các bên tham gia kí kết
làm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý, do đó việc kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải
dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên. Việc bày tỏ ý chí thể hiện trên ba khia cạnh: tự
do chon đối tác kinh doanh, tự do xác lập nội dung giao kết và tự do lựa chọn hình
thức giao kết. Về nội dung hợp đồng, nguyên tắc tự do giao kết cho phép các bên tự do
thỏa thuận các điều khoản về nội dung của hợp đồng, nhưng để nội dung hợp đồng có
hiệu lực pháp luật thì những điều khoản nội dung của hợp đồng không được trái pháp
luật và đạo đức xã hội.
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Trịnh Thị Sâm
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ VỀ KÍ KẾT
VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kí kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
2.1.1. Tổng quan về công ty trách nhiệm hữu hạn dệt may Hưng Thịnh
2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của công ty TNHH Dệt may Hưng Thịnh
Tên đơn vị thực tập: Công ty TNHH DỆT MAY HƯNG THỊNH
Tên giao dịch : HƯNG THỊNH
Loại hình công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất Sợi và các loại khăn bông
Số lượng nhân viên: 297 người

Phòng
XNK
Phòng
KD &
PTTT
Phòng
Kế toán
Phòng
kỹ thuật
Phòng
chất
lượng
Phòng
sợi mẫu
Phân
xưởng
Sợi
Xưởng
sản
xuất
Phân
xưởng
khăn
Phòng
kỹ thuật
Đóng
gói
Phòng
giác
mẫu

tham mưu cho ban Giám đốc về công tác quản lý cán bộ, lao động, tiền lương, bảo vệ
an ninh, hành chính
- Phòng chất lượng có chức năng tham mưu cho ban Giám đốc trong công tác
quản lý hệ thống chất lượngcủa công ty theo tiêu chuẩn ISO9000; duy trì và đảm bảo
hệ thống chất lượng hoạt động có hiệu quả. Kiểm tra, kiểm soát chất lượng hàng hoá
từ khâu đầu đến khâu cuối của qua trình sản xuất để sản phẩm xuất xưởng đáp ứng tiêu
chuẩ kỹ thuật theo quy định.
- Các xưởng sản xuất có nhiệm vụ biến các nguyên kiệu đầu vào thành các sản phẩm
đầu ra theo đúng mẫu mã thiết kế, và theo đúng tiêu chuẩn chất lượng đã quy định
SV: Trần Thị Minh Trang Lớp: K47P4
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status