tranh chấp về hợp đồng mua bán ngoại thương (hđmbnt) và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật bằng trọng tài khi có tranh chấp xảy ra - Pdf 22

Lời nói đầu
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, với chính sách mở cửa, quan hệ
kinh tế trong nước cũng như quan hệ thương mại quốc tế và đầu tư nước
ngoài trở nên sống động , đa dạng và phức tạp. Các bên tham gia quan hệ
thương mại ,đầu tư vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau nhằm mục đích
thu lợi nhuận tối đa về cho mình . Trong điều kiện như vậy, tranh chấp xảy
ra không những là điều khó tránh khỏi mà còn phức tạp hơn về nội dung
,gay gắt về mức độ tranh chấp đòi hỏi cần phải được tổ chức giải quyết một
cách thoả đáng nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên,góp phần
giữ vững trật tự và ổn định xã hội để tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát
triển.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra không phải là tránh né những tranh chấp mà
mỗi lần những tranh chấp phát sinh thì cần phải dùng những phương pháp
nào, căn cứ pháp luật nào để giải quyết.
Do tầm quan trọng của việc giải quyết xung đột pháp luật khi có tranh
chấp về hợp đồng mua bán ngoại thương (HĐMBNT) trong nền kinh tế thị
trường hiện nay nên em đã chọn đề tài “Tranh chấp về HĐMBNT và
phương pháp giải quyết xung đột pháp luật bằng trọng tài khi có tranh
chấp xảy ra” làm đề tài tiểu luận của môn luật kinh tế.
Việc giải quyết xung đột khi xảy ra tranh chấp về HĐMBNT là một
vấn đề linh hoạt, tuỳ từng trường hợp tranh chấp của từng hợp đồng cụ thể
mà có những hướng giải quyết khác nhau. Hơn nữa, do kinh nghiệm thực tế
và kiến thức của em còn hạn chế nên sự thiếu sót là không thể tránh khỏi.
Em rất mong nhận được sự góp ý tị phía thầy(cô) để bài viết của em được
hoàn thiện hơn.
Nội dung
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới toàn
diện ở Việt Nam. Nhà nước Việt Nam đang tiến hành xây dựng nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh giao lưu kinh tế khu vực và
thế giới. Trong quá trình đó các tranh chấp kinh tế cũng ngày càng phát
triển đa dạng và phức tạp nhất là tranh chấp có yếu tố nước ngoài trong

liên quan.
2.
Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong hợp
đồng mua bán hàng hoá ngoại thương.
Vấn đề xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dựa
vào các dấu hiệu sau:


Nếu các bên ký hợp đồng thoả thuận chọn một cơ quan giải quyết
tranh chấp và ghi vào hợp đồng, thì khi tranh chấp xảy ra chỉ có cơ quan đó
mới có thẩm quyền giải quyết.


Nếu các bên không thoả thuận cơ quan tài phán thì khi tranh chấp
xảy ra, cơ quan giải quyết tranh chấp là toà án quốc gia ( có thể là toà án
nước người bán, toà án nước người mua hoặc toà án nước thứ ba).


Nếu khi tranh chấp xảy ra các bên mới thoả thuận chọn cơ quan
tài phán thì cơ quan đó có thẩm quyền giải quyết.
ở Việt Nam để giải quyết vấn đề này Điều 240 Luật thương mại quy
định: “ Đối với các tranh chấp thương mại với thương nhân nước ngoài nếu
các bên không có thoả thuận và trong Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia không có quy định thì
tranh chấp được giải quyết tại toà án Việt Nam.”
3.
Xác định hệ thống luật pháp cần được áp dụng để giải quyết tranh
chấp.
Theo Điều 834 Bé luật dân sự Việt Nam Đã quy định: “ Quyền và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dân sự ®ù¬c xác định theo pháp luật

vật chất cho quá trình này có thể ít hơn so với giải quyết bằng toà án.

Có sự tham gia của bên thứ ba là cá nhân trung lập.

Quyết định trọng tài mang tính trung thẩm ràng buộc các bên tranh
chấp .

Quá trình giải quyết độc lập, không ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị.
Do tranh chấp H§MBNT là tranh chấp quyền và nghĩa vụ được quy
định trong hợp đồng , mà hợp đồng vừa là văn bản pháp lý vừa là văn bản
thể hiện sự hợp tác quốc tế giữa các chủ thể, nên khi giảI quyết bằng
phương pháp trọng tài ta xem xét trên hai góc độ:
Góc độ pháp lý: Việc giải quyết tranh chấp phải dựa trên điều lệ và
các quy tắc tố tụng trọng tài đã được nhà nước có trọng tài đó công nhận,
hoặc do hai bên thoả thuận. Giải quyết tranh chấp phải dựa trên hợp đồng,
các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế có liên quan.
Góc độ kinh tế: Đây là việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan
hÖ kinh tế nên mục đích giải quyết về mặt khách quan phải đạt được những
lợi ích kinh tế trong vụ kiện. Chính những lợi ích này đã làm cho phương
pháp giải quyết bằng trọng tài trở nên ưu việt hơn.
2. Thủ tục tố tụng Trọng tài:
Hiện nay, Việt Nam hầu như không có pháp luật cơ thể nào quy định
rõ ràng về thủ tục tố tông trọng tài nên thu tục tố tông trọng tài không có sự
lựa chọn nào khác là dựa vào các quy tắc tố tông của Trung tâm.
Toàn bộ thủ tục tố tụng của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
được quy định trong Quy tắc tố tụng của Trung tâm ngày 20/08/1993, bao
gồm những bước sau:
Bước 1: Khởi kiện.
Thủ tục khởi kiện bắt đầu bằng một đơn kiện do nguyên đơn nộp cho
trung tâm. Đơn kiện phải ghi rõ:tên, địa chỉ của nguyên đơn(có kèm theo

phán quyết được yêu cầu thi hành và theo các điều ước quốc tế hữu quan có
hiệu lực
đối với vụ kiện này.

IV. Một số vấn đề còn tồn tại:
Theo quan điểm của các nhà đầu tư và các thương nhân nước ngoài

Việt Nam không có quy định nào về thủ tục trọng tài Ad-hoc, ngay cả khi
cần sự hợp tác của Toà án để cung cấp bằng chứng hoặc kiểm tra nhân
chứng cũng khó có thể có sự hợp tác có hiệu quả vì Toà án không thể
nhanh chóng quyết định vấn đề do thiếu những quy định của pháp luật về
vấn đề này.
Khó khăn trong việc cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài
trong nước:
Mặc dù, Toà án Việt Nam có thÓ cưỡng chế thi hành phán quyết của
trọng tài nước ngoài theo công ước New York 1958 hoặc theo thoả thuận
song phương nhưng việc cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài nước
ngoài vẫn còn khó khăn. Đây là một tồn tại lớn trong hệ thống pháp luật
Việt Nam.
V. Thực trạng về vấn đề giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài.
Trước đây, khi Việt Nam còn trong chế độ Kế hoạch hoá tập trung
thì từ “ngoại thương”là một tị rất xa lạ đối với người dân Việt Nam nói
chung và với các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên từ sau Mü
tuyên bố xoá bỏ chính sách cấm vận đối với Việt Nam thì nền kinh tế của
chúng ta đang từng bước thay da đổi thịt. Trong bối cảnh giao lưu kinh tế
khu vực và thế giới, người làm kinh doanh dù muốn hay không muốn đều
phải thiết lập quan hệ kinh tế với các tổ chức kinh doanh ở các quốc gia
khác nhau về mua bán hàng hoá, gia công sản phẩm, chế biến, trao đổi
hàng hoá….Các quan hệ nay dựa trên sự thoả thuận giữa các bên mà tiêu
chuẩn pháp lý của chúng là hợp đồng. Mục đích của các bên tham gia các
quan hệ kinh tế là nhằm đạt được lợi nhuận cho mình và nó đã trở thành
đọng lực cho các tổ chức kinh doanh. Trong điều kiện như vậy, tranh chấp
trong việc thực hiện hợp đồng là không thể tránh khỏi, đỏi hỏi phải có
những biện pháp hữu hiệu để giải quyết tranh chấp. Trước tình hình đó,
Chính phủ Việt Nam đã đưa luật thương mại áp dụng đối với các doanh
nghiệp trong và ngoài nước tại Việt nam. Một trong những thành công
trong việc nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới đó là

9/4/1998 của đại diện hai công ty để kết tội cá nhân ông Bùi Lương. Theo
đó, các cấp toà đã tuyên xử : “Buộc công ty Vĩnh Phong do ông Bùi Lương
làm giám đốc phải trả cho công ty do ông Teng làm giÂm đốc tổng số tiền
2.747.688.255 đồng. Đồng thời tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số 269/Q§DS ngày 24/1/2001 của Toà án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh 328 Nguyễn Chí Thanh, P7, Q11, Thành phố Hồ
Chí Minh của ông Lương. Tuy nhiên công ty Vĩnh Phong do hai sáng lập
viên là ông Bùi Lương – Chủ tịch hội đồng quản trị (kiêm phó giám đốc)
và bà Nguyễn Thị Thu Vân – Phó chủ tịch hội đồng quản trị (kiêm giám
đốc) cùng góp vốn thành lập. Khi không thể tiếp tục hoạt động, lãnh đạo
công ty Vĩnh Phong đã hoàn tất các thủ tục xin giải thể và đã được sở Kế
hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận từ ngày 25/11/1998
(đã đăng bố cáo giải thể 5 kỳ trên báo Sài gòn giải phóng, từ 30/10/1997).
Ngoài ra trong các văn bản ký giữa công ty Tai Yuan và công ty Vĩnh
Phong đều không thể hiện sự vay mượn tiền bạc gì , thế thì công ty Tai
Yuan dựa vào đâu để kiện đòi nợ? Trường hợp nếu có thì phía công ty Tai
Yuan phải chứng minh được giấy tờ vay mượn và khởi kiện công ty Vĩnh
Phong . Mặt khác, khi công ty Tai Yuan kiện công ty Vĩnh Phong đòi lại tài
sản từ hợp đồng gia công hàng dệt kim lại được Toà án dân sự thụ lý chứ
không phải do Toà án kinh tế ?Trong khi đó theo nội dung “hợp đồng gia
công hàng dệt kim” thì “mọi tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng
, hai bên sẽ giải quyết bằng thương lượng. Trong trường hợp hai bên không
thoả thuận được mà vụ tranh chấp kéo dài quá 4 tuần lễ thì hai bên nhất trí
đưa ra Trung tâm trọng tài QTVN để giải quyết” .
Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới , các quan hệ kinh
tế quốc tế phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp , do đó các tranh chấp
phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương càng
trở nên phức tạp hơn. Trước vấn đề đó , việc giải quyết tranh chấp giữa các
chủ thể kinh doanh vừa theo đúng pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội

2. Thủ tục tố tụng trọng tài………………………………………… ….4
IV. Một số vấn đề còn tồn tại …………………………………………….7
V. Thực trạng về vấn đề giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài………9
VI. Vụ kiện giữa công ty Tai Yuan (Đài Loan) với công ty Vĩnh
Phong…………………………………………………………………… 10
1. Nguyên nhân vụ kiện……………………………………………… 10
2. Phân tích và quyết định của trọng tài……………………………… 10
Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status