MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1. Những điểm cơ bản của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng
đường biển quốc tế 2
1.1. Khái ni mệ 2
1.2. Phân lo i h p ng b o hi m h ng hóa v n chuy n b ng ng bi n qu c tạ ợ đồ ả ể à ậ ể ằ đườ ể ố ế 3
1.3. c tr ng c a h p ng b o hi m h ng hóa v n chuy n b ng ng bi n qu c tĐặ ư ủ ợ đồ ả ể à ậ ể ằ đườ ể ố ế 4
Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng
đường biển quốc tế ở Việt Nam 7
2.1. Các ngu n lu t i u ch nh h p ng b o hi m h ng hóa v n chuy n b ng ng ồ ậ đề ỉ ợ đồ ả ể à ậ ể ằ đườ
bi n qu c t Vi t Namể ố ếở ệ 7
2.2. Nh ng h n ch , v ng m c trong quá trình th c thi pháp lu t t i Vi t Nam v b o ữ ạ ế ướ ắ ự ậ ạ ệ ề ả
hi m h ng hóa v n chuy n b ng ng bi nể à ậ ể ằ đườ ể 9
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đường biển quốc tế 10
3.1. Nh ng nguyên t c c b n khi ho n thi n pháp lu t v b o hi m h ng hóa v n ữ ắ ơ ả à ệ ậ ề ả ể à ậ
chuy n b ng ng bi n qu c tể ằ đườ ể ố ế 10
3.1.5. B o m tính d li u tr c c a pháp lu t b o hi m h ng h i t i Vi t Namả đả ự ệ ướ ủ ậ ả ể à ả ạ ệ 13
3.2. M t s gi i pháp v ki n ngh c th nh m ho n thi n pháp lu t b o hi m Vi t Nam ộ ố ả à ế ị ụ ể ằ à ệ ậ ả ể ệ
v b o hi m h ng hóa v n chuy n b ng ng bi nề ả ể à ậ ể ằ đườ ể 14
KẾT LUẬN 25
Trên đây, nhóm chúng em đã trình bày một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế cũng như các giải pháp để hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế 25
LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế có vai trò hết sức
quan trọng trong hoạt động ngoại thương của các quốc gia, đặc biệt là những nước mà
vận tải biển là phương thức vận tải chủ yếu trong thương mại quốc tế như ở Việt Nam.
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế chịu sự điều chỉnh của
một hệ thống quy phạm pháp luật hết sức phức tạp. Tính chất quốc tế của việc vận chuyển
niệm chung về hợp đồng bảo hiểm. Cả hai đạo luật trên đều không quy định về bất
kỳ hợp đồng bảo hiểm cụ thể nào. Do đó, để đi đến khái niệm về hợp đồng bảo
hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế, trước hết luận văn bắt đầu
bằng khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hải được đề cập tại Điều 224 Bộ luật
hàng hải Việt Nam 2005.
1. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro hàng hải, theo đó
người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải
thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cách thức và điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng.
2
Rủi ro hàng hải là những rủi ro liên quan đến hành trình đường biển, bao
gồm các rủi ro của biển, cháy, nổ, chiến tranh, cướp biển, trộm cắp, kê biên,
quản thúc, giam giữ, ném hàng xuống biển, trưng thu, trưng dụng, trưng mua,
hành vi bất hợp pháp và các rủi ro tương tự hoặc các rủi ro khác được thỏa thuận
trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể mở rộng theo những điều kiện cụ thể
hoặc theo tập quán thương mại để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm đối
với những tổn thất xảy ra trên đường thuỷ nội địa, đường bộ hoặc đường sắt thuộc
cùng một hành trình đường biển [2].
Từ khái niệm hợp đồng bảo hiểm trong Bộ luật dân sự; Luật kinh doanh bảo
hiểm và khái niệm hợp đồng bảo hiểm hàng hải trong Bộ luật hàng hải nói trên, có
thể hiểu: Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa người mua bảo hiểm và người bảo hiểm, theo đó
người mua bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm còn người bảo hiểm phải bồi thường cho
người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra cho hàng hóa được bảo hiểm
trong suốt hành trình được bảo hiểm.
1.2. Phân loại hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế
Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế thường
được chia thành hai loại là hợp đồng bảo hiểm chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao.
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm cho một lô hàng trên một
chuyến hành trình từ địa điểm này đến địa điểm khác. Đây là loại hợp đồng "tường
- Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là loại
hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là loại
hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Sở dĩ như vậy bởi lẽ hợp đồng bảo hiểm này có
mối quan hệ mật thiết với hợp đồng ngoại thương. Các chủ thể của hợp đồng mua
bán ngoại thương ở các nước khác nhau, có ngôn ngữ, luật pháp, tập quán và thói
quen buôn bán khác nhau. Do đó, các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đường biển quốc tế có thể là người nước ngoài. Bên cạnh đó, người
4
vận chuyển có thể là hãng tàu của chính nước nhập khẩu, nước xuất khẩu hoặc
nước thứ ba. Quá trình vận chuyển hàng hóa thường qua lãnh hải của nhiều quốc
gia. Chính vì vậy, trong một chừng mực nhất định, yếu tố nước ngoài luôn chi phối
đến các khía cạnh kỹ thuật và pháp lý của hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
bằng đường biển quốc tế.
- Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là
loại hợp đồng song vụ.
Khác với dạng hợp đồng đơn vụ, trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, hai bên
trong hợp đồng bảo hiểm đều có nghĩa vụ đối với nhau. Nghĩa vụ bồi thường bảo hiểm
của bên bảo hiểm tương xứng với nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm của bên được bảo hiểm;
nghĩa vụ giải thích các điều kiện, điều khoản của hợp đồng bảo hiểm đi đôi với nghĩa
vụ kê khai thông tin của bên được bảo hiểm Nghĩa vụ của các bên trong quá trình
giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển được Luật kinh doanh
bảo hiểm quy định tại các điều 17, 18. Tuy nhiên, pháp luật kinh doanh bảo hiểm cũng
không ngăn cấm các bên trong hợp đồng có những thỏa thuận riêng.
- Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế là loại
hợp đồng mở sẵn, tùy thuộc (hợp đồng theo mẫu)
Mẫu hợp đồng bảo hiểm được đưa ra bởi bên bảo hiểm - người bảo hiểm soạn
thảo sẵn các điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm. Khi giao kết hợp đồng bảo
hiểm, đối với phần điều kiện chung, người tham gia bảo hiểm chỉ có thể chấp thuận
toàn bộ hoặc không giao kết hợp đồng bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm chỉ có thể
quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên trong quan hệ mua bán, vận chuyển được
đề cập trong các nguồn luật này có liên quan chặt chẽ tới việc giao kết, thực hiện và
giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển.
6
Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
bằng đường biển quốc tế ở Việt Nam.
2.1. Các nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
bằng đường biển quốc tế ở Việt Nam
Đánh giá về hiện trạng thực thi pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
bằng đường biển quốc tế ở Việt Nam không thể không nói đến những kết quả đạt
được từ việc ban hành các quy phạm pháp luật và tác động của nó đến hoạt động
kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm này ở nước ta.
Khởi xướng từ Đại hội Đảng VI, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang
cơ chế thị trường từ nửa cuối thập kỷ 80. Trước đòi hỏi của cơ chế thị trường trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc
cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh. Hệ thống các văn bản pháp
luật trong mọi lĩnh vực đã được rà soát, sửa đổi và ban hành mới theo xu hướng
công bằng và minh bạch hơn.
7
Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, bước ngoặt lớn nhất trên khía cạnh
pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc ban hành Luật kinh doanh bảo
hiểm
ngày 09/12/2000 và chính thức có hiệu lực từ 01/4/2001. Trước Luật kinh
doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải Việt Nam cũng được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30/6/1990 và
chính thức có hiệu lực từ 01/01/1991. Sau 15 năm áp dụng, Bộ luật này đã bộc lộ
nhiều điểm lỗi thời và khiếm khuyết, đây chính là lý do cho việc ra đời Bộ luật
hàng hải Việt Nam mới. Kế thừa Bộ luật hàng hải Việt Nam 1990
biết, ấu trĩ pháp luật của các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đường biển quốc tế cũng có xu hướng ít dần. Đây là kết quả của sự
hiểu biết pháp luật bảo hiểm ngày càng cao trong hàng ngũ những người làm bảo
hiểm và các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu.
2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật tại Việt
Nam về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển
Qua nghiên cứu thực tiễn, những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi
pháp luật về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển được tổng kết trong
những điểm chủ yếu sau:
(1) Những hạn chế, khiếm khuyết trong các quy định pháp lý từ Bộ luật hàng
hải đến Luật kinh doanh bảo hiểm và Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
bằng đường biển dẫn đến những hiểu biết lệch lạc và sự lợi dụng sơ hở của luật pháp để
thực hiện các hành vi trục lợi bảo hiểm. Những hạn chế, khiếm khuyết này bao gồm:
- Quy định về hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển vẫn
có hiệu lực trong trường hợp hàng hóa đã bị tổn thất trước thời điểm giao kết hợp
đồng bảo hiểm nếu người được bảo hiểm không biết về điều đó trong Quy tắc chung
về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là một sơ hở lớn nhất mà bên
mua bảo hiểm, thậm chí cả cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm có thể lợi
dụng để trục lợi bảo hiểm.
- Sự không nhất quán và khiếm khuyết trong quy định về bảo hiểm trùng giữa
Bộ luật hàng hải Việt Nam và Luật kinh doanh bảo hiểm cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn tới những vướng mắc trong quá trình vận dụng để giải quyết những
vấn đề thực tiễn nảy sinh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
(2) Tính không rõ ràng, khó hiểu trong một số quy định pháp lý có liên
quan đến bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng
9
đường biển nói riêng, có thể dẫn đến những hiểu lầm và ngộ nhận trong quá trình
giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
(3) Sự khác biệt giữa Bộ luật hàng hải Việt Nam với các nguồn luật quốc tế,
việc thiếu các chuyên gia có trình độ, có kinh nghiệm sâu về lĩnh vực hàng hải làm
Trong bối cảnh hiện nay, trước thềm của việc Việt Nam gia nhập vào Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), mọi chính sách và luật pháp đã ban hành trước đây đều
phải rà soát lại, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quá trình hội nhập ngày càng sâu
rộng. Năm năm gần đây đã chứng kiến hàng loạt thay đổi lớn trong lĩnh vực luật pháp
của Việt Nam. Những thay đổi này đều xuất phát từ đòi hỏi của việc minh bạch hóa và
tạo nên một sự công bằng cho tất cả chủ thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật, không
phân biệt yếu tố trong nước, ngoài nước, không phân biệt thành phần kinh tế đặt ra
trong quá trình hội nhập. Suy cho cùng, mọi sự thay đổi nói trên đều hướng tới việc
phù hợp hơn với các quy luật của kinh tế thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế,
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài không thể vượt ra ngoài mục tiêu đáp ứng
được yêu cầu phát triển, hội nhập và nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành hàng hải
và ngành bảo hiểm Việt Nam.
3.2.1.3. Đảm bảo tính phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật bảo hiểm Việt Nam
Trong một quốc gia, hệ thống các quy phạm pháp luật bao gồm rất nhiều văn
bản pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau. Chính đòi hỏi của tính phù hợp, tính
thống nhất trong hệ thống các quy phạm pháp luật đã tạo nên sự gắn bó hữu cơ giữa
Hiến pháp với các bộ luật và các văn bản dưới luật. Trong mỗi ngành luật, tính phù
11
hợp, tính thống nhất giữa các quy phạm pháp luật cũng là một đòi hỏi chính đáng của
thực tiễn.
Hệ thống pháp luật bảo hiểm Việt Nam bao gồm các quy phạm pháp luật được
quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật dân sự, Bộ luật hàng hải, Luật
thương mại, Luật hàng không, … và các văn bản dưới luật khác. Các quy phạm pháp
luật này có nội dung điều chỉnh những mối quan hệ pháp luật nảy sinh từ hoạt động
kinh doanh bảo hiểm.
Bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường
biển nói riêng chịu sự điều chỉnh trước hết bởi Bộ luật hàng hải Việt Nam. Chính vì
vậy, yêu cầu đặt ra là tạo nên tính phù hợp giữa Bộ luật hàng hải Việt Nam và các quy
tắc, điều khoản, quy định trong bảo hiểm hàng hải với hệ thống pháp luật bảo hiểm
luật bảo hiểm ở mỗi quốc gia phải tính tới sự phù hợp với thực tiễn hoạt động bảo
hiểm hàng hải ở quốc gia đó.
Những phân tích trên đây cho thấy việc tuân thủ nguyên tắc phù hợp với pháp
luật và thông lệ bảo hiểm hàng hải quốc tế trên cơ sở sát với thực tiễn của hoạt động
bảo hiểm hàng hải tại Việt Nam là yêu cầu cho mọi nghiên cứu nhằm đưa ra các kiến
nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải.
3.1.5. Bảo đảm tính dự liệu trước của pháp luật bảo hiểm hàng hải tại Việt Nam
Không phủ nhận rằng pháp luật ra đời xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của
cuộc sống. Tuy nhiên, cuộc sống không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi. Do
đó, để đảm bảo cho các quy phạm pháp luật được ban hành có giá trị sử dụng lâu
dài thì việc đảm bảo tính dự liệu trước của pháp luật có ý nghĩa quyết định. Trên
thế giới, không ít những bộ luật có giá trị sử dụng hàng thế kỷ. ở Việt Nam, tính
lỗi thời nhanh chóng của nhiều văn bản quy phạm pháp luật một phần do yêu cầu
của việc xây dựng luật là quán triệt và thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng, chủ
trương chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ, một phần là do tính dự liệu
trước trong quá trình xây dựng luật còn hạn chế.
Thực tiễn này cho thấy việc đảm bảo tính dự liệu trước của pháp luật bảo hiểm
hàng hải Việt Nam là yêu cầu đặt ra cho mọi nghiên cứu trong lĩnh vực này.
3.1.6. Đảm bảo tính dễ hiểu, dễ vận dụng của pháp luật bảo hiểm hàng hải
13
Dễ hiểu, dễ vận dụng (tính đại chúng) là yêu cầu đặt ra cho việc xây dựng
bất kỳ một văn bản luật nào. Trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm
hàng hải nói riêng, việc đảm bảo yêu cầu này có ý nghĩa quan trọng. Sở dĩ như
vậy bởi lẽ một sự không rõ ràng trong các quy định của luật hàng hải và các quy
tắc, điều khoản bảo hiểm đều có nguy cơ dẫn đến những tranh chấp không đáng
có trong quá trình vận dụng.
Đặc điểm của pháp luật bảo hiểm hàng hải là trong luật có sử dụng nhiều
thuật ngữ chuyên ngành. Hơn thế nữa, việc kế thừa các nguồn luật có tính quốc tế
đều vấp phải vấn đề khó khăn về ngôn ngữ. Trong thực tiễn kinh doanh bảo hiểm ở
Việt Nam, nhiều quy tắc, điều khoản bảo hiểm được dịch từ các văn bản tiếng Anh
và mỗi người chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với số tiền bảo hiểm mà mình đã nhận
bảo hiểm [2].
Nghiên cứu quy định về bảo hiểm trùng trong Luật kinh doanh bảo hiểm và
Bộ luật hàng hải Việt Nam đặt ra ba vấn đề cần được giải quyết:
Vấn đề thứ nhất: Sự khiếm khuyết và sơ hở trong quy định bảo hiểm trùng
trong Luật kinh doanh bảo hiểm.
Thật vậy, theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam, để được gọi là bảo hiểm
trùng chỉ cần có đủ ba dấu hiệu, đó là:
- Cùng một đối tượng bảo hiểm;
- Đối tượng được bảo hiểm bởi hai hợp đồng bảo hiểm trở lên;
- Các hợp đồng bảo hiểm có cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm.
Theo định nghĩa bảo hiểm trùng trong Bộ luật hàng hải, để được gọi là bảo
hiểm trùng cần có đủ bốn dấu hiệu, đó là:
- Cùng một đối tượng bảo hiểm;
- Đối tượng được bảo hiểm bởi hai hợp đồng bảo hiểm trở lên;
- Các hợp đồng bảo hiểm có cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm;
15
- Tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng vượt quá giá trị bảo hiểm.
Như vậy, so sánh với định nghĩa về bảo hiểm trùng trong Bộ luật hàng hải,
định nghĩa bảo hiểm trùng trong luật kinh doanh bảo hiểm còn thiếu quy định về tổng số
tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng phải lớn hơn giá trị bảo hiểm.
Sự khiếm khuyết trong định nghĩa bảo hiểm trùng trong Luật kinh doanh bảo
hiểm sẽ nảy sinh một vấn đề trong thực tiễn là không có một ranh giới nào để phân
biệt bảo hiểm trùng với đồng bảo hiểm và bảo hiểm giá trị gia tăng và dẫn tới một sơ
hở trong luật. Để làm rõ điều này, xin đưa ra một ví dụ minh họa. Chẳng hạn, một
người có một tài sản trị giá 100 triệu đồng, được bảo hiểm đồng thời bằng hai hợp
đồng bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm A và doanh nghiệp bảo hiểm B với số tiền
bảo hiểm lần lượt là 20 triệu đồng và 30 triệu đồng. Giả sử xảy ra một tổn thất 50 triệu
đồng thuộc trách nhiệm bồi thường của cả hai doanh nghiệp bảo hiểm. Đối chiếu với
quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật kinh doanh bảo hiểm thì rõ ràng đây là bảo hiểm
Từ ba vấn đề đặt ra trên đây, chúng tôi xin đưa ra các kiến nghị sau:
Thứ nhất: Sửa đổi khoản 1 điều 44 Luật kinh doanh bảo hiểm theo hướng bổ
sung thêm một dấu hiệu nữa của bảo hiểm trùng là tổng số tiền bảo hiểm của các hợp
đồng bảo hiểm phải lớn hơn giá trị bảo hiểm. Điều này không những tạo ra sự thống
nhất giữa Luật kinh doanh bảo hiểm với Bộ luật hàng hải, tạo ra sự chặt chẽ trong định
nghĩa bảo hiểm trùng trong Luật kinh doanh bảo hiểm mà còn giúp phân biệt rõ ràng
giữa bảo hiểm trùng với đồng bảo hiểm và bảo hiểm giá trị gia tăng.
Thứ hai: Sửa đổi khoản 2 Điều 234 Bộ luật hàng hải Việt Nam theo cách quy
định rõ ràng về trách nhiệm bồi thường của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm trong bảo
hiểm trùng là xác định số tiền bồi thường của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở tỷ
lệ giữa số tiền bảo hiểm của từng đơn bảo hiểm và tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các
đơn bảo hiểm. Sửa đổi này giúp cho việc vận dụng trong thực tiễn được thuận lợi hơn
và tránh tranh chấp có thể xảy ra giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm.
Thứ ba: Bổ sung thêm khoản 3 trong Điều 44 Luật kinh doanh bảo hiểm và
Điều 234 Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định về việc các doanh nghiệp bảo hiểm
được phép từ chối bồi thường trong trường hợp chứng minh được ý đồ man trá, trục
lợi của bên mua bảo hiểm trong bảo hiểm trùng. Quy định này hoàn toàn phù hợp với
17
pháp luật bảo hiểm của các nước phát triển và có tác dụng ngăn ngừa, răn đe các hành vi
trục lợi bảo hiểm thông qua việc cố ý tham gia bảo hiểm tại nhiều doanh nghiệp bảo
hiểm của người mua bảo hiểm.
3.2.2. Sửa đổi quy định tại Điều 12 Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận
chuyển bằng đường biển hiện hành cho phù hợp với Bộ luật hàng hải Việt Nam
Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển hiện đang
được các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam áp dụng dựa trên nền tảng của Quy tắc
chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển do Bộ Tài chính ban hành
năm 1990 (QTC 1990). Tại Điều 12 QTC 1990 quy định:
Nếu hợp đồng bảo hiểm được ký kết khi đã xảy ra tổn thất trong phạm vi trách
nhiệm của hợp đồng thì hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị, nếu người được bảo hiểm
không hay biết gì về tổn thất đó. Nhưng nếu người được bảo hiểm đã biết có tổn thất
Hồng Thu - giám đốc Công ty Việt Thái Phong), để nhận bảo hiểm và bồi thường
cho một lô hàng tôm đông lạnh đã bị tổn thất từ trước để rút tiền bảo hiểm. Trong
quá trình tranh chấp, sau nhiều lần thương lượng, do PJICO không có căn cứ để
chứng minh bà Thu đã biết về sự kiện hàng bị tổn thất vào thời điểm mua bảo hiểm,
đã dẫn tới một thỏa hiệp vi phạm pháp luật nói trên.
3.2.3. Soạn thảo, ban hành tài liệu giải thích các điều khoản bảo hiểm hàng hải để
áp dụng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm hàng hải của các nước phát triển, đặc biệt là
pháp luật bảo hiểm hàng hải của Anh quốc - pháp luật bảo hiểm được coi là chuẩn
mực và được vận dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới cho thấy, bên cạnh
việc ban hành các điều khoản bảo hiểm như ICC 1982; ITC 1995 (điều khoản bảo
hiểm thời hạn thân tàu), ủy ban kỹ thuật và điều khoản - Học hội bảo hiểm London
còn ban hành cuốn "Phân tích các điều khoản bảo hiểm hàng hải" nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho việc vận dụng các bộ điều khoản này trong thực tiễn kinh doanh bảo
hiểm.
Sở dĩ có kiến nghị này trong luận văn bởi lẽ, trong các điều khoản bảo hiểm
hàng hải nói chung và Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường
biển hiện đang áp dụng ở Việt Nam nói riêng còn nhiều quy định khó hiểu, khó vận
19
dụng trong thực tiễn. Chẳng hạn tại khoản 2 điều 2 Quy tắc chung về bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển bằng đường biển quy định:
e) Phần trách nhiệm thuộc điều khoản "Tàu đâm va hai bên cùng có lỗi" ghi trong hợp
đồng vận chuyển được coi như là một loại tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bồi
thường của người bảo hiểm. Trường hợp chủ tàu khiếu nại theo điều khoản đó thì
người được bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bảo hiểm biết. Người bảo
hiểm dành quyền bảo vệ người được bảo hiểm, chống lại việc khiếu nại của chủ tàu và
tự chịu các phí tổn [5].
Quy định này thực sự gây khó hiểu không chỉ cho người được bảo hiểm mà còn
cho cả những người làm bảo hiểm khi chưa có chuyên môn sâu về lĩnh vực này.
Để vận dụng điều khoản này vào thực tiễn kinh doanh bảo hiểm hàng hải,
(50%). Chủ hàng X, căn cứ theo đơn bảo hiểm hàng hóa, đòi công ty bảo hiểm Y
bồi thường toàn bộ tổn thất hàng hóa là 80.000 USD. Về phần mình, biết rằng việc
thế quyền đòi người vận chuyển là chủ tàu A bị triệt tiêu bởi điều khoản "tầu đâm
va hai bên cùng có lỗi" của hợp đồng vận chuyển, công ty bảo hiểm X thế quyền
đòi chủ tàu B bồi hoàn toàn bộ số tiền bồi thường cho chủ hàng. Theo luật định,
chủ tàu B đòi lại chủ tàu A 50% trách nhiệm (40.000 USD). Căn cứ vào hợp đồng
vận chuyển, chủ tàu A lại đòi số tiền này từ chủ hàng X. Rõ ràng, nếu không được
công ty bảo hiểm Y bảo vệ, chủ hàng X sẽ bị thiệt hại một khoản tiền là 40.000
USD. Tuy nhiên, căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm, chủ hàng X sẽ thông báo cho công
ty bảo hiểm Y biết và người bảo hiểm sẽ phải thanh toán trực tiếp khoản tiền
40.000 USD cho chủ tàu A theo phán quyết của tòa án. Cuối cùng, trong số 80.000
USD tổn thất hàng hóa của chủ hàng X, công ty bảo hiểm Y chịu 40.000 USD; chủ
tàu B chịu 40.000 USD còn chủ hàng X được bồi thường đầy đủ.
Qua nghiên cứu cuốn "Phân tích các điều khoản bảo hiểm hàng hải" của các
nhà bảo hiểm Anh, với việc đưa ra một dẫn chứng điển hình ở trên cho thấy nếu không
có sự cắt nghĩa rõ ràng các điều khoản bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển bằng đường biển nói riêng thì việc vận dụng trong thực tế sẽ gặp
không ít khó khăn, thậm chí còn có thể gây nên những tranh chấp không đáng có giữa
các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm.
21
Với những phân tích trên đây, hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định rằng việc
soạn thảo, ban hành tài liệu giải thích các điều khoản bảo hiểm hàng hải để áp dụng
vào thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là cần thiết.
3.2.4. Sửa đổi, bổ sung một số điều trong Bộ luật hàng hải Việt Nam để đảm bảo
tính phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế
Trong bối cảnh giao lưu thương mại quốc tế ngày càng mở rộng, trình độ khoa
học - công nghệ phát triển ngày càng cao, luật pháp quốc tế về thương mại, hàng hải
và bảo hiểm có những thay đổi thì việc sửa đổi Bộ luật hàng hải là tất yếu. Đây chính
là lý do của việc ra đời Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 trên cơ sở kế thừa và sửa đổi,
bổ sung Bộ luật hàng hải 1990. Có thể nói, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 có rất
nhất hiện nay cũng không còn đề cập đến những miễn trách đương nhiên cho người
vận chuyển nữa. Do đó, người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về tổn thất của hàng
hóa chuyên chở trên tàu do lỗi hàng vận, nếu không chứng minh được mình đã áp
dụng mọi biện pháp cần thiết có thể để ngăn chặn sự cố và hậu quả của nó. Như vậy,
nếu người bảo hiểm phải bồi thường tổn thất của hàng hóa do lỗi hàng vận thì họ có
quyền khiếu nại đòi bồi hoàn từ phía người vận chuyển.
Từ những phân tích trên đây, để đảm bảo tính công bằng giữa người vận
chuyển, chủ hàng và người bảo hiểm và phù hợp với chuẩn mực pháp luật quốc tế tiên
tiến, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 78 Bộ luật hàng hải 2005 mà trước tiên là xóa
bỏ miễn trách nói trên đối với người vận chuyển.
Hai là, tại Điều 97 Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng mất mát hàng hóa trong Bộ
luật hàng hải 2005 quy định: "Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng mất mát hàng hóa vận
chuyển theo chứng từ vận chuyển là 1 năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả
hàng cho người nhận hàng" [2].
Quy định này là sự kế thừa quy định của Quy tắc Hague 1924, trong khi Công
ước Hamburg 1978 quy định thời hiệu khởi kiện là hai năm. Trong thực tiễn, nhiều lô
hàng nhập khẩu được bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm Việt Nam lai do các hãng tàu
nước ngoài đảm nhận vận chuyển, và không ít các vụ tổn thất hàng hóa mà bảo hiểm
bồi thường có nguyên nhân lỗi của người vận chuyển. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà
việc các công ty bảo hiểm Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc đòi chủ tàu nước
ngoài do không kịp thời làm thủ tục "bắt nóng" tàu ngay sau khi tàu trả hàng. Chính vì
23
vậy, việc thực hiện các thủ tục pháp lý để đòi chủ tàu nước ngoài khi tàu đã rời cảng
Việt Nam có thể phải kéo dài hàng năm và công ty bảo hiểm phải chờ cơ hội tàu này
hoặc tàu cùng chủ vào Việt Nam làm hàng mới có thể khởi kiện và yêu cầu tòa án ra
lệnh bắt giữ tàu để thực hiện giải quyết tranh chấp. Từ thực tiễn trên cho thấy việc quy
định thời hiệu khởi kiện là một năm đã gây khó khăn cho các chủ hàng và công ty bảo
hiểm trong nước. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các chủ hàng và các công ty bảo
hiểm Việt Nam, chúng tôi kiến nghị sửa đổi thời hiệu khởi kiện về hư hỏng, mất mát
hàng hóa trong Điều 97 Bộ luật hàng hải 2005 thành hai năm. Việc sửa đổi này cũng
trường hợp này và các trường hợp tương tự. Do đó, để đảm bảo tính công bằng trong
quan hệ bảo hiểm, chúng tôi kiến nghị bổ sung trong Bộ luật hàng hải quy định về
quyền lợi của bên mua bảo hiểm trong trường hợp rủi ro giảm thiểu hơn so với rủi ro
dự kiến khi giao kết hợp đồng.
KẾT LUẬN
Trên đây, nhóm chúng em đã trình bày một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo
hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế cũng như các giải pháp để hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển quốc tế.
Hợp đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng chuyên biệt, còn hợp đồng bảo hiểm
hàng hoá vận chuyển bằng đường biển quốc tế lại là một loại đặc biệt của hợp đồng
bảo hiểm. Nhìn chung, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hợp đồng
bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển quốc tế vẫn có sự chồng chéo lớn và
cũng tồn tại một số khác biệt nhiều so với thông lệ quốc tế. Việt Nam là nước đi sau
trong lĩnh vực bảo hiểm nên đã tiếp thu các kinh nghiệm xây dựng các quy định pháp
25