Tổ chức và các giải pháp phát triển không gian dịch vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong tương quan vùng - Pdf 25

Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật việt nam
Viện nghiên cứu định c
Báo cáo TổNG HợP kết quả nghiên cứu
Đề TàI độc lập cấp nhà nớc - chơng trình khoa học
x hội và nhân văn
Tổ CHứC Và CáC GIảI PHáP PHáT TRIểN KHÔNG GIAN DịCH
Vụ CÔNG CộNG TạI CáC ĐÔ THị VIệT NAM TRONG TƯƠNG
QUAN VùNG ĐÔ THị
Mã số: ĐTĐL . 2010 / 40
C quan thc hin ti Ch nhim ti

VIN NGHIấN CU NH C
Vin trng PGS. TS Tụn Tht i PGS.TS. Nguyn Hng Thc

Bảng 5: Bảng thống kê 10 vùng đô thị hóa Việt nam
Bảng 6: Bảng thống kê 3 vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước.
Bảng 7-Phạ
m vi phục vụ của Trung tâm DVCC đô thị tương ứng
với các cấp độ dân số đặc thù:
Bảng 8: Nội dung hoạt động của hệ thống phục vụ công cộng
Bảng 9: Nội dung hoạt động của hệ thống phục vụ công cộng
Bảng 10: Nội dung hoạt động của hệ thống phục vụ công cộng
Bảng 11. Sự biến động dân số thành thị
của Hà nội, thời kỳ 1979-1999
Bảng 12: Biến động dân số thành thị - nông thôn của Hà Nội
Bảng 13. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Hà nội, thời kỳ 1996-2005
Bảng 14- Cơ cấu GDP và hệ thống DVCC Hà Nội
Bảng 15 : Cơ
cấu
chi tiêu
cho
đời
sống chia theo
thành thị nông
thôn
Bảng 16: Hệ thống Trung tâm đô thị tầng bậc trong Vùng Thủ đô [1]
Bảng 17 : Phân hóa xã hội và khác biệt về phúc lợi xã hội trong các nước thuộc khối OCDE
Bảng 18. Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo thành phần kinh tế thời kỳ 1995-2009
Bảng 19: Tình trạng cơ sở hạ tầng dvcc ngoại thành Hà nội: nhóm dịch vụ dân sinh
Bảng 20: Tình trạng cơ sở hạ tầng dvcc ngoại thành Hà nội: nhóm dịch v
ụ xã hội
Bảng 21: Diện tích Và dân cư các quận huyện nội và ngoại thành Hà Nội, 2008
Bảng 22: Cơ sở hạ tầng dvcc các quận nội thành: nhóm dịch vụ dân sinh
Bảng 23: Cơ sở hạ tầng dvcc các quận nội thành: nhóm dịch vụ xã hội

núi Bắc Bộ.
Bảng 43: Bảng thống kê hệ thống đô thị cấp quốc gia và cấp vùng của vùng kinh tế xã hội
đồng bằng Sông Hồng.
Bảng 44: Bảng thống kê hệ thống đô thị của vùng của vùng kinh tế xã hội Bắc trung Bộ và
duyên Hải Miền Trung.
Bảng 45: Bảng thống kê hệ thống đô thị cấp vùng của vùng kinh tế xã hội Tây Nguyên.
Bảng 46: Bảng thống kê hệ thống đô th
ị cấp quốc gia và cấp vùng của vùng kinh tế xã hội
Đông Nam Bộ.
Bảng 47: Bảng thống kê hệ thống đô thị cấp vùng của vùng kinh tế xã hội Đồng Bằng sông
Cửu Long.
Bảng 48: Tổng số dân các tỉnh năm 2005
Bảng 49: Bảng thống kê trung tâm cấp vùng của thành phố Hà Nội
Bảng 50: Bảng thống kê trung tâm tổng hợp cấp thành phố của thủ đô Hà Nội.
Bảng 51: Bả
ng thống kê vị trí tám trung tâm về DVCC đô thị cấp thành phố tại Hà Nội.
Bảng52: Bảng thống kê vị trí tám trung tâm về DVCC đô thị cấp thành phố tại Hà Nội.
Bảng 53: Bảng thống kê các trung tâm thuộc Quận Huyện.
Bảng 54: Bảng thống kê các trung tâm DVCC nhóm A,B và Hỗn hợp của huyện Đông Anh.
Bảng 55: Bảng thống kê các trung tâm DVCC nhóm A,B và Hỗn hợp của quận Cầu Giấy
Bảng 56: Bảng thống kê các trung tâm DVCC nhóm A,B và Hỗn hợ
p của quận Tây Hồ
Bảng 57: Bảng thống kê các trung tâm DVCC nhóm A,B và Hỗn hợp của huyện Đan Phượng
Bảng 58: Bảng thống kê các trung tâm DVCC nhóm A,B và Hỗn hợp của quận Hoàng Mai
Bảng 59: Bảng thống kê các trung tâm DVCC nhóm A,B và Hỗn hợp của huyện Thanh Trì
Bảng 60: Các chức năng và dịch vụ được lựa chọn cho tổ hợp thương mại đời sống thiết yếu
Đại Từ.
Bảng 61: Các loại phạm vi phụ
c vụ của Trung tâm DVCC với các cấp độ dân số đặc thù
Bảng 62: Các cấp độ phục vụ và phạm vi của tiểu hệ thống thương mại

ng dân cư
Bảng 87: Công suất tối ưu của các trạm bưu chính viễn thông
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Đô thị lý tưởng của R.OWEN
Hình 2: Đô thị của C.Fourier
Hình 3: Thành phố vườn và thành phố vệ tinh của E.Howard
Hình 4: Thành phố chuỗi của Soria Ymata
Hình 5: Đô thị tuyến tính của Michel Kosmin
Hình 6: Quy hoạch thành phố Algieri
Hình 7: Sơ đồ quy hoạch đô thị mới ở Toulouse
Hình 8: Quy hoạch thành phố dải Volgagrad, Nga
Hình 9: Sơ đồ mặt bằng quy hoạch thành phố Lyon, Pháp
Hình 10: Cấu trúc của dịch vụ công cộng trong quy hoạch đô thị và khu dân c
ư đô thị
Hình 10.1. Bản đồ phân vùng lãnh thổ Việt Nam
Hình 10.2. Bản đồ phân bố 10 vùng đô thị hóa.
Hình 11: Những nhân tố địa lý – tự nhiên ảnh hưởng lên tổ chức mạng lưới các khu nghỉ
dưỡng ở Việt Nam.
Hình 12: Tỉ lệ tăng dân số hàng năm giai đoạn 1995-2008 của Vùng Thủ đô Hà Nội
Hình 13: Mạng lưới cư trú của Thủ đô Hà Nội dự kiến đến nă
m 2030
Hình 14: Mạng lưới giao thông Hà Nội dự kiến đến năm 2030
Hình 15. Tỷ lệ đô thị hóa Việt Nam 1991-2009
Hình 16. Sơ đồ phân nhóm các dạng phục vụ
Hình 17: Cấu trúc của hệ thống phục vụ.
Hình 18: Tổ chức không gian của các “trung tâm tích cực” tại Milton Keans (Anh), thoả mãn
nguyên tắc “đa dạng” và “tự do lựa chọn”.
Hình 19: Sơ đồ trung tâm công cộng của các thành phố mới ở Liên Xô cũ

Hình 41: Trung tâm thành phố Svistov.
Hình 42: Trung tâm thành phố Botevgrad.
Hình 43: Các hạng mục của trung tâm phục vụ
Hình 44: Hệ thống các trường đại học và cao đẳng trong khu vực nội đô của Hà Nội
Hình 45: Sơ đồ hiện trạng phân bố hệ thống các công trình giáo dục, đào tạo tại Hà Nội
Hình 46 : Các cơ sở y tế tại Vùng Thủ Đô Hà Nội năm 2002
Hình 47: Sơ đồ phân bố mạng lưới bệnh viện, viện nghiên cứu, trung tâm
đào tạo y tế tại Hà
Nội
Hình: 48- Sơ đồ hiện trạng chỉ tiêu giường bệnh trên 10.000 dân
Hình 49: Sơ đồ hiện trạng chỉ tiêu bác sĩ trên 10.000 dân
Hình 50: Sơ đồ hiện trạng công trình TDTT cấp Quốc gia và Thành phố [4]
Hình 51: Sơ đồ hiện trạng công trình TDTT cấp quận, huyên [4]
Hình 52: Hiện trạng phân bố mạng lưới công trình thương mại tại Thủ đô Hà Nội [4]
Hình 53: Trung tâm phục vụ “Bolio” ở Anesi, Pháp.
Hình 54: Sơ đồ
điển hình của trung tâm thành phố phục vụ 30.000 dân.
Hình 55: Sơ đồ điển hình của trung tâm phục vụ công cộng phục vụ 6.000-8.000 dân.
Hình 56: Tổ hợp chức năng ở Erfurg, CHLB Đức:
văn hoá, ăn uống công cộng, thể thao giải trí.
Hình 57: Trung tâm học tập hợp nhất ở Bad Munsteraifel, CHLB Đức – sơ đồ chức năng.
Hình 58: Sơ đồ các trung tâm hợp nhất ở CHLB Đức.
Hình 59: Sơ đồ nguyên tắc xây d
ựng thống nhất và khai thác sử dụng cơ sở vật chất chung
của phục vụ công cộng.
Hình 60: Ví dụ về sơ đồ của quá trình kết hợp 2 tiểu hệ thống.
Hình 61: Hướng tiếp cận quy hoạch cơ bản và Khung QHT
Hình 62: Bản đồ hệ thống đô thị tại Vùng Thủ đô Hà Nội [3]
Hình 63: Định hướng phát triển mạng lưới công sở tại Hà Nội [4]
Hình 64:

Hình 86: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTTĐ Bắc Bộ
Hình 87: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTTĐ miền Trung
Hình 88: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTTĐ phía Nam
Hình 89: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTXH trung du và miền núi Bắc
bộ
Hình 90: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTXH đồng bằng sông Hồng
Hình 91: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTXH Bắc Trung bộ và duyên hải
miền Trung
Hình 92: B
ản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTXH Tây Nguyên
Hình 93: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTXH Đông Nam bộ.
Hình 94: Bản đồ các đô thị trung tâm cấp vùng trong vùng KTXH đồng bằng sông Cửu
Long.
Hình 95: Vùng Thủ đô Hà Nội trong bối cảnh Vùng Bắc bộ
Hình 96: Dân số các trung tâm đô thị chính trong Vùng Thủ đô Hà Nội (2003)
Hình 97: Các trung tâm đô thị
Hình 98: Tốc độ gia tăng dân số hàng năm (1991-2003)
Hình 99: Tỉ lệ tăng dân số hàng năm giai đoạ
n 1995-2003
Hình 100: Di dân từ các tỉnh khác đến Thành phố Hà Nội
Hình 101: Di dân giữa các tỉnh trong và ngoài Vùng Thủ đô Hà Nội
Hình 102: Đóng góp của các ngành kinh tế chính vào GDP Vùng Thủ đô Hà Nội năm 2004
Hình 103: Số lượng việc làm của các ngành kinh tế, 2003
Hình 104: Bản đồ hiện trạng quy hoạch giao thông gắn với các luồng cung ứng dịch vụ
Hình 105: Bản đồ đánh giá về mức độ cung ứng DVCC tại 29 quận huyện thủ đô Hà Nội
mở
rộng
Hình 106: Bản đồ đánh giá nhu cầu DVCC tại các trung tâm công cộng của 29 quận
huyện thủ đô Hà Nội mở rộng
Hình 107: Bản đồ đánh giá dòng cung ứng các DVCC cơ bản cho các trung tâm công

Hình 129: Bản đồ phân bổ các dạng trung tâm DVCC cấp thành phố tại Yên Viên.
Hình 130: Bản đồ phân bổ các dạng trung tâm DVCC cấp thành phố tại Đông Anh.
Hình 131: Bản đồ phân bổ các dạng trung tâm DVCC cấp thành phố tại Mê Linh.
Hình 132: Bản đồ vị trí các công trình DVCC nhóm Hỗn hợp của 29 quận huyện củ
a thủ đô
Hà Nội.
Hình 133: Bản đồ vị trí các công trình DVCC nhóm B của 29 quận huyện của thủ đô Hà Nội.
Hình 134: Bản đồ vị trí các công trình DVCC nhóm A của 29 quận huyện của thủ đô Hà Nội.
Hình 135: Bản đồ bổ sung mạng lưới trung tâm DVCC dự kiến tại huyện Đông Anh.
Hình 136: Bản đồ bổ sung mạng lưới trung tâm DVCC dự kiến tại quận Cầu Giấy.
Hình 137: Bản đồ bổ sung m
ạng lưới trung tâm DVCC dự kiến tại quận Tây Hồ.
Hình 138: Bản đồ bổ sung mạng lưới trung tâm DVCC dự kiến tại huyện Đan Phượng.
Hình 139: Bản đồ bổ sung mạng lưới trung tâm DVCC dự kiến tại quận Hoàng Mai.
Hình 140: Bản đồ bổ sung mạng lưới trung tâm DVCC dự kiến tại huyện Thanh Trì.
Hình 141. Quy hoạch kiểu Hausmann cho Hà nội thời Pháp thuộc
Hình 142. Mạng lưới đất công trong nội đô Hà nội
Hình 143. Các khu vự
c tiềm năng phát triển trung tâm
Hình 144. Giả định, đô thị sẽ đẳng hướng nếu các trung tâm liền kề được kết nối mạch lạc.
Tăng cường kết nối các trung tâm liền kề là cách phá thế hướng tâm nan giải hiện nay
Hình 145: Khu cấm địa Ba Đình
Hình 146: Bản đồ quy hoạch khu vực Phủ Toàn quyền của E. Hébrard, 1924
Hình 147: Khu vực Ba Đình ngày nay.
Hình 148: Nút giao Cửa Nam
Hình 149: Nút giao Cửa Nam, đề xuất
Hình 150: Mô hình tập trung - Cấu trúc m
ặt bằng nén.
Hình 151: Cấu trúc thành phố mở phát triển theo tuyến.
Hình 152: Cấu trúc tổ hợp dạng tuyến tính
PHẦN I 1
MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU 3
1- Lý do chọn đề tài 3
2- Mục tiêu đề tài: 4
3- Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
B. PHẦN TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
I. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN DVCC ĐÔ
THỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VÙNG ĐÔ THỊ 5
1.1. CÁC KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ DÙNG TRONG ĐỀ TÀI 5
1.1.1. Dịch vụ và kinh tế dịch vụ 5
1.1.2. Phục vụ công cộng, dịch vụ công ích và dịch vụ công cộng tư nhân: 6
1.1.3. Không gian đô thị, không gian công cộng, không gian dịch vụ công cộng 8
1.1.3.1.Không gian đô thị 8
1.1.3.2.Không gian công cộng 8
1.1.3.3.Không gian dịch vụ công cộng 8
1.2. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA QUÁ TRÌNH DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ 9
1.2.1. Lịch sử phát triển của kiến trúc công cộng trong các giai đọan phát triển đô thị

C. PHẦN XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỀ TÀI 41
IV. XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUY HOẠCH LÃNH THỔ VÀ PHÂN VÙNG
CHỨC NĂNG LÃNH THỔ MẠ
NG LƯỚI DVCC ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG
QUAN VÙNG ĐÔ THỊ 41
4.1. QUY HOẠCH LÃNH THỔ VÀ PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG LÃNH THỔ VỀ DVCC ĐÔ THỊ
VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VÙNG ĐÔ THỊ
41

2
4.1.1. Các đặc điểm riêng của đô thị hóa ở Việt Nam 41
4.1.2.Các cơ sở Qui hoạch phát triển các Vùng lãnh thổ kinh tế-xã hội và Vùng đô thị
hoá ở VN 42
4.1.3.Các cơ sở khoa học về Hệ thống nhu cầu và hệ thống DVCC đô thị ở VN 49
4.2. TỔ CHỨC KHÔNG GIAN CỦA HỆ THỐNG DVCC TRONG QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ
THỊ
52
4.2.1.Tổ chức chức năng và phân cấp dịch vụ đô thị 52
4.2.3. Tổ chức không gian lãnh thổ về DVCC đô thị 59
V. XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG CÁC DẠNG
TRUNG TÂM DVCC VÀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN CÁC TỔ HỢP KIẾN TRÚC DVCC
TẠI CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VÙNG ĐÔ THỊ 73
5.1. QUY HOẠCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRUNG TÂM DVCC ĐÔ THỊ 73
5.1.1. Các quan điểm về Quy hoạch lãnh thổ của Trung tâm DVCC ở VN 73
5.1.2. Khía cạnh quy hoạch lãnh thổ của Trung tâm DV công cộng đô thị. 76
5.1.3. Cấu trúc thành phố và tổ chức Trung tâm DVCC 80
5.2. PHÁT TRIỂN LÃNH THỔ VÀ CHỨC NĂNG CỦA TRUNG TÂM DVCC CẤP THÀNH PHỐ.
86
5.3. PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC DẠNG TRUNG TÂM DVCC ĐÔ THỊ: 91
5.3.1. Nguyên tắc phân loại 91

3
A. PHẦN MỞ ĐẦU

1- Lý do chọn đề tài
Hệ thống dịch vụ công cộng (DVCC) đô thị và nông thôn luôn là thước đo chất lượng
sống của các thời kỳ văn minh, từ nền văn minh nông nghiệp, công nghiệp đến văn minh tri
thức. Các quan điểm tiến bộ nhất hiện nay đều coi đây là thành phần cơ bản của cấu trúc kinh
tế-xã hội, vận hành theo kinh tế thị trường. Ỏ
Việt Nam(VN), càng quan trọng hơn bởi đường
lối kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nghĩa là rất nhiều DVCC vừa mang
thuộc tính thị trường lại vừa mang thuộc tính phục vụ, biểu hiện lý tưởng phục vụ nhân dân.
Xét từ góc độ lịch sử, ở Việt Nam hệ thống DVCC bắt đầu hoàn chỉnh từ thời kỳ của
những đô th
ị thời Pháp thuộc. Những đô thị này đã kế thừa các dịch vụ sinh sống nhỏ kiểu
“phố hàng” của đô thị truyền thống và xây dựng được các Trung tâm công cộng mới theo kiểu
đô thị phương tây khá phù hợp với qui mô dân số còn khiêm tốn lúc bấy giờ . Ví dụ như Hà
Nội đã có : Các Trung tâm Văn hoá, Giáo dục ven bờ sông Hồng, quảng trường Nhà hát lớn,
Trung tâm Thương mại hồ Hoàn Kiếm, Trung tâm Chính tr
ị- Hành pháp Ba Đình ở Hà Nội. Ở
Hải phòng còn có Trung tâm cảnh quan Sông lấp rất độc đáo. Điều đáng nói là các trung tâm
mới này vẫn song song tồn tại với hệ thống dịch vụ đời sống kiểu “phố hàng” của dân cư bản

p, phát triển khu đô thị mới, hạ
tầng kỹ thuật được giới nghiên cứu quan tâm nhiều hơn. Vấn đề nghiên cứu DVCC đô thị
còn bị bỏ ngỏ. Những năm 1998 trở về đây, diễn tiến của quá trình đô thị hoá ngày càng trở
nên phức tạp. Sau 10 năm phát triển, đã có hơn 600 khu đô thị mới ra đời góp phần cải thiện
quỹ nhà ở cho nhân dân sau chiến tranh. Nh
ưng trong Hội thảo toàn quốc về khu đô thị mới
cuối năm 2010, đánh giá về chúng, cho thấy một tương lai đô thị còn xa mới đáp ứng được
dân cư. Đặc biệt nghiêm trọng là thiếu vắng hoàn toàn hệ thống DVCC trong các khu đô thị
mới, được xây dựng theo kiểu ‘Đô thị – Phòng ngủ”, tức là chỉ chia lô bán nền nhà ở . Sáng ra
dân cư của nó lên đường đi tìm việc làm, trường họ
c, bệnh viện, chợ búa ở các Trung tâm cũ
và chiều tối là dòng người ngược lại, gây ách tắc giao thông, ô nhiễm khói xe, phá vỡ cấu trúc
các Trung tâm cũ và gây hỗn độn đô thị Căn bệnh càng trở nên trầm kha khi gần đây do đô

4
thị ngày càng mở rộng để trở thành Vùng đô thị: Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh bao
gồm 8 tỉnh , đặc biệt Hà Nội ngày 1/8/2008 từ 921km
2

được Quốc hội quyết định sát nhập
với Hà tây để mở rộng là 3.341km
2
, gần gấp 4 lần trở thành Vùng thủ đô với 6,5 triệu dân.
Vấn đề an sinh xã hội, DVCC thiết yếu, tiện ích thành phố quá thiếu thốn ngày càng được
nhắc đến như căn bệnh trầm kha của đô thị mới.
Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứu tổ chức không gian DVCC đô thị đang trở nên cấp
bách để góp phần hoạch định đô thị đúng nghĩa ở
VN, thúc đẩy kinh tế đô thị và các dòng
hoạt động sản xuất – tiêu dùng, hoạt động chính trị- xã hội, hoạt động đời sống, văn hoá, tinh
thần của dân cư trong thời kỳ hiện đại hoá đất nước. Các nghiên cứu như vậy cần có tiếp cận

Đề tài cũng thực hiện đúng theo thuyết minh đã được Bộ Khoa học & Công nghệ phê
duyệt.

2- Mục tiêu đề tài:
1.Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Hệ thống không gian dịch vụ công cộng đô thị
với nhu cầu dân cư và mô hình cung ứng dịch v
ụ công cộng ( DVCC) trong tương quan vùng
đô thị.
2.Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về qui hoạch lãnh thổ và phân vùng chức năng lãnh
thổ dịch vụ công cộng tại các vùng đô thị Việt Nam.
3.Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về qui hoạch xây dựng và tổ chức không gian dịch
vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong tương quan vùng đô thị.
4.Nghiên cứu đề xuất mô hình và giải pháp kiến trúc các loại hình Trung tâm dịch v

công cộng tại các đô thị Việt Nam trong tương quan vùng đô thị.
5. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đầu tư và quản lý phát triển không gian dịch vụ
công cộng nhằm đề xuất các chính sách xã hội hoá nguồn lực đầu tư và các giải pháp xã hội
hoá phương thức quản lý dịch vụ công cộng tại các đô thị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.

3- Phương pháp nghiên cứ
u của đề tài

5
Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp(PP) khảo sát thực địa: Là PP được sử dụng cho tất cả các nội dung do
yêu cầu ứng dụng thực tiễn cao của đề tài. PP này cho phép quan sát, phỏng vấn tọa đàm và
so sánh đối chiếu thực địa các kết quả nghiên cứu nên đề tài tổ chức 3 cuộc khảo sát thực địa
tại Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng cho các cán bộ nghiên cứu.
+ Phương pháp hồi cố

kiến thức chuyên môn của các chuyên gia đầu ngành, để đề xuất được các mô hình tốt cho
tương lai DVCC đ
ô thị Việt Nam.
+ Phương pháp dự báo: PP này cho phép tìm đúng các xu hướng mới nhất, dự báo
các mô hình tiên tiến, mô hình thích nghi cho đề tài; Đồng thời định hướng NC để đạt kết quả
tối ưu và bền vững lâu dài. PP này đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu và không bị sa
lầy vào ý kiến chủ quan của người nghiên cứu.
Kỹ thuật sử dụng :
+ Phần mềm MS.Exel, AutoCad để xử lý dữ liệu đi
ều tra khảo sát.
+ Dùng Autocad 2006, 3D, 3D Max, PhotoShop trong quản lý thiết kế bản đồ, bản vẽ.
+ Dùng công nghệ thông tin chuyên ngành qui hoạch đề xuất mạng lưới DVCC đô thị

B. PHẦN TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

I. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN DVCC ĐÔ
THỊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VÙNG ĐÔ THỊ
1.1. CÁC KHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ DÙNG TRONG ĐỀ TÀI.
1.1.1. Dịch vụ và kinh tế dịch vụ

6
Dịch vụ ( tiếng Anh, Pháp: Service; tiếng TQ: phục vụ) trong kinh tế học là một loại
sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm, là công việc của con người dưới hình thái lao động
thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, khả năng tổ chức và thương mại ( Từ điển kinh
tế-kinh doanh Anh -Việt). Dịch vụ là một thứ hàng hoá mà việc cung ứng nó không phải là
chuyể
n giao quyền sở hữu, mà chỉ là đem lại lợi ích nào đó cho bên tiếp nhận. Dịch vụ là phi

Chăm sóc sức khoẻ
- Bệnh viện và nuôi dưỡng xã hội.
- Dịch vụ thông tin, truyền thông:
- Dịch vụ tài chính ngân hàng: DV Kế toán; Ngân hàng và tổ chức tín dụng ; Bất động
sản; Môi giới chứng khoán; Thuế
- Quản lý rủi ro (bảo hiểm, ký gửi an toàn)
- Dịch vụ xã hội
- Vận tải
- Ti
ện ích công cộng: Năng lượng; Khí đốt; Viễn thông; Quản lý rác; Cấp thoát nước.

1.1.2. Phục vụ công cộng, dịch vụ công ích và dịch vụ công cộng tư nhân:
Kết cấu của một quốc gia hiện đại bao gồm 3 khối: Bộ máy nhà nước, Khối thị trường
và Xã hội dân sự. Đối tượng của dịch vụ bao gồm cả 3 khối đó, chẳng hạn dịch vụ định giá

S để phục vụ việc xử án (phục vụ nhà nước), định giá BĐS cho nhà kinh doanh BĐS và
định giá BĐS cho người dân cần mua nhà.
- Cách hiểu thứ nhất: Khi dịch vụ có đối tượng phục vụ là xã hội dân sự thì được gọi
chung là dịch vụ công cộng (Public Services). Các chuyên gia quy hoạch đô thị và các kiến
trúc sư thường hiểu theo định nghĩa này, từ đó mà có các định nghĩa về không gian dịch v

công cộng
( không gian chứa đựng các hoạt động dịch vụ công cộng) và công trình công cộng (như
khách sạn, nhà hàng, công trình thể thao, nhà hát, bệnh viện v.v.).

7
- Cách hiểu thứ hai: Vấn đề trở thành phức tạp khi các nhà quản lý đô thị lại có định
nghĩa khác về dịch vụ công cộng như sau: Dịch vụ công cộng là từ thường được dùng để chỉ
các dịch vụ mà chính phủ cung ứng cho các công dân của mình, có thể là trực tiếp thông qua
khu vực công hay là cấp tài chính cho khu vực tư nhân cung ứng. Từ này kết hợp với một sự

công bằng và ổn định xã hội ”, và cho rằng dịch vụ công bao gồm dịch vụ sự nghiệp công (
hoặc phúc lợi công cộng ), dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công, đồng thời nhấn
mạnh là không được lẫn lộn với hoạt động công vụ (civil services) là hoạt độ
ng hàng ngày của
bộ máy công quyền.( Chú thích: Thế nhưng đầu tư công lại không phải là đầu tư công cộng
mà là đầu tư bằng Ngân sách nhà nước!). Theo Ô. Lê, dịch vụ công ích là các hoạt động có
tính chất kinh tế hàng hoá do các doanh nghiệp công ích thực hiện theo yêu cầu của Nhà
nước, không nhằm mục tiêu lợi nhuận để phục vụ nhân dân như cung cấp điện, nước, kết cấu
hạ tầng, vệ sinh môi trường, phòng chống các d
ịch bệnh, vận tải công cộng, khuyến nông…
Ngoài ra, từ dịch vụ công ích còn có một định nghĩa khác theo Luật Doanh nghiệp nhà
nước (2003) là: Dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng
dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung
cấp theo cơ chế thị trườ
ng thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất,
cung ứng dịch vụ này, do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc
phí do Nhà nước quy định. Cách định nghĩa này được các nhà làm chính sách nước ta đưa ra
chỉ để tiện cho việc chi tiêu Ngân sách nhưng lại không hội nhập với thông lệ quốc tế.
Theo kinh tế học công cộng, dịch vụ công ích là hàng hoá công cộng (public goods),
còn dịch v
ụ cá nhân là hàng hoá cá nhân (private goods).
Hàng hoá công cộng là những hàng hoá mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi
ích do hàng hoá đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích
của nó. Hàng hoá công cộng có hai thuộc tính cơ bản là:
Không có tính cạnh tranh (non-rivalrous) trong tiêu dùng, tức là khi có thêm một
người tiêu dùng thì cũng không làm giảm lợi ích của những người đang tiêu dùng, chẳng hạn
xem truyền hình;

8
Không có tính loại trừ (non- excludable) trong tiêu dùng, tức là không thể loại trừ,

giới kinh tế và địa giới hành chính: địa giới kinh tế của Chicago bao trùm 130 đô thị hành
chính, trong đó lớn nhất là thành phố Chicago với hơn 2 triệu dân, đô thị hành chính nhỏ nhất
chỉ có mấy vạn dân. Nó nằm vắt qua 2 bang Illinois và Indiana, chỗ xa nhất cách nhau xấp xỉ
100 km. Dù như vậy nhưng nhờ giao thông phát triển nên có chung một thị trường sức lao
động thống nhất. Thị tr
ường này và thị trường đất đai và thị trường nhà ở có cùng giới hạn địa
lý rõ ràng. Đặc tính này rất quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đối với mô thức phát triển, quản
lý và quy hoạch đô thị.

1.1.3.2.Không gian công cộng (Public space).

Không gian công cộng (Trương Quang Thao gọi là không gian công ích) thuộc
về/cũng là không gian kinh tế, văn hoá-xã hội, là không gian vật thể dành cho các hoạt động
đời sống thiết yếu, giao tế xã hội, nơi mọi người dân đều có quyền đến đó để giao tiếp mà
không phải xin phép hay trả tiền, đối lập với không gian tư ( Private space) dành riêng cho
những hoạt động theo chức năng, chẳng hạn nhà ở, nhà máy, văn phòng… Chợ là không gian
đầu tiên trở thành không gian công c
ộng. Theo J. Jacobs thì không gian hè phố là không gian
công cộng rất quan trọng tạo ra bộ mặt của đô thị (còn đường ô tô chỉ dành riêng cho ô tô
chạy với tốc độ cao, người đi bộ không có quyền sử dụng nó).

1.1.3.3.Không gian dịch vụ công cộng (Public services space).

Không gian dịch vụ công cộng chứa đựng các hoạt động dịch vụ công cộng, là một bộ
phận của không gian kinh tế đô thị. Không gian hè phố vừa là không gian công cộng vừa là
không gian dịch vụ công cộng. Các đô thị đều có hệ thống các Trung tâm DVCC theo nhiều
cách phân bố: Kiểu truyền thống, kiểu Trung tâm tập trung hay phân tán, kiểu Trung tâm
chuyên biệt để có thể phục vụ tốt cho nhu cầu hàng ngày, thời gian rỗi và các nhu cầu khác
c
ủa dân cư. Có vai trò quan trọng nhất trong không gian dịch vụ công cộng là khu Trung tâm

Sự phát triển tư bản chủ nghĩa thế kỉ 19 đã có hậu quả xấu về các mặt xã hội, chính trị
vào những năm 1850 – 1860. Trong bối cảnh ấy, một số nhà tư tưởng tiến bộ nghĩ tới việc
xây dựng xã hội mới, không có giàu ngèo, không có bóc lột, nhân dân làm chủ các phương
tiện sản xuất của mình, tất cả cùng lao động và cùng hưởng hạnh phúc giống như cư dân
đô
thị trên đảo Utopier (Hy Lạp) đã từng tồn tại trong thời kì huy hoàng trước đó. Tư tưởng đó là
nội dung của chủ nghĩa không tưởng mà đại biểu xuất sắc nhất là Saint Simon (1760 - 1825),
Charles Fourier (1772 – 1837) ở Pháp và nhất là Robert Owen (1771 - 1808) ở Anh. Về thực
chất là đòi hỏi sự bình đẳng trong các chức năng của thành phố: ở, đi lại, công cộng cho tất cả
người dân không phân biệt giàu nghèo.
Robert Owen: Robert Owen đ
ã hình dung những công xã kiểu đô thị nửa nông thôn với số
dân không quá 2000 người nhưng không ít hơn 200 người. Con số tốt nhất là 800 đến 1.200
người. Những ngôi nhà có bố cục hình vuông có quảng trường nằm giữa. Ba phía ô vuông là
nhà ở gia đình, phía thứ tư dành làm phòng có trẻ em dưới 3 tuổi. Bên trong ô vuông là các
công trình công cộng: nhà ăn, nhà bếp, trường học, thư viện, ký túc xá và nhà khách.
Đô thị của R.Owen được bố cục hình vuông,
đối xứng qua hai trục, mang tính độc lậ
p và khép
kín cao, mỗi cạnh hình vuông đều có một cổng ra
vào, phía ngoài được bao bọc bởi khu vực canh tác
rộng khoảng 400-600ha. Ngoài khu vực canh tác
còn bố trí các nhà máy, các xưởng thủ thủ
công.(Hình 1)
Đây là những ý tưởng đầu tiên về quan điểm
tổ hợp các khu DVCC vào các khu dân cư nhằm
tạo ra trạng thái phục vụ tối ưu cho người sử dụng.

Charles Fourier (1772 - 1837
Mô hình của C.Fourier là tổ chức các điểm

DVCC và thiên nhiên sẽ tốt hơn.
Không một đô thị nào được xây dựng theo ý niệm của các nhà không tưởng xã
hội. Song sự tưởng tượng của họ có thể được tìm thấy trong những lý luận về xây dựng đô thị
hiện đại: đó là tính chất xã hội của đô thị và vấn đề công cộng hóa các hình thức sinh hoạt, họ
đặt ra đòi hỏi một sự công bằng cho tất cả các ch
ức năng trong đô thị, và bước đầu họ đặt ra
những quan niệm xây dựng các lý thuyết xây dựng hệ thống DVCC trong đô thị.
2. Các học thuyết về thành phố của thế kỷ 20:

a,Thành phố – vườn và thành phố vệ tinh của Ebennezer Howard
Nền công nghiệp ở Anh đã phát triển vượt bậc vào những năm 1780-1880 và xuất hiện
những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, văn hóa, kinh tế. E.Howard – một nhà quy
hoạch người Anh đã phê phán những hiện tượng đó và cho rằng: nguyên nhân cơ bản là do sự
tập trung dân cư quá cao vào các đô thị, nên thiết lập các điểm dân cư mang tính chất “đ
ô thị
nông thôn” độc lập, tự cấp theo kiểu công xã kết hợp giữa đô thị và nông thôn.
Năm 1898, Ông đã có ý tưởng mới mẻ về thành phố vườn và thành phố vệ tinh đã có
ảnh hưởng rất lớn đến quy hoạch đô thị ở châu Âu và ở Mỹ trong suốt mấy thập kỷ sau.
Mô hình thành phố vườn là một sơ đồ hình tròn với những vòng đai đồng tâm, ở trung
tâm là một công viên l
ớn, xung quanh là vòng đai nhà vườn, sau đó là một con đường lớn rồi
lại đến vòng đai nhà vườn. Vòng đai ngoài cùng là một vòng đai nối liền đơn vị này với

11
những đường giao thông và với những đơn vị DVCC. Giữa các đơn vị thành phố vườn là đất
nông nghiệp.
Mỗi đơn vị thành phố vườn vủa Howard có số dân nhiều nhất là 58000 người, nhỏ
nhất là 32000 người với quy mô đất đai khoảng 400ha, đất nông nghiệp bao quanh đô thị
khoảng 20.000ha.
Năm 1904 E.Howard cùng các cộng sự đã thiết kế xây dựng thành phố vườn đầu tiên

việc thiết lập ra mạng lưới trung tâm DVCC
tuy nhiên nó vẫn dừng lại ở mô hình phát triển theo tuyến, là tiền đề cho một số phát kiến
mới về đô thị sau đó ba mươi năm hay sáu mươi năm: thành phố tuyến dải ở Nga (1930), quy
hoạch đô thị Algierie, quy hoạch tuyến giữa đô thị Boston và Wasington…
Michel Kosmin
Đến năm 1950 của thế kỷ 20, khái ni
ệm “quy hoạch tuyến tính” và “đô thị tuyến tính”
mới được triển khai một cách có hệ thống. Sơ đồ quy hoạch một đô thị tuyến tính có tính cách
lý thuyết của M.Kosmin bao gồm những nguyên tắc sau đây:
Bố trí toàn bộ đô thị tuyến tính dọc theo những truc giao thông quan trọng (xa lộ, quốc
lộ, đường sắt, đường thủy)
Hình 4: Thành phố chuỗi của Soria Ymata

12
Bố trí các khu chức năng DVCC song song với các trục giao thông nói trên;
Trục chính của đô thị tuyến tính nằm song song với các trục giao thông;
Khu trung tâm được bố trí ở một bên của trục giao thông thẳng đứng với trục đô thị,
gồm có ba khu chức năng chính: Khu buôn bán, Khu hành chính, và khu sinh hoạt văn hóa.
Hai bên trục thẳng đứng và khu trung tâm là các khu ở (Hình 6)

Hình 5: Đô thị tuyến tính của Michel Kosmin
Mô hình đô thị tuyến tính được áp dụng trong những năm gần đây (1971 - 2000) ở
ngay các thành phố mới xung Paris như Evry, Marnela, Vcallee, Cergy Pontoie tạo ra các
chùm đô thị cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại. M. Kosmin đã hiện thực hóa việc xây dựng các
khu trung tâm DVCC tại các trục đường vuông góc với trục đường chính để tạo ra khu trung
tâm bộ mặt đô thị với đầy đủ các chức năng của nó: th
ương mại, hành chính, sinh hoạt văn
hóa.
c, Hệ thống chuỗi công trình DVCC liên tục.
Năm 1930, kiến trúc sư người Pháp Le Corbusier đã vận dụng ý tưởng là xây dựng

Hình 7: Sơ đồ quy hoạch đô thị mới ở
Toulouse

13
nhằm phù hợp với tính chất hiện đại của đô thị trong quá trình đi lên của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa lúc bấy giờ. ý tưởng của N.A. Miliutin là giải quyết tốt vấn đề quy hoạch giao
thông: giao thông tốc độ lớn theo chiều dài, giao thông tốc độ nhỏ (đi bộ) theo chiều ngang
của đô thị; khu công nghiệp và khu DVCC dân dụng, đất công viên, dòng sông trong thành
phố tuyến song song nhau nên khi phát triển tất các yếu tố cùng phát triển.
Năm 1930, N.A Miliutin đã áp dụng ý tưởng này vào quy hoạch thành phố nằm dọc
theo tả ngạn sông Volgagrad, (Hình 8)

Mô hình thành phố dải của N.A.
Miliutin cũng có khuyết điểm, đó là hình
dạng thành phố kéo dài làm trở ngại công
tác thi công, xây dựng, quản lý và tính chất
phục vụ; ngoài ra khó xác định vị trí trung
tâm hợp lý.
f, Thành phố công nghiệp của Tony
Garmer, Pháp
Cuộc cách mạng công nghiệp đã thúc
đẩy nhanh chóng sự hình thành nhiều đô thị
công nghiệ
p ở Anh, Pháp. Trong bối cảnh
đó, năm 1917, KTS Tony Garmer người Pháp cho ra đời mô hình “Thành phố công nghiệp”
nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên. Cơ cấu quy hoạch thành phố công nghiệp như sau: Đô
thị có dân số 35.000 người, không phải là làng, không phải là thành phố lớn. Các khu công
nghiệp và nơi ở, khu DVCC, khu vui chơi, công viên cây xanh, nghỉ ngơi, …bố trí song song
nhau để khi cần thiết thì cả ba yếu tố cùng mở rộng về một hướng.
Hệ thống giao thông đố

và hoàn thiện”. Từ đó chúng ta thấy hạ tầng kỹ thuật dịch vụ đô thị bao gồm:
+ Mạng lưới năng lượng,

Hình 8: Quy hoạch thành phố dải Volgagrad,
Nga
Hình 9: Sơ đồ mặt bằng quy hoạch
thành phố Lyon, Pháp

14
+ Mạng lưới giao thông,
+ Mạng lưới giáo dục đào tạo,
+ Dịch vụ nghiên cứu khoa học,
+ Mạng lưới văn hoá giáo dục,
+ Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ và du lịch,
+ Dịch vụ đời sống cộng đồng,
+ Mạng lưới bảo tồn sinh thái tự nhiên,
+ Tư vấn, Thiết kế và xây dựng đô thị, kiến trúc.
+ Hệ thống quản lý đô thị
+ Hệ thống vệ sinh môi trường.
- Một số tác giả đề xuất nên chia dịch vụ công cộng thành 2 nhóm: 1, Nhóm các dịch
vụ gắn với nền sản xuất xã hội, và 2, Nhóm dịch vụ đời sống xã hội.
Nhóm dịch vụ gắn với nền sản xuất xã hội: Được hiểu là tập hợp toàn bộ phương tiện
cần thiết cho hoạt động bình thường của các xí nghi
ệp và cơ sở sản xuất, bao gồm hệ thống
giao thông, viễn thông, cấp điện, khí đốt, cấp thoát nước.
Nhóm dịch vụ đời sống xã hội: Là tập hợp của các phương tiện, công trình đảm bảo
các điều kiện hoạt động vật chất và văn hoá cần thiết cho đời sống bình thường của người dân
trong một vùng lãnh thổ đô thị nhất đị
nh.
- Từ việc phân tích tổ chức và nội dung của hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ đô thị như

các thiết kế công trình cụ thể, có thể thấy rằng: Các dịch vụ tham gia vào cấu trúc của lãnh thổ
theo một cách khác, chúng có thể biểu hiện ở ba dạng:
- Như một chức năng phụ thuộc.
- Như mộ
t thành phần chức năng độc lập.
- Như một hệ thống cấu trúc các hoạt động dịch vụ.

2. Xu hướng mới trong phát triển hệ thống DVCC đô thị :

Các quan điểm mới

15
a, Hệ thống dịch vụ đô thị là chức năng kinh tế-xã hội-chính trị cơ bản: Sức nặng của
Hệ thống dịch vụ đô thị tác động như một chức năng kinh tế-xã hội-chính trị cơ bản phải thực
hiện trong cả quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch đô thị cũng tương tự như qui hoạch các khu
vực cư trú, lao động và nghỉ ngơi theo cấu trúc qui hoạch hợp lý với thời gian lịch sử
(Hình 10). Điều đó xác định quyền tồn tại Hệ thống dịch vụ như một hệ thống cấu trúc quy
hoạch độc lập. Hệ thống dịch vụ có mối liên hệ chặt chẽ với việc sinh sống, lao động và nghỉ
ngơi của cư dân đ
ô thị ( không phụ thuộc vào đặc điểm riêng của nó) và biểu hiện về hình
thức và cấu trúc của dịch vụ như: chức năng, thành phần chức năng, hệ thống cấu trúc của
mạng lưới DV. Ở một mức độ nhất định, dịch vụ lệ thuộc vào các yếu tố đó hoặc bị chúng
chi phối.
b, Cấu trúc DVCC đô thị có thể đượ
c qui hoạch theo các dạng không gian dịch vụ tập
trung hoặc phi tập trung. Các thành phố truyền thống thường có dạng phi tập trung vì chúng
có qui mô nhỏ, hình thành dần dần không theo qui hoạch. Các thành phố hiện đại thường thiết
lập các Trung tâm công cộng tập trung theo qui hoạch Những nước đang phát triển hoặc
đang công nghiệp hoá thường ở giữa hai dạng trên: Phát triển các Trung tâm DVCC đô thị tập
trung tại các vùng đô thị mới song song với sự hiệ

- Sửa chữa giày dép và đồ da

Trích đoạn Diễn biến của Qui trỡnh dịch vụ cụng cộng đụ thị trong tương quan vựng đụ thị Nhõn tố Dõn cư Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status