Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu của cây cà phê Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. - Pdf 32

Chương I:Lời mở đầu
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió ẩm mưa nhiều. Đó cũng là điều kiện
lý tưởng cho một số cây trồng phát triển, đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế
quốc dân. Một trong loại cây trồng đó chúng ta không thế không kể đến cây cà
phê, một loại cây quen thuộc với người dân Việt Nam, đặc biệt là ở các cùng Tây
Nguyên, Lâm Đồng. Nó có lịch sử phát triển ở Việt Nam cũng khá lâu đời và
trong những năm gần đây nó đã đem lại thu nhập không nhỏ trong nền kinh tế
nước ta và giá trị xuất khẩu của nó cũng là khá lớn.
Thuận lợi là như vậy, nhưng Việt Nam vẫn chưa phải là một nước sản xuất
và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được giải
quyết như : giá cà phê liên tục giảm, giá trị kim ngạch xuất khẩu liên tục giảm
mạnh, có khi lên xuống thất thường, gây khó khăn nhiều cho người sản xuất và
nhà xuất khẩu.
Do vậy, vấn đề đặt ra là phải tìm ra nguyên nhân, đề ra các phương hướng
và giải pháp như thế nào để khắc phục những tồn tại đó, cũng như tìm ra phương
cách cho cả phát triển của cây cà phê Việt Nam. Nhất là trong điều kiện hội nhập
WTO, mở cửa thị trường quốc tế thì vấn đề đặt ra với cây cà phê Việt Nam ngày
càng bức xúc hơn bao giờ hết.
Từ những hiểu biết nho nhỏ, cũng như qua tìm hiểu về cây cà phê Việt
Nam, em đã thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất, đẩy
mạnh xuất khẩu của cây cà phê Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế”.
Mong muốn giải quyết được một phần nào khó khăn đó của cây cà phê Việt
Nam.
1
Chương II. Nội dung đề tài.
I. Thực trạng của cây và hạt cà phê của Việt Nam.
1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê thế giới.
1.1.Tình tình sản xuất
Theo số liệu thống kê cho thấy, thế giới hiện nay có trên 80 nước trồng cà
phê, trong đó có 3 nước châu Phi, 15 nước châu Mỹ, 6 nước châu Đại Dương và
một số nước châu Á.

1994 2639 123,83 3158 115,12
1995 2789 5,68 3211 1,67
1996 1820 -34,47 2635 -17,93
1997 1775 -2,47 3670 39,28
1998 1935 9,01 3425 -6,67
1999 1466 -24,23 2313 -32,46
2000 915 -37,58 2018 -12,75
2001 524 -42,73 1227 -39,2
2002 560 6,8 1350 100,02
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Từ năm 1995 đến nay, giá cà phê trên thị trường thế giới liên tục giảm xuống
mức thấp. Hiện nay, được coi là thời điểm khủng hoảng thừa của cà phê thế
giới.
1.3. Thị trường tiêu thụ cà phê thế giới.
Những năm đầu thập kỉ 90, Singapore đã nhập khẩu 17631 tấn chiếm
19,67% tổng sản lượng cà phê xuất khẩu cà phê Việt Nam. Năm 1991 tăng lên
52119 tấn chiếm 56,81%. Năm 1992 là 58,322 tấn chiếm 49,34%. Trong những
năm gần đây, tuy khối lượng cà phê của Việt Nam xuất sang Singapore tăng lên
nhưng nó có xu hướng giảm về tỉ trọng, nguyên nhân là chúng ta đang có sự thay
đổi chính sách xuất khẩu cà phê.
3
Bảng 2: Một số nước nhập khẩu cà phê lớn của Việt Nam năm 2000.
Nước
Khối lượng
(tấn)
Tỷ phần
(%)
Nước
Khối lượng
(tấn)

xuất đến 57 nước trên thế giới.
2.1.2. Chất lượng cà phê xuất khẩu của nước ta hiện nay.
Chất lượng nông sản nói chung và cà phê nói riêng phụ thuộc nhiều vào
các yếu tố : điều kiện tự nhiên, giống, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, vận chuyển
của tiêu thụ sản phẩm…. Nếu bất cứ khâu nào không hoàn thiện thì đều ảnh
hưởng không tốt đến chất lượng sản phẩm.
Từ đầu năm 90, xuất khẩu cà phê của Việt Nam tăng đột biến. Do quá trình quản
lý cà phê không theo kịp nên chất lượng cà phê có phần giảm sút so với trước
đây. Tình trạng hạt đen, hạt nên men, hạt khô lẫn lộn cùng với nhiều tạp chất
không đảm bảo về chất lượng dẫn đến giá thấp gây thiệt hại cho việc xuất khẩu.
Hiện nay, cà phê xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là cà phê loại 2 chiếm khoảng
80%, còn lại là cà phê loại 1 chiếm chưa đến 8%.
Nhìn chung, chất lượng cà phê không ổn định, đáng chú ý là dạng hạt đen, nâu,
xanh non, quả khô, sâu… vẫn còn nhiều do người sản xuất tranh thủ hái cà phê
xanh khi đầu vụ thu hoạch, thêm vào là quá trình thu hái quả của khu vực tư
nhân không đảm bảo, lẫn tạp chất nhiều, quy trình chế biến chưa đảm bảo, xay
xát cà phê hiện ngay khi cà phê còn độ ẩm cao.
Vậy để cà phê Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới cần phải chú
trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, phải khắc phục những nhược điểm còn tồn
tại ở trên, Đồng thời phát huy những ưu thế đặc trưng của cà phê Việt Nam cả về
5
chất lượng và hương vị thơm ngon vốn có của nó để đáp ứng được nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng quốc tế.
Bảng 3: Chất lượng của cà phê xuất khẩu của Việt Nam. (đơn vị :%)
Chất lượng
cà phê
Niên vụ
94-95 95-96 96-97 97-98
Loại 1 ( R1) 2 6 7 16
Loại 2( R2A) 15 45 60 72

phê của Việt Nam được giá cả kính thích trở lên hết sức sôi động. Giá cà phê
xuất khẩu đạt được ở mức bình quân trên dưới 2000$/tấn. Giá bán trong nước đạt
từ 20-30 Triệu đồng/tấn. Diện tích cà phê tăng lên nhanh chóng đến mức không
kiểm soát được. Lượng xuất khẩu cũng tăng nhanh vào các vụ 1998/1999,
1000/2000, 2000/2001. Sự tăng trưởng về diện tích, sản lượng cà phê ở Việt
Nam mang tính tự phát nhiều hơn và có sự mất cân đối giữa sản xuất và chế
biến. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến không theo kịp sự phát triển
sản xuất nông nghiệp. Với sản phẩm có chất lượng chưa cao, chúng ta đã bán cà
phê ra thị trường với giá thấp. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu tới thu nhập
của ngành cà phê. Mà còn gây ra phản ứng không có lợi cho ta ở một số nước
sản xuất cà phê.Thực ra giá cà phê xuống thấp dẫn tới những thua thiệt cho bà
con nông dân. Từ giá cà phê chào bán vói giá 20,25-30 triệu đồng/tấn, đến cuối
2001 chỉ còn 4500 đồng/1kg  20%. Điều này, làm cho người nông dân gặp
nhiều khó khăn. Vườn cây không còn được chăm sóc như xưa. Nhiều nơi bị bỏ
hoang, dẫn đến sản lượng bị giảm sút nhanh tróng, làm các nhà xuất khẩu cũng
bị thiệt hại lớn vì giá xuống thấp liên tục. Thêm vào đó, những mặt yếu kém của
bản thân ngành cà phê Việt Nam cũng tăng thêm khó khăn cho ngành. Nhiều cơ
sở có năng lực kinh doanh, đội ngũ thu mua, cung ứng nguồn hàng cho công ty
7
xuất khẩu thiếu tin cậy. Trước những khó khăn to lớn của ngành cà phê, Chính
phủ đã đưa ra nhiều biện pháp cứu ngành cà phê như giãn nợ, cho vay vốn…. Để
cải thiện tình hình trên cần có những giải pháp đúng đắnm toàn diện để nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngành cà phê trên thị trường quốc tế. Trong tình trạng
khủng khoảng thừa, cung vượt quá cầu quá lớn thì chúng ta chỉ có thể tồn tại,
đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nếu sản phẩm cà phê Việt Nam, nếu
ngành cà phê Việt Nam có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế đủ để boả
hộ quyền lợi của ngành trước một thị trường quốc trê phức tạp và đa dạng này.
2.2.2. Những tồn tại và năng lực của Việt Nam với cây cà phê xuất khẩu.
* Cà phê của Việt Nam hiện nay.
Tin từ bộ NN&PTNN, tháng 8/2006, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm

tính ổn định lâu dài cho cà phê Việt Nam.
Giá cà phê đạt mức cao nhất trong 7 năm qua:
Theo hiệp hội cà phê thế giới( ICO ), do dự trữ cà phê trên thế giới đạt ở
mức thấp trong lịch sử nên có thể tiếp tục phát triển cây cà phê trở thành thế
mạnh của Việt Nam. Tại NewYork, giá cà phê Arabica giao ngay đạt 2448$/tấn
tăng 6,8% so vơi 2 tần trước đó, đạt cao nhất trong hơn 7 năm qua. Tại London,
giá cà phê Robusta loại I giao ngay cũng tăng 2,6% với giá chào bán lên tới 1525
4/tấn. Trong khi đó giá cà phê Robusta loại II cũng ở mức xấp xỉ 1925 $/tấn.
Trong báo cáo về thị trường cà phê mới nhất. Giám đốc ICO nhận định, khối
lượng dự trữ cà phê ở các nước xuất khẩu tiếp tục giảm là một trong những
nguyên nhân đan đỡ giá cà phê trong thời gian qua.
Trong khi đó, nguồn cung của một số nước xuất khẩu chính như Brazil và
Việt Nam trong niên vụ 2006/2007 dự kiến đạt 122 triệu bao. Trong đó, sản
9
lượng cà phê của Brazil, nước xuất khẩu cà phê Arbica, đạt khoảng 41,57 triệu
bao. Việt Nam, nước sản xuất cà phê Rubusta lớn nhất thế giới, dự kiến đạt
khoảng 14,5 triệu bao.
Qua đó, chúng ta cần biết tận dụng tối đa lợi thế của mình và chớp lấy cơ hội
để tăng sản lượng xuất khẩu trong thời gian tới nhằm đem lại lợi nhuận lớn nhất,
đưa ngành cà phê phát triển mạnh hơn.
• Năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam.
- Chi phí sản xuất.
Việt Nam là một nước có lợi thế về chi phí nhân công => chi phí sản xuất
thấp.
- Cà phê xuất khẩu, loại hình sản phẩm.
Nước ta hàng năm xuất khẩu trên dưới 10 triệu bao cà phê, chủ yếu là cà phê
Robusta, được xuất dưới dạng nhân sống. Ngoài ra cũng có một lượng nhỏ cà
phê Arbica và các loại cà phê chế biến như cà phê xay, hoà tan.
Tính ra mỗi tấn cà phê hoà tan xuất khẩu được 3461$/tấn. Bình quân giá cà
phê vụ đó là 436,6$/tấn, giá cà phê hoà tan gần bằng 8 lần giá cà phê nhân

với nhãn mác khác.
- Hàng năm cà phê nước ta đã xuất khẩu sản phẩm của mình sang 50 quốc
gia và vùng lãnh thổ nhưng thực ra chỉ bán trực tiếp cho một chục hãng
buôn có đại diện tại Việt Nam. Có thể nói ngành cà phê Việt Nam đã xuất
khẩu cà phê ngay trên sân nhà của mình. Rõ ràng như thế chúng ta nhượng
lợi ích xuất khẩu cho người khác hứng.
-
11
3. Kết và thách thức với xuất khẩu cà phê Việt Nam.
- Kết quả : Xuất khẩu cà phê đạt mức kỷ lục
Theo bộ thương mại, xuất khẩu cà phê năm nay có cả nước có thể đạt tới
900000 tấn với kim ngạnh xuất khẩu 590 triệu $. Đây là mức xuất khẩu cao
với kỷ lục trong vòng 30 năm trở lại đây ( tình từ 1975-> nay).
Tính đế tháng 12, cả nước đã xuất khẩu được khoảng 800000 tấn cà phê,
đạt kim ngạch 550 triệu $, tăng 44% so với cùng kỳ năm trước, giá xuất khẩu
giảm trong khi đó giá thành sản xuất tăng do giá phân bón, giá điện tăng cao
làm nhiều người trồng cà phê thua lỗ và nhiều doanh nghiệp cũng tạm ngừng
mua hàng và xuất khẩu tiếp sẽ thua lỗ.
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu cà phê 950 triệu $. Trung tâm thông tin
thương mại cho biết, sau khi giảm nhẹ vào tháng 10, từ đầu tháng 11 đến nay,
giá xuất khẩu đã tăng, loại 2 được giao dịch ở mức 1425-1430 $/tấn. Như vây,
giá xuất khẩu cà phê của nước ta đã bám rất sát thế giới. So với mức chênh
lệch có lúc lên đến trên 1400$/tấn hồi tháng 8, trên thị trường nội địa, giá
mua cà phê nhìn chung vẫn ổn định. Theo dự báo, xuất khẩu cà phê Việt Nam
năm 2006 sẽ đạt mức kim ngạch 950 triệu$, tăng trên 50% so với năm 2005.
Đây là năm giá cà phê trở lại thời kì hoàng kim. Với mức tăng giá bình quân
cao thứ 2 sau cao su, tăng tới 46,8%( tương ứng khoảng 370$/tấn) so với
cùng kỳ năm trước
- Thách thức với xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Trong vòng 20 năm trở lại đây, ngành cà phê đã có bước phát triển nhanh

cà phê nói riêng.
2. Điều kiện về kinh tế xã hội.
13
Ngoài các điều kiện tự nhiên thuận lợi ra, chúng ta còn có những tiềm
năng thế mạnh về kinh tế xã hội khá thuận lợi cho sản xuất và xuất khẩu
cà phê. Mặc dù so với lịch sử phát triển ngành cà phê của thế giới thì
ngành cà phê thuộc dạng trẻ xong do chú trong phát triển lên ngành cà phê
Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định. Việt Nam là nước với
trên 70 % lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Đây là lợi thế
trong sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
3. Hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực tạo ra thuận lợi và khó khăn
Nhận thức được điều này, Chính phủ Việt Nam không ngừng cố gắng để
gia nhập các tổ chức quốc tế nhằm tạo ra thuận lợi cho các mặt hàng xuất
khẩu. Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà Việt Nam đã trở thành
thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Điều đó tạo ra thuận lợi
khi tham gia vào thị trường quốc tế, tạo điều kiện cho xuất khẩu cà phê
được thuận lợi từ đó có thể phát triển ngành cà phê đem lại thu nhập lớn
cho nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh thuận lợi đó thì thách thức và khó
khăn của ngành cà phê Việt Nam cũng không nhỏ đó là những mặt hàng
còn yếu khi tham gia vào thị trường thế giới như : chất lượng chưa cao,
chưa có thương hiệu, marketing, quảng cáo còn kém. Đó gây ra thiệt hại
không nhỏ cho ngành cà phê. Vấn đề đạt ra là chúng ta phải phát huy
những thế mạnh của mình, từng bước khắc phục những hạn chế, nếu làm
được điều đó chúng ta có thể tin tưởng rằng cà phê Việt Nam sẽ là một
ngành phát triển mạnh với thương hiệu lớn trong thị trường quốc tế.
IV. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh sản
xuất,xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
1. Phương hướng.
1. Phát triển sản xuất phù hợp với điều kiện vùng và chất lượng ổn định.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status