Một số giải pháp quản lý Nhà Nước nhằm hạn chế những rủi ro trong hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam trong thời kỳ hôi nhập kinh tế quốc tế - Pdf 17

Mục Lục
Phần mở đầu.
I. Đặt vấn đề
“ Quốc tế hoá đời sống kinh tế là xu hướng khách quan, là sự phát triển
tất yếu của nền sản xuất xã hội trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất”
1
Theo đó, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là
một trong những mục tiêu chiến lược của quốc gia trên thế giới, trong đó có
cả các nước đang phát triển tuân theo xu hướng chung của nền kinh tế hội
nhập nhằm phát triển nền sản xuất trong nước. Trong giai đoạn phát triển hiện
nay của các nền kinh tế trên thế giới đã rút ra bài học và khẳng định vai trò
tích cực, tính an toàn của nguồn vốn FDI, những ưu việt của nó so với vay nợ
và đầu tư ngắn hạn ( một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng
hoảng kinh tế tại các nước đang phát triển do tỷ lệ vay nợ ngắn hạn quá cao,
cụ thể năm 2003 ở Thái Lan là 85% trong khi vốn FDI chỉ chiếm 15%: Hàn
Quốc cũng trong tình trạng tương tự khi đưa ra chủ trương vay vốn để thành
lập các tập đoàn lớn, dẫn đến nợ chồng chất không trả được…)
Việt Nam với xuất phát điểm thấp hơn rất nhiều nước khác trên thế giới
trong quá trình hội nhập, đầu tư trực tiếp nước ngoài có một vai trò hết sức
quan trọng.Việc mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng theo đó trở
thành mục tiêu lâu dài và cơ bản không thể thiếu trong mục tiêu phát triển đất
nước. Ngày 29/12/1987 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài, đặt nền tảng pháp lý chính thức cho
1
Vũ Trường Sơn: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trường ĐH
KHXH & NV, khoa Kinh tế, Nhà xuất bản Thống Kê, Năm 1997, tr 155
Chuyên đề tốt nghiệp
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta. Sau đó là bốn lần bổ sung,
sửa đổi và điều chỉnh một số Điều trong Luật Đầu tư nước ngoài vào ngày
30/06/1990, 23/12/1992, 12/11/1996 và năm 2000, 2003 nhằm phù hợp hơn

đầu tư và thu hút nhiều hơn các dự án đầu tư FDI về cả quy mô và chất lượng,
đóng góp vào nền kinh tế quốc dân trên mọi phương diện.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này không đưa ra hết tất cả các giải
pháp của mọi chủ thể liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam mà chỉ là một số giải pháp chủ yếu từ phía chủ thể là Nhà Nước,
giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý vĩ mô các hoạt động đầu tư nói
chung và đầu tư trực tiếp nói riêng nhằm phù hợp với tình hình đất nước trong
giai đoạn mới, hội nhập kinh tế quốc tế.3
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Một Số Giải Pháp Quản Lý Của Nhà Nước
Nhằm Hạn Chế Những Rủi Ro Trong Hoạt Động Của Các Dự án Đầu Tư Trực
Tiếp Nước Ngoài ( FDI ) Vào Việt Nam Trong Thời kỳ Hội Nhập Kinh Tế
Quốc Tế” là do chính tôi viết. Tất cả những trích dẫn nguyên văn và không
nguyên văn đều đầy đủ và chính xác về nguồn gốc. Các số liệu, kết quả trong
chuyên đề này là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế tại Bộ Kế hoạch &
Đầu tư.

Hà Nội, ngày….tháng….năm 2008
Người cam đoan.
Hồ Thị Phương

4
Chuyên đề tốt nghiệp
Phần nội dung
Chương I
Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) và các rủi ro có

tư trực tiếp nước ngoài đươc sửa đổi bổ sung năm 2000: “ đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
Luật này”
4
.
1.2. Dự án FDI
Dự án đầu tư về nội dung là tổng thể các hoạt động dự kiến với các
nguồn lực và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch
sử thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối
tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội nhất định.
Theo sự đa dạng của các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài thì
cũng có những các hiểu khác nhau về dự án FDI . Trong khuôn khổ của đề tài
nghiên cứu thì có thể hiểu, dự án FDI là những dự án đầu tư do các nhà đầu
tư nước ngài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2. Các đặc trưng cơ bản
Để hiểu rõ hơn về các dự án FDI để nhìn nhận một cách khách quan về
các vấn đề còn tồn tại, cần nắm được những đặc trưng cơ bản của các dự án
này.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một hình thức đầu tư nên các dự án
FDI cũng mang những đặc trưng cơ bản của các dự án đầu tư.
Thứ nhất, đây là hoạt động bỏ vốn của các nhà đầu tư và vì vậy các
quyết định đầu tư thông thường là quyết định về tài chính và mỗi quyết định
đưa ra đều phải cân nhắc giữ lợi ích trước mắt và các lợi ích lâu dài của dự án.
4
Khoản 1, Điều 2, Luật Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài sửa đổi bổ sung, Năm 2000

6
Chuyên đề tốt nghiệp

+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh
tế.Có thể coi đó là một nhân tố hay cú huých lớn để phá vỡ vòng luẩn quẩn
của sự đói nghèo.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh chuyển giao công nghệ làm
khoảng cách công nghệ giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư bị thu hẹp.Bên
cạnh đó tạo phản ứng tích cực phổ biến công nghệ và hoạt động phát minh
công nghệ.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao chất lượng lao
động,phát triển nguồn nhân lực.Hoạt động của các dự án FDI giúp trực tiếp
đào tạo lao động và gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp
nhận đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần trong việc giải quyết các vấn đề
kinh tế- xã hội,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu
tư.Bên cạnh đó, còn giúp thúc đẩy xuất khẩu, xây dựng năng lực xuất khẩu và
mở rộng thị truờng xuất khẩu.
+Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có vai trò trong việc cải thiện cán cân
thanh toán và giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động.
+Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần bảo vệ môi trường, khai thác có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và góp phần vào quá trình mở rộng hợp tác
kinh tế quốc tế .
3.2. Những thách thức và hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Vốn do hoạt động FDI cung cấp có chi phí vốn lớn hơn so với các
nguồn vốn khác từ nước ngoài.Trong truờng hợp được cung cấp với một số
lượng lớn sẽ gây ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của một quốc gia.
- Chuyển giá là một trong những vấn đề mà các nước tiếp nhận đầu tư lo
ngại, gây ra cạnh tranh không lành mạnh và dẫn đến hạn chế đối với nền kinh
tế.

8
Chuyên đề tốt nghiệp


9
Chuyên đề tốt nghiệp
lường một cách chính xác những thiệt hại mà nó có thể mang lại.Tuy nhiên,
nếu con người có thể nhận dạng và tính được chính xác các rủi ro có thể đến
với mình thì rủi ro sẽ không còn nữa mà nó trở thành những sự kiện bất lợi
mà con người không mong muốn xảy ra như thiên tai, thời tiết,...
- Tính chất ngoài mong đợi: trong cuộc sống, con người ai cũng mong
muốn nhận được lợi ích cũng như những điều tốt đẹp may mắn trong mọi lĩnh
vực và hoạt động của cuộc sống.Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc
nào cũng được như vậy. Những điều, những sự kiện không may mắn, gây tổn
thất cho cuộc sống của con người luôn tồn tại và trở thành điều không mong
muốn trong cuộc sống hay nói cách khác đó là những sự kiện ngoài mong đợi
của con người.
- Tính sự cố gây ra tổn thất: những rủi ro xảy ra không thể đo lường
được hoặc đo lường một cách không chính xác dẫn đến những hậu quả cho
con người trong hoạt động họ tham ra có rủi ro. Trên thực tế, tổn thất mà mỗi
rủi ro mang lại là không giống nhau, có thể nhiều, ít hay đôi khi có thể coi là
không hề mang lại tổn thất gì.
Tổn thất mà các rủi ro mang lại tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau:
hữu hình (tài sản, vật chất...) hay vô hình (sức khoẻ, tinh thần, trách nhiệm,
đạo đức...).
Nói cách khác, dù được nhìn nhận dưới những góc độ hay hình thái khác
nhau thì rủi ro đều bao hàm trong nó sự bất ngờ, ngoài mong đợi của con
người và gây nên những tổn thất khác nhau đối với các hoạt động mà con
người tham gia.
2. Phân loại rủi ro
7
7
Xem: Khoa đầu tư, ĐH KTQD: Giáo trình quản lý dự án đầu tư, Võ Kim Sơn, Bùi Thế

thiệt hại có tính ngẫu nhiên không phải do tự tạo ra hay do hiện tượng hao

11
Chuyên đề tốt nghiệp
mòn vật chất tự nhiên gây ra.Các thiệt hại này phải được định dạng, có thể đo
lường và đủ để tạo ra những khó khăn về kinh tế và có xác xuất thiệt hại thảm
hoạ thấp.
2.4. Theo nguồn gốc rủi ro.
- Rủi ro nội sinh: là những rủi ro do những nguyên nhân nội tại của dự án.
Những nhuyên nhân nội sinh thường nhắc đến như: quy mô, mức độ phức tạp,
tính mới lạ của dự án, các nhận tố ảnh hưởng đến tốc độ thiết kế và xây dựng,
hệ thống tổ chức quản lý dự án.
- Rủi ro ngoại sinh: là những rủi ro do những nguyên nhân bên ngoài gây
nên. Những nhân tố ngoại sinh thường gặp là lạm phát, biến đổi thị trường,
tính sẵn xó của lao động và nguyên liệu,độ bất định về chính trị,những ảnh
hưởng của thời tiết.
2.5. Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro.
- Rủi ro cơ bản: là những rủi ro sinh ra từ những nguyên nhân ngoài tầm
kiểm soát của con người. Hậu quả mà nó mang lại thường rất nghiêm trọng,
khó lường, có ảnh hưởng đến cộng đồng và toàn xã hội.Thường thì hầu hết
các rủi ro này xuất phát từ các tác động tương hỗ thuộc về kinh tế, chính trị,
xã hội...
- Rủi ro riêng biệt: rủi ro xuất phát từ biến cố chủ quan và khách quan từ cá
nhân, tổ chức và ảnh hưởng tới lợi ích của từng cá nhân, tổ chức như sai lầm
trong lựa chọn chiến lược kinh doanh, đối tác hay mặt hàng kinh doanh trong
từng thời kì.
2.6. Phân loại rủi ro theo lĩnh vực.
Là cách phân loại rủi ro theo các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội.
Các rủi ro có thể phát sinh từ những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: về
chính trị (những thay đổi bất thường của thể chế chính trị), về kinh tế (lạm


13
Chuyên đề tốt nghiệp
3.4. Rủi ro về thông tin
Xuất hiện khi những thông tin bị sai lệch, đến chậm hoặc do quá trình
phân tích, xử lý thông tin thường dẫn đến việc chủ đầu tư có sự chậm trễ
trong các quyết định và thất bại trong kinh doanh.
3.5. Rủi ro về cạnh tranh.
Loại rủi ro này là những áp lực bất ngờ không lường trước của chủ đầu
tư trước sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng, sự tăng nhanh bất thường về
số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp cùng ngành, sự xâm nhập
mạnh mẽ của doanh nghiệp nước ngoài khi Chính phủ mở cửa kinh tế,...Rủi
ro cạnh tranh có thể dẫn tới sự thu hẹp về thị trường, thậm chí dự án còn bị
thôn tính và bị loại ra khỏi thị trường.
3.6. Rủi ro về văn hoá.
Một trong những đặc trưng riêng cơ bản của các dự án FDI là nơi gặp
gỡ,làm quen giữa các nền văn hoá khác nhau.Vì vậy, sự khác nhau về văn hoá
đã và đang là nguyên nhân làm tăng cơ hội hiểu lầm đáng tiếc có thể dẫn công
ty mất thị phần mục tiêu. Rủi ro về văn hoá bắt nguồn từ sự không am hiểu về
phong tục, tập quán, lối sống, cách sống, ngôn ngữ sử dụng...
3.7. Rủi ro từ môi trường tự nhiên.
Các yếu tố trên được nhắc đến có tác động mạnh mẽ đến môi trường kinh
doanh nói chung và đến các hoạt động của doanh nghiệp FDI nói riêng. Bên
cạnh đó, còn có một số rủi ro từ việc ra quyết định ( xuất hiện do xác định sai
mục tiêu, sai định hướng chiến lược kinh doanh, sai lệch về thông tin thị
trường,... dẫn đến sự lực chọn về thời gian, địa điểm, phương thức, quy mô
đầu tư,...); rủi ro từ việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư ( vấn đề thi
công xây dựng các dự án đầu tư kéo dài,...); rủi ro từ những tác nghiệp sai
lầm, ý thức, tinh thần trách nhiệm của các nhà đầu tư, các nhà quản lý và của


Vĩnh, Trần Thế Nhuận, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội 1996, tr 278-282

15
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Chấp nhận rủi ro.
Đây là trường hợp các chủ đầu tư hoặc cán bộ dự án hoàn toàn có thể biết
trước về rủi ro và thiệt hại khi nó xảy ra.
Nhà đầu tư thường chỉ chấp nhận rủi ro khi thiệt hại không quá lớn và mức
độ thiệt hại nhỏ.
Ngoài ra, có những rủi ro mà đơn vị phải chấp nhận trong quá trình hoạt
động của dự án và buộc phải sử dụng phương pháp này.
1. 3.Tự bảo hiểm.
Là phương pháp quản lý rủi ro trong đó các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro và
tự nguyện kết hợp với nhau thành nhóm bao gồm nhiều dự án có cùng những
rủi ro gần tương tự, đủ để dự đoán chính xác tần suất xảy ra cũng như mức độ
thiệt hại.Từ đó, họ có chuẩn bị trước nguồn quỹ để bù đắp cho những thiệt hại
khi nó xảy ra.
Đây cũng là một hình thức chấp nhận rủi ro. Thường là sự kết hợp giữa
các đơn vị trong cùng một công ty mẹ hoặc là cùng một ngành, thường có
cùng các rủi ro.
Lợi thế của phương pháp này là ngăn ngừa các thiệt hại,các thủ tục chi trả
bảo hiểm cũng có thể được tiến hành nhanh gọn, giúp nâng cao khả năng sinh
lời do có khả năng xoay vòng vốn.
Tuy nhiên, với phương pháp này, đơn vị phải chi trả cho việc vận hành
các chương trình bảo hiểm, phải mua và cung cấp nội bộ các dịch vụ nhằm
ngăn ngừa thiệt hại bà khi rủi ro xảy ra cần có người theo dõi và quản lý
chương trình tự bảo hiểm. Điều này dẫn đến việc chi phí bỏ ra khá lớn.Trên
thực tế do đaay cũng là hình thức chấp nhận rủi ro nên bản thân nó cũng
mang yếu tố rủi ro với mong đợi là rủi ro sẽ không xảy ra.
1.4. Ngăn ngừa thiệt hại.

17
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảo hiểm là công cụ quản lý rủi ro phù hợp khi khả năng thiệt hại thấp
nhưng mức độ thiệt hại lại có thể rất cao .

2. Quản lý Nhà Nước đối với các dự án FDI
Theo Vũ Chí Lộc
9
thì hoạt động đầu tư nước ngoài không chỉ là bộ phận
của lĩnh vực kinh tế đối ngoại mà đó còn là bộ phận của nền kinh tế quốc dân
và vì vậy Nhà Nước là chủ thể quan trọng quản lý nguồn vốn FDI.
Quản lý của Nhà Nước đối với các dự án FDI là nhằm thực hiện một
cách tốt nhất định hướng của Luật đầu tư là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại vào công cuộc phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó còn nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà Nước là thu hút
vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các công ty nước ngoài, tạo việc
làm, khai thác các tiềm năng của đât nước và phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Quản lý Nhà Nước đối với các dự án FDI còn nhằm đảm bảo hoạt động
đầu tư tuân thủ pháp luật Việt Nam, giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước.
Ngoài ra còn tô trọng quyền của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam,
đảm bảo tính công bằng, bình đẳng và cùng có lợi cho cả đôi bên.
2.2. Vai trò.
Quản lý Nhà Nước theo Vũ Chí Lộc là hoạt động chấp hành và điều
hành của Nhà Nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi cơ quan hành
chính Nhà Nước có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, các
nghị quyết của cơ quan quyền lực Nhà Nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo thực
hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn
hoá, xã hội và chính trị nước ta.
9

cách thức tác động có chủ đích có thể có của Nhà Nước lên nền kinh tế quốc
dân góp phần tăng trưởng, ổn định kinh tế và bằng kinh tế.
10
Xem: Điều 80, Pháp luật mới về đầu tư kinh doanh, Hội Luật gia Hà Nội, Trung tâm thông
tin tư vấn pháp luật, NXB Lao động Xã hội, năm 2006

19
Chuyên đề tốt nghiệp
2.4.1. Phương pháp hành chính.
Phương pháp hành chính
11
là cách thức tác động trực tiếp của Nhà Nước
thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc lên đối tượng quản lý
Nhà Nước về kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của quản lý kinh tế vĩ mô
trong những tình huống nhất định.
Phương pháp này có tính bắt buộc những đối tượng chịu sự quản lý phải
tuân thủ các quy định của pháp luật và mang tính quyền lực theo đúng thẩm
quyền pháp luật. Từ đó góp phần xác lập trật tự kỷ cương, kết nối các phương
pháp khác, giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng.
Thực hiện quản lý theo phương pháp này là Nhà Nước tác động vào nền
kinh tế theo hai hướng:
Thứ nhất, là về mặt tổ chức. Xây dựng và không ngừng hoàn thiện khung
pháp luật áp dụng cho từng đối tượng chịu sự quản lý. Từ đó tạo hành lang
pháp lý ổn định, an toàn và phù hợp cho các đối tượng, tạo niểm tin cho người
dân. Bên cạnh đó là việc cụ thể hoá khung pháp luật và các kế hoạch thị
trường thông quan các công cụ khác nhau trong xét duyệt, kiểm định chất
lượng, giấy phép kinh doanh,.... Phương pháp này có hiệu lực nhanh, ngay
khi ban hành tuy nhiên lại có một nhược điểm rất lớn là có thể phát sinh hiện
tượng lạm dụng hành chính và phụ thuộc quá nhiều vào đội ngũ cán bộ hành
chính trong bộ máy Nhà Nước.

nhân hoạt động mang lại lợi ích thống nhất giữa cá nhân và tập thể, lợi ích
quốc gia.
Các chính sách ưu đãi cũng được Nhà Nước đưa ra để điều chỉnh hoạt
động chung của cả nước, không những chỉ có trong nước mà còn thu hút từ
các Kiều bào sống xa tổ quốc.
2.4.3. Phương pháp tâm lý giáo dục
13
12
Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu: Giáo trình quản lý Nhà Nước về kinh tế, ĐH KTQD, Nhà
xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội 2005, tr 143-144.

21
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhà Nước tác động vào nhận rhức và tình cảm của con người thuộc đối
tượng quản lý Nhà Nước về kinh tế, từ đó nâng cao tinh thần tự giác, tích cự
và nhiệt tình của những người lao động trong việc thực hiện các nhiệm vụ
được giao.
Dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý, phương pháp giáo dục mang
tính thuyết phục, giáo dục con người những đường lối chủ trương của chính
phủ, ý thức lao động sáng tạo, có hiệu quả của người lao động. Bên cạnh đó,
Nhà Nước giáo dục nhằm xoá bỏ những lề lối cũ lạc hậu như tàn dư của
phong kiến, tư sản và hướng người lao động theo tác phong công nghiệp hiện
đại.
Phương tiện được Nhà Nước sử dụng là các phương tiện thông tin đại
chúng, các tổ chức đoàn thể, hội nghị tổng kết của các tổ chức đơn vị, các
phong trào thi đua, tấm gương của các doanh nghiệp Nhà Nước làm ăn có
hiệu quả.
Chương II
Tổng quan về các dự án FDI và phân tích các rủi ro trong các dự án
FDI tại Việt Nam từ năm 1987 đến nay

2. Cơ cấu và khu vực phân bổ FDI
14
Võ Thanh Thu, Ngô Thị Ngọc Huyền, Nguyễn Cương: Kỹ thuật đầu tư trực tiếp nước
ngoài, NXB Thống Kê, 05/2004, tr 114

23
Chuyên đề tốt nghiệp
Suốt giai đoạn 1988-2007, cơ cấu và khu vực phân bổ FDI đã trải
qua rất nhiều thăng trầm. Từ năm 1991 đến 1995, vốn thực hiện đạt 6,5 tỷ
USD và đã tăng gấp 2 lần trong giai đoạn 1996-2000. Cho đến giai đoạn
2001-2005, vốn thực hiện đạt 14,3% tỷ USD, tăng 7% so với giai đoạn trước
đó và tăng 30% so với mục tiêu định hướng đạt được là 11 tỷ USD.

Như vậy
vốn thực hiện có xu hướng nhưng tốc độ chậm trong khi vốn đăng ký và số
dự án mới biến động.
0
5000000000
10000000000
15000000000
20000000000
25000000000
30000000000
1988-
1990
1991-
1995
1996-
2000
2001-

tổng vốn đầu tư cung như đầu tư thực hiện tập trung chủ yếu trong các dự án
thuộc ngành công nghiệp và xây dựng, chiếm khoảng 62% tổng vốn đầu tư và
chiếm tới 69% vốn thực hiện với 5,819 dự án đầu tư.Tiếp đến là ngành dịch
vụ với 21% tổng số dự án với hơn 29 tỷ USD tổng vốn
Cơ cấu đầu tư thực hiệ n theo ngàn h
C«ng
nghiÖp vµ
x©y dùng
N«ng l©m
nghiÖp
DÞch vô
đầu tư và hơn 7 tỷ USD đầu tư cho việc thực hiện dự án. Ngành nông lâm
nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng thấp nhất trong các dự án FDI, có khoảng 929 dự
án với hơn 2 tỷ USD đầu tư thực hiện.
Nếu như trong giai đoạn 1990-2000, nguồn vốn FDI thường tập trung
vào những ngành công nghiệp khai khoáng và thay thế hàng nhập khẩu thì bắt
đầu từ năm 2000, các dự án FDI đã chuyển hướng sang các ngành như công
nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ (gần 5000 dự án cho cả hai ngành đến hết
năm 2007). Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ cũng gia tăng qua các thời kỳ. Trong
5 năm 2001 -2005, lĩnh vực dịch vụ đã chiếm 21% tổng vốn ĐTNN đăng ký
và gần 13% vốn thực hiện.
15
Nguồn Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết 31/12/2007.

25

Trích đoạn Rủi ro từ mụi trường kinh tế. Rủi ro từ nhà đầu tư và cỏc chủ thể khỏc. Rủi ro từ việc cung cấp cơ sở hạ tầng ở cỏc khu cụng nghiệp và khu chế xuất làm mất cơ hội kinh doanh Thực trạng cấp phộp cỏc dự ỏn FDI ở Việt Nam và cỏc nguyờn nhõn. Một số đỏnh giỏ nguyờn nhõn rủi ro từ phớa cỏc nhà đầu tư.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status