Phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 78

-1-
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của hội nhập kinh tế và xu hướng toàn
cầu hoá diễn ra rộng khắp. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố của quá
trình tái sản xuất hàng hoá và dòch vụ được dòch chuyển tự do hơn từ nước này
sang nước khác, thông qua các cam kết mở cửa thò trường.
Quá trình toàn cầu hóa là quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có sự
xung đột lợi ích giữa các nước, các nhóm nước và là một quá trình vừa hợp tác
vừa đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới hợp lý hơn, công bằng
hơn. Khi gia nhập vào các tổ chức thương mại trong khu vực và trên thế giới,
mỗi quốc gia đều có những mục đích riêng, nhưng nhìn chung thì các nước đều
muốn hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh, hiện đại, đời
sống xã hội được cải thiện. Do đó toàn cầu hoá vẫn tiến về phía trước, như một
tất yếu khách quan. Từ thực tế này, một câu hỏi được đặt ra trong chính sách
thương mại và đầu tư của mỗi quốc gia là tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá
hay đứng ngoài tiến trình ấy? Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, tiến cùng
thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất nhiều. Không tham gia
vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bò phân biệt đối xử trong tiếp
cận thò trường về hàng hoá, dòch vụ và đầu tư.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều lónh vực
như : trao đổi hàng hóa, dòch vụ, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và
khu vực, lưu chuyển vốn quốc tế,… tạo điều kiện cho các quốc gia có thể hợp tác,
trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật công nghệ,… trong hoạt động kinh doanh.
Việt Nam đã có những chủ động và đang từng bước tham gia vào quá
trình hội nhập quốc tế. Trong lónh vực ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ
-2-
tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam,
tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm về vốn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ,
hoạch đònh chính sách tiền tệ,… Từ đó có giải pháp phòng ngừa hoặc giảm thiểu
rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao uy tín kinh doanh trên thò trường

về chất lượng dòch vụ thật sự vẫn chưa đáp ứng được những nhu cầu ngày càng
cao của xã hội. Việc chính thức gia nhập WTO đã đưa ngành ngân hàng thương
mại Việt Nam vào tình trạng cạnh tranh khốc liệt với các ngân hàng nước ngoài
khi các ngân hàng thương mại trong nước chưa đủ sức để cạnh tranh như về qui
mô vốn, trình độ quản lý, hệ thống công nghệ thông tin, sự hiểu biết các nghiệp
vụ của một ngân hàng hiện đại trên thế giới….
Vấn đề trọng tâm mà Luận văn muốn đề cập là làm thế nào để phát triển
các dòch vụ để ngân hàng thương mại Việt Nam có thể nâng cao năng lực cạnh
tranh cho hệ thống ngân hàng trong thời kỳ Việt Nam hội nhập quốc tế. Nghiên
cứu thực trạng hệ thống dòch vụ ngân hàng thương mại trong nước và hệ thống
dòch vụ ngân hàng nước ngoài để từ đó có thể đưa ra được những đònh hướng và
giải pháp thích hợp nhằm phát triển dòch vụ ngân hàng thương mại trong nước về
số lượng cũng như chất lượng trong những năm tiếp theo.
3. Mục đích nghiên cứu
Việt Nam có hơn 86 triệu dân và những người có thể tiếp cận với dòch vụ
ngân hàng rất ít. Nhưng số lượng ngân hàng đang họat động và tiềm năng thực
sự nhưng chưa được sử dụng hết. hầu hết các ngân hàng quy mô còn nhỏ, dòch
vụ còn thô sơ. Ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia hội nhập trong bối
cảnh trình độ phát triển kinh tế và công nghệ thấp, đặc biệt các dòch vụ ngân
hàng còn hết sức nghèo nàn, chưa đa dạng, phong phú, chủ yếu là các dòch vụ
-4-
mang tính truyền thống ( huy động vốn và cho vay ), chất lượng dòch vụ thấp,
mức độ phổ biến của dòch vụ không cao, đối tượng sử dụng dòch vụ còn phân
tán. Trong hoạt động ngân hàng, xu thế mở rộng dòch vụ ngân hàng hiện đại đã
và đang là mục tiêu phấn đấu, là lónh vực cạnh tranh hiệu quả giữa các ngân
hàng.
Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là sự đa dạng của
các loại hình dòch vụ (chiếm hơn 50% trên tổng thu nhập) thì thu nhập từ hoạt
động cấp tín dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các ngân hàng thương mại Việt
Nam. So sánh dòch vụ hiện có của các ngân hàng thương mại Việt Nam và dòch

số lượng, nên không thể giới hạn hay nêu cụ thể tất cả các dòch vụ mà ngân
hàng thương mại Việt Nam cần phải thực hiện bởi môi trường hoạt động, năng
Dòch vụ ngân hàng là gì và vì sao phải phát
triển dòch vụ ngân hàng khi nền kinh tế
Việt Nam hội nhập quốc tế
Thực trạng của hệ thống dòch vụ ngân hàng
Việt Nam khi so sánh với các nước phát
triển và tìm hiểu nguyên nhân của nó

Đònh hướng để phát triển dòch vụ
ngân hàng và các giải pháp cụ thể
-6-
lực hoạt động của mỗi ngân hàng là khác nhau. Đề tài nghiên cứu cần hướng
đến là làm thế nào để dòch vụ ngân hàng ngày càng trở nên đa năng và hiện đại
trong thời kỳ Việt Nam hội nhập nền kinh tế quốc tế.
7. Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1 – Tổng quan về dòch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Chương 2 – Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam một năm sau gia nhập
WTO.
- Chương 3 – Các khuynh hướng ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và đề xuất
giải pháp phát triển các dòch vụ của ngân hàng thương mại Việt Nam.
-7-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1. Ngân hàng thương mại :
1.1.1 Khái niệm
Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941 đã đònh nghóa : “ Ngân
hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc
của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng

Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có một khái niệm nào được nêu cụ thể về
dòch vụ ngân hàng. Có không ít quan niệm cho rằng dòch vụ ngân hàng không
thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo
chức năng của một trung gian tài chính ( huy động tiền gởi, cho vay…), chỉ
những hoạt động ngân hàng không thuộc nội dung trên mới gọi là dòch vụ ngân
hàng như dòch vụ chuyển tiền, thu hộ ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh
chứng khoán … Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động của ngân hàng phục
vụ cho khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp đều gọi là dòch vụ ngân hàng.
Ngay cả Hệ thống tài khoản kế toán của ngân hàng hiện nay cũng đã có
sự phân biệt dòch vụ ngân hàng không có hoạt động từ tín dụng và các ngân
hàng thương mại khi công bố thông tin về tỷ lệ thu dòch vụ trên tổng thu nhập
cũng đã bao hàm thu dòch vụ không có thu nhập từ tín dụng. Đối với hoạt động
huy động vốn và cho vay, các ngân hàng thường tránh né sử dụng thuật ngữ
“dòch vụ” mà thay vào đó là cụm từ “sản phẩm”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành, dòch vụ ngân hàng cũng không được đònh nghóa và giải thích cụ thể. Tại
khoản 1 và khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân
-9-
hàng bao hàm cả ba nội dung: nhận tiền gởi, cấp tín dụng và cung ứng dòch vụ
thanh toán, nhưng đâu là kinh doanh tiền tệ và đâu là dòch vụ ngân hàng thì vẫn
chưa được phân đònh rõ ràng.
Như vậy, dòch vụ ngân hàng sẽ được hiểu theo hai nghóa: nghóa rộng và
nghóa hẹp.
Theo nghóa rộng, lónh vực dòch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ,
tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là
doanh nghiệp và cá nhân ( nhưng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của
các tổ chức tín dụng ). Quan niệm này được sử dụng để xem xét lónh vực dòch vụ
ngân hàng trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm
này phù hợp với cách phân ngành dòch vụ ngân hàng trong dòch vụ tài chính của
WTO và của Hiệp đònh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như của nhiều

- Tham dự vào tất cả các vấn đề liên quan đến chứng khoán, bao gồm nhận
bảo lãnh và đầu tư như một đại lý và cung cấp các dòch vụ có liên quan
- Môi giới tiền tệ
- Quản lý tài sản
- Các dòch vụ thanh toán đối với tài sản chính
- Các dòch vụ tư vấn và phụ trợ khác
- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và
phần mềm liên quan được cung cấp bởi các nhà cung ứng dòch vụ tài chính khác.
Hiệp đònh thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp đònh khung ASEAN về
dòch vụ ( AFAS ) đã được ký kết cũng hiểu và phân loại dòch vụ tài chính ( trong
đó có dòch vụ ngân hàng ) tương tự như WTO.
Tóm lại, dòch vụ ngân hàng là một bộ phận của dòch vụ tài chính và cần
phải được hiểu theo nghóa rộng như Luận văn đã đề cập ở phần trên.
-11-
1.2.1.3 Phân biệt nghiệp vụ ngân hàng và dòch vụ ngân hàng
Nghiệp vụ ngân hàng là các công việc chuyên môn mà cán bộ, công nhân
viên chức ngành ngân hàng phải thực hiện trong quá trình tác nghiệp. Dòch vụ
ngân hàng là các công việc ngân hàng phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất
đònh của các cá nhân, tổ chức và được thu phí.
1.2.2 Các loại dòch vụ ngân hàng
Dòch vụ ngân hàng là một bộ phận của dòch vụ tài chính nên dòch vụ ngân
hàng rất đa dạng. Với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, dòch vụ ngân hàng
ngày càng phát triển kể cả về mặt lượng và chất, nên không thể thống kê hết
toàn bộ các dòch vụ ngân hàng. Mặt khác việc áp dụng từng loại dòch vụ ngân
hàng còn tuỳ thuộc vào năng lực, quy mô… của từng ngân hàng khác nhau và tập
quán, thói quen, cách sống, thu nhập của người dân nhưng cơ bản dòch vụ ngân
hàng bao gồm những loại dòch vụ như huy động tiền gởi, cấp tín dụng, dòch vụ
thanh toán và ngân quỹ và các dòch vụ khác.
1.2.2.1 Dòch vụ truyền thống của ngân hàng
a/- Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lòch sử cho thấy rằng một trong những dòch

thực hiện.
e/- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào
những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với
khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ
Âu – Mỹ. Thông thường, ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện
là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất đònh trên tổng lượng
tiền gửi mà ngân hàng huy động được. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ
Mỹ vay trong thời kỳ chiến tranh. Ngân hàng Bank of North America được Quốc
-13-
hội cho phép thành lập năm 1781, ngân hàng này được thành lập để tài trợ cho
cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia có
chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ
thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu
bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục vụ chiến tranh.
f/- Cung cấp các tài khoản giao dòch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu
Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dòch vụ ngân hàng
mới. Một dòch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài
khoản tiền gửi giao dòch ( demand deposit ) – một tài khoản tiền gửi cho phép
người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dòch vụ. Việc đưa
ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan
trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của
quá trình thanh toán, làm cho các giao dòch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn,
nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
g/- Cung cấp dòch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện
việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp
thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trò của tài sản hay quy
mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dòch vụ ủy thác ( trust
service ). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dòch vụ ủy thác thông
thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản

ngày nay cung cấp nhiều dòch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bò về thuế
và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thò trường trong
nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.
-15-
c/- Quản lý tiền mặt. Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một
số dòch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng.
Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dòch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân
hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành
đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng
ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dòch vụ
quản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng về
việc cung cấp các dòch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dó khuynh hướng này
đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính
khác cũng cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dòch vụ tài
chính liên quan. Một ví dụ là tài khoản quản lý tièn mặt của Merrill Lynch, cho
phép khách hàng của nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều
q tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín dụng cho khoản vay tức thời.
d/- Dòch vụ thuê mua thiết bò. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng
kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bò, máy móc cần thiết thông qua hợp
đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bò và cho khách hàng thuê. Ban
đầu các qui đònh yêu cầu khách hàng sử dụng dòch vụ thuê mua thiết bò phải trả
tiền thuê ( mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bò ) đồng thời phải
chòu chi phí sửa chữa và thuế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép
ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê
mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì
bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu
hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.
e/- Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong
việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công

h/- Cung cấp các dòch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thò trường tài
chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “ bách hóa tài
chính ” thực sự, cung cấp đủ các dòch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa
mãn mọi nhu cầu tại một đòa điểm. Đây là một trong những lý do chính khiến
các ngân hàng bắt đầu bán các dòch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho
khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không
phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các
ngân hàng mua lại một công ty môi giới đang hoạt động ( ví dụ Bank of America
mua Robertson Stephens Co.) hoặc thành lập các liên doanh với một công ty môi
giới.
i/- Cung cấp dòch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài
khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng
tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư ( investment products ) đặc biệt là
các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp
triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một
khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất đònh trong
tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu ). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các
chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua
cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ ( ví dụ:
Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trò vốn ). Trong khi quá trình phát
triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do những vụ kiện tụng bởi các
đối thủ cạnh tranh chống lại sự mở rộng của ngân hàng sang lónh vực dòch vụ
mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng quản lý chiếm 15%
tổng giá trò tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90 của thế kỷ trước. Một
vài ngân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ này
( ví dụ: Citicorp’s Investment Services ) hoặc liên doanh với các nhà kinh doanh
và môi giới chứng khoán. Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương hỗ
-18-
của ngân hàng đã có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước,
do những qui đònh nghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm

10% vốn cổ phần vào một công ty. Một sự nới lỏng hơn nữa trong lónh vực kinh
doanh chứng khoán và như vậy, ngân hàng có thể cung cấp toàn bộ dòch vụ tài
trợ và tư vấn quản lý đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Một ví vụ gần
đây là sự kiện ngân hàng NationBank mua Mortgetary Security Inc., Bank
America mua công ty Robertson Stephens và ngân hàng Banker Trust of New
York mua công ty Alex Brao.
Tổng hợp tất cả các dòch vụ ngân hàng, rõ ràng là không phải tất cả mọi
ngân hàng đều cung cấp nhiều dòch vụ tài chính như danh mục dòch vụ mà chúng
tôi đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dòch vụ ngân hàng đang tăng lên
nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát
triển, các loại dòch vụ mới như giao dòch qua Internet và thẻ thông minh
( Smart ) đang được mở rộng và các dòch vụ mới ( như bảo hiểm và kinh doanh
chứng khoán ) được tung ra hàng năm. Nhìn chung, dạnh mục các dòch vụ đầy ấn
tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn hơn cho khách hàng.
Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dòch vụ tài chính của
mình thông qua một ngân hàng và tại một đòa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở
thành
“ bách hóa tài chính ” ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dòch vụ
ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu
hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là
Allginanz ở Đức, và là Bancassurance ở Pháp.
-20-
1.3 Tác động của quá trình toàn
cầu hóa đến họat động và phát
triển các dòch vụ của ngân hàng
thương mại Việt Nam
1.3.1 Hội nhập Quốc tế
1.3.1.1 Gia nhập WTO
Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam không chỉ liên quan đến lónh vực
kinh tế đối ngoại mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và

lực, các ngân hàng Hoa Kỳ được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn Hoa
Kỳ tại Việt Nam và hầu hết các hạn chế về hoạt động sẽ được bãi bỏ . Với trình
độ công nghệ thông tin và truyền thống hoạt động có uy tín trên toàn thế giới sẽ
cho phép các ngân hàng Hoa Kỳ chiếm ưu thế hơn so với các ngân hàng Việt
Nam trong việc cung cấp thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính của
các nhà cung cấp dòch vụ tài chính khác.
Đối với dòch vụ ngân hàng:. Việt Nam đồng ý thực hiện các biện pháp tự
do như sau: Trong vòng 9 năm kể từ khi Hiệp đònh có hiệu lực, các ngân hàng
của Mỹ được phép thành lập liên doanh với các đối tác Việt nam, trong đó phần
vốn góp của Hoa Kỳ từ 30% đến 49% vốn pháp đònh của liên doanh. Sau 9 năm,
được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư của Hoa Kỳ.
1.3.1.3 Hiệp đònh khung ASEAN về dòch vụ
-22-
Hiệp đònh khung của ASEAN về dòch vụ ( AFAS ) được xây dựng vào năm 1995.
Việt Nam gia nhập ASEAN vào tháng 7 năm 1995. Các nước ASEAN là thành
viên của WTO ( trong đó có Việt Nam ) cam kết thực hiện các yêu cầu như:
- Xây dựng môi trường pháp lý về ngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Không hạn chế số lượng nhà cung cấp dòch vụ ngân hàng.
- Không hạn chế về tổng giá trò các giao dòch về dòch vụ ngân hàng.
- Không hạn chế về tổng các hoạt động tác nghiệp hay tổng số lượng dòch vụ
ngân hàng.
- Không hạn chế về tổng số người được tuyển dụng của các tổ chức tài chính
nước ngoài.
- Không có các biện pháp hạn chế hay yêu cầu phải mang một hình thức
pháp nhân nào cụ thể.
- Không hạn chế việc tham gia góp vốn của bên nước ngoài dưới hình thức tỷ
lệ phần trăm tối đa số cổ phiếu nước ngoài được nắm giữ theo nguyên tắc thoả
thuận.
Các thành viên mới như Việt Nam được phép có thêm thời gian để đạt
được các cam kết chung trong hiệp đònh. Đối với Việt Nam, thời gian miễn trừ

triển và sử dụng nguồn lực tiềm năng và tạo ra các cơ hội tăng trưởng từ sự
chuyên môn hoá, mà nếu không hội nhập sẽ không được khai thác sử dụng.
1.3.2.2 Tác động của hội nhập quốc tế trong lónh vực ngân hàng
Đối với ngành ngân hàng, hội nhập quốc tế mở ra nhiều cơ hội để trao
đổi, hợp tác quốc tế trong lónh vực ngân hàng như hoạch đònh chính sách tiền tệ,
đề ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro, qua đó nâng cao uy tín và vò thế của hệ
thống ngân hàng Việt Nam trong các giao dòch tài chính quốc tế.
-24-
Ngành ngân hàng Việt Nam có nhiều điều kiện để tranh thủ vốn, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, có khả năng
theo kòp yêu cầu phát triển thò trường tài chính trong nước và nước ngoài.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam bắt buộc phải chuyên môn hóa sâu
hơn các nghiệp vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhanh chóng tiếp
cận và phát triển dòch vụ ngân hàng hiện đại.
Trong quá trình hội nhập, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng chòu
tác động mạnh từ thò trường tài chính quốc tế trong khi phải thực hiện nhiều
nghóa vụ và các cam kết quốc tế, chính điều này đặt ra cho các ngân hàng
thương mại Việt Nam nhiều thách thức:
Thứ nhất, các ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng chòu áp lực
trong việc giữ và mở rộng thò phần của mình ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện
nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam phải chòu áp lực cạnh tranh không chỉ
bởi các ngân hàng nước ngoài mà còn phải chòu áp lực cạnh tranh với các tổ
chức tài chính trung gian khác và đònh chế tài chính khác như thò trường chứng
khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm. Ngoài ra, việc phải loại bỏ dần những hạn
chế đối với ngân hàng nước ngoài có nghóa là các ngân hàng nước ngoài sẽ từng
bước tham gia đầy đủ vào mọi lónh vực hoạt động ngân hàng tại Việt Nam.
Thứ hai, cạnh tranh trong việc huy động vốn ngày càng gay gắt. Thực
hiện hội nhập đòi hỏi chúng ta phải thực hiện lộ trình cởi bỏ những hạn chế đối
với các ngân hàng nước ngoài trong việc huy động vốn. Ngày 16.9.2004, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh tỷ lệ huy động vốn tiền gởi VNĐ đối với

chung về Thương mại dòch vụ của Tổ chức thương mại thế giới ( WTO – GATS),
Việt Nam cam kết nới lỏng các hạn chế đối với hoạt động của các ngân hàng
nước ngoài. Chẳng hạn như, trong Hiệp đònh thương mại Việt - Mỹ cho phép


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status