Phát triển dịch vụ thanh toán sử dụng thẻ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Chữ viết
tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
ATM Automatic Teller Machine Máy rút tiền tự động
CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
CSCNT Cơ sở chấp nhận thẻ
ĐVCNT Đơn vị chấp nhận thẻ
EAB Ngân hàng Đông Á
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product tổng sản phẩm nội địa
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
KD Kinh doanh
L/C Letter of credit Thư tín dụng
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
NHNo&
PTNT Agribank
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
SWIFT
Society for Worldwide Interbank
Financial Telecommunication
Mạng viễn thông tài chính liên ngân hàng
quốc tế
TW Trung ương
USD United States dollar Đôla Mỹ
VND Việt Nam Đồng
WB World Bank Ngân hàng thế giới

Bảng 2.5: Tình hình thanh toán thẻ quốc tế của Sở giao dịch
Bảng 2.6: Tình hình hoạt động kinh doanh thẻ NHNo&PTNT năm 2006
Bảng 2.7: Mức phí thường niên của thẻ tín dụng tại một số ngân hàng
Hộp
Hộp 2.1: Thẻ ATM làm giả trong một phút
Hộp 2.2: Khách hàng tá hỏa vì máy ATM Vietcombank “nuốt” 2 triệu đồng.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Thẻ ngân hàng là sản phẩm của công nghệ hiện đại, đã và đang ngày một trở nên
phổ biến trên thế giới. Cùng với các phương tiện khác, thẻ giúp hạn chế lượng tiền mặt
lưu thông, thu hút tiền gửi của dân cư vào ngân hàng, tạo điều kiện sử dụng các dịch vụ
ngân hàng … Hoạt động thẻ của các Ngân hàng phát triển đã mang đến cho những Ngân
hàng này một vị thế mới, một diện mạo mới. Ngoài việc xây dựng được hình ảnh thân
thiện với từng khách hàng cá nhân, việc triển khai dịch vụ thẻ thành công cũng khẳng
định sự tiên tiến về công nghệ của một Ngân hàng. Các sản phẩm dịch vụ thẻ với tính
chuẩn hóa quốc tế cao còn là những sản phẩm dịch vụ có khả năng cạnh tranh trong quá
trình hội nhập. Chính vì vậy dịch vụ thẻ đã và đang đợc các NHTM nhìn nhận là một lợi
thế cạnh tranh hết sức quan trọng trong cuộc đua nhắm tới thị trường Ngân hàng bán lẻ.
Từ năm 1993, thị trường thẻ ngân hàng Việt Nam mới xuất hiện những sản phẩm
thẻ đầu tiên do Vietcombank phát hành. Đến nay, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển
vượt bậc của thị trường thẻ Việt Nam với hơn 20 NHTM phát hành Thẻ nội địa, trong đó
có 8 NHTM phát hành Thẻ Quốc tế. Thị trường thẻ tại Việt Nam đã phát triển rất mạnh
mẽ và đạt được những thành quả đáng kể, đã góp phần thúc đẩy phát triển thương mại,
dịch vụ và du lịch quốc tế và cho thấy sự đổi mới đáng ghi nhận của hệ thống NHTM Việt
Nam trước xu thế mở cửa thị trường tài chính, nâng cao sức mạnh cạnh tranh, hội nhập
quốc tế.
Khi gia nhập WTO Việt Nam sẽ có điều kiện để thu hút đầu tư nhiều hơn, các
ngành dịch vụ như du lịch, thương mại sẽ tăng doanh thu, hoạt động thẻ vốn gắn liền với

5. Phương pháp nghiên cứu.
Chuyên đề vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, đề tài gồm
có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về dịch vụ thanh toán sử dụng thẻ tại ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng cung ứng dịch vụ sử dụng thẻ thanh toán tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam.
Chương 3: Triển vọng và giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán sử dụng thẻ tại
các NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
CHƯƠNG 1
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán tiền tệ là sự cần thiết khách quan, có vai trò quan trọng trong quá trình
sản xuất của nền kinh tế hàng hoá. Một nền kinh tế hàng hoá gắn luôn gắn liền với quá
trình thanh toán và chu chuyển tiền tệ. Kinh tế hàng hoá càng phát triển thì thanh toán và
chu chuyển tiền tệ càng mở rộng và phát triển để có thể phục vụ đắc lực cho lưu thông
hàng hoá.
Một thời gian dài trước đây, khi trình độ thấp của lực lượng sản xuất còn thấp và
hoạt động sản xuất hàng hóa chưa phát triển cao như hiện nay, việc trao đổi hàng hàng
hoá chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp và lúc này thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt tỏ ra hiệu
quả, linh hoạt, góp phần thúc đẩy quan hệ giao dịch giữa các bên được diễn ra nhanh
chóng, thuận tiện và ngày càng phát triển.
Hiện nay, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ cao hơn, nền kinh tế

trong lưu thông, đảm bảo thanh toán an toàn, giảm chi phí xã hội trong việc in đúc tiền,
kiểm đếm, đóng gói, bảo quản, bảo vệ, vận chuyển, tiêu huỷ tiền không đủ tiêu chuẩn lưu
thông, tiết kiệm lao động xã hội và giảm các hiện tượng tiêu cực như tiền giả, mất cắp,
tham ô ….Đảm bảo an toàn tài sản.
Khả năng lựa chọn các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho
phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả. Điều này góp phần tăng
nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản
xuất xã hội.
Thêm nữa, việc cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng
làm tăng uy tín cho ngân hàng và tạo điều kiện thu hút nguồn tiền gửi.
Để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng phải mở tài khoản tại
ngân hàng. Việc làm này tạo cơ hội cho ngân hàng tập trung nguồn vốn nhàn rỗi, mở rộng
hoạt động tín dụng và đầu tư vì trong tài khoản của khách hàng phải có số dư để đảm bảo
nhu cầu thanh toán. Số dư của tài khoản lớn trong khi lãi suất tiền gửi là thấp và việc
thanh toán không phả thường xuyên cùng lúc. Do đó, ngân hàng dùng tiền này để cho vay,
đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế và thu lợi nhuận.
Đối với các chủ thể trong nền kinh tế thì qua vài trò trung gian thanh toán của ngân
hàng, họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau. Nhờ vậy mà giảm lượng công việc liên
quan đến quản lý thanh toán, tập trung vào những việc khác.
Ngân hàng trung ương và chính phủ dễ kiểm soát lượng tiền trong lưu thông, nắm
bắt các tín hiệu của thị trường, phục vụ quản lý vĩ mô, kiềm chế lạm phát, thực hiện chính
sách tiền tệ, thanh toán quốc gia. Vai trò này chỉ phát huy hiệu lực khi các giao dịch thanh
toán được thực hiện qua ngân hàng.
1.1.3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khá phổ biến hiện nay gồm:
Internet Banking, E-banking, Home Banking, Phone Banking, MobileBanking..., ATM,
thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, séc, chuyển tiền điện tử, nhờ thu, ủy nhiệm chi, thanh toán
qua tài khoản cá nhân, thanh toán online, Master Card, Visa Card, Amex Card... Các hình
thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam mới dừng lại chủ yếu là séc, ủy nhiệm
thu, chi, thư tín dụng và thẻ thanh toán, thanh toán điện tử…

Năm 1949, Frank Mc. Namara, một thương nhân Mỹ, khi ăn tối tại nhà hàng đã
phát hiện mình quên mang tiền mặt để thanh toán. Tình huống đó đã khiến ông tìm ra một
phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Mc Namara lần đầu tiên cho ra đời loại thẻ
Diners Club. Diners Club là loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành. Năm
1993, tổng doanh số khoảng 7.9 tỉ USD với khoảng 1.5 triệu thẻ lưu hành.
1.2.1.2. Sự phát triển của thẻ Ngân hàng trên thế giới
Vài năm sau sự ra đời của những loại thẻ thanh toán trên hàng loạt loại thẻ mới đã
được đưa ra như Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club, Carde Blanche,
American Express.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Năm 1958, tổ chức American Express phát hành thẻ Green Amex, không có hạn
mức tín dụng, chủ thẻ được tiêu tiền và có trách nhiệm trả tiền vào cuối tháng. Năm 1987,
Amex cho ra đời thêm 3 loại thẻ là Amex Gold, Amex Platinum và Optima có hạn mức tín
dụng tuần hoàn. Đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới, trực tiếp phát hành
và quản lý thẻ, không cấp giáy phép để trở thành thành viên cho các tổ chức khác. Năm
1993, tổng doanh thu khoảng 124 tỉ USD với 35.4 triệu thẻ lưu hành và 36 triệu CSCNT.
Năm 1960, Bank of America giới thiệu thẻ Bank Americard, dạng sơ khai của thẻ
Visa, được đổi tên thành thẻ Visa vào năm 1977. Tổ chức thẻ Visa quốc tế hình thành và
phát triển, không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên khiến cho Visa có
thể mở rộng thị trường. Đến nay, Visa có quy mô lớn nhất thế giới với hơn 22000 thành
viên ở 200 quốc gia.
Cùng với Hoa Kỳ, các nước kinh tế phát triển ở châu Âu, ở châu Á, đặc biệt là ở
Nhật Bản, thẻ Ngân hàng bắt đầu được sử dụng ngày một rộng rãi và chất lượng phát triển
rất cao nhờ sự phát triển công nghệ kỹ thuật số. Năm 1961, JCB hình thành bởi ngân hàng
Sanwa của Nhật, bắt đầu phát triển thành cơ sở quốc tế vào năm 1981. Hiện nay thẻ JCB
được tiêu thụ trên 109 quốc gia với mục tiêu hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang
trở thành loại thẻ cạnh tranh với Amex.
Năm 1966, để cạnh tranh với Bank of America – 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành
Hiệp hội thẻ liên ngân hàng ICA và thẻ Master Charge ra đời, sau này đổi thành Master

- Biểu tượng: mỗi loại thẻ có một loại biểu tượng riêng, mang tính chất đặc trưng của tổ
chức phát hành thẻ và được xem như là thương hiệu và là yếu tố an ninh chống lại sự
giả mạo. Nhãn hiệu thương mại của thẻ như Visa, Amex, Mastercard, Diners Club
- Số thẻ: dành riêng cho mỗi chủ thẻ và được dập nổi trên mặt thẻ; số này sẽ được in lại
trên hóa đơn khi chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán.
- Thời gian hiệu lực của thẻ: là thời gian thẻ được phép lưu hành.
- Họ tên người sở hữu: tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân hoặc tên của người được ủy
quyền sử dụng nếu là thẻ công ty đều được in nổi trên thẻ, ngoài ra có một số thẻ còn
có thể in cả ảnh của chủ thẻ.
- Ký tự an ninh: là số mật mã đợt phát hành, in phía sau ngày hiệu lực.
• Mặt sau thẻ gồm:
- Dải băng từ: màu nâu đen chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống
nhất như: số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác. Riêng thẻ thông minh
có một con chip vi mạch lưu trữ các thông tin về chủ thẻ.
- Băng chữ kí dành cho chủ thẻ: trên dải băng này có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp
nhận thẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán.
1.2.2.3. Phân loại thẻ
Hiện nay trên thị trường, thẻ ngân hàng lưu hành rất đa dạng và phong phú, để
phân loại thẻ có thể dựa trên nhiều tiêu thức. Tuy nhiên việc phân loại chỉ mang tính
tương đối.
Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ Ngân hàng
10
Tính chất
Thẻ ghi nợ
Thẻ tín dụng
Thẻ trả trước
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
a. Theo tính chất thanh toán của thẻ
 Thẻ ghi nợ - Debit Card
Đây là loại thẻ phát hành dựa trên tài khoản ký quỹ, tài khoản thẻ hay tài khoản

Thẻ băng từ
Thẻ chip
Thẻ thường
Thẻ vàng
Thẻ nội địa
Thẻ quốc tế
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
 Thẻ trả trước - Prepaid Card
Đây là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không cần phải thực
hiện các thủ tục phát hành thẻ theo yêu cầu của ngân hàng như điền vào yêu cầu phát hành
thẻ chứng minh tài chính, … họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng
bán cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương.
Đặc tính của loại thẻ này giống như mọi thẻ bình thường khác, chỉ có điều thẻ này
chỉ được giới hạn trong số tiền có trong thẻ và chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất
định tuỳ vào quy định của mỗi ngân hàng, tức là hạn mức thẻ không có tính chất tuần
hoàn.
 Thẻ tín dụng - Credit Card
Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ được sử dụng một hạn
mức tín dụng quy định không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kì
hạn) để mua sắm hàng hoá dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này.
Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép người
sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để
thanh toán hàng hoá, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ
thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau. Thời gian này chủ thẻ hoàn
toàn được miễn lãi đối với số tiền phát sinh. Nếu hết thời gian miễn lãi này mà toàn bộ số
tiền phát sinh chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ chịu những khoản phí và
lãi chậm trả. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của
chủ thẻ được khôi phục lại như ban đầu. Đây còn gọi là tính chất “tuần hoàn” của thẻ tín
dụng.
Một số loại thẻ tín dụng phổ biến là:

 Thẻ thông minh – Smart Card (thẻ điện tử có bộ vi xử lý Chip)
Là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, dựa trên kĩ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn
vào thẻ “chip” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều
nhóm với dung lượng của “chip” điện tử khác nhau.
Một tấm thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ.
So với các loại thẻ từ hiện nay, khả năng kết nối với máy tính của loại chip này cho phép
thẻ thông minh thực hiện được nhiều lựa chọn thanh toán và dịch vụ với độ an toàn cao
hơn, thuận tiện và nhiều lựa chọn hơn. Thẻ thông minh có thể lưu trữ các thông tin quan
trọng, được mã hoá với độ bảo mật cao hơn các loại thẻ từ.
Trong thanh toán, thẻ thông minh có thể kết hợp đa chức năng và ứng dụng từ các
ngành khách nhau như khả năng tính điểm ưu đãi cho khách hàng quen thuộc, nhận dạng,
truyền dẫn hay thông tin sức khoẻ. Thẻ thông minh cũng cho phép ứng dụng các sản
phẩm, tính năng và ứng dụng hiện đại vào các lĩnh vực mới về khách hàng và thanh toán.
Loại thẻ này còn cho phép lưu trữ và trao đổi thông tin về chủ thẻ với độ bảo mật cao
trong thương mại điện tử và di động. Cũng có trường hợp thẻ thông minh có cả chip điện
tử và băng từ.
d. Theo hạn mức tín dụng
 Thẻ vàng – Gold Card
Là loại thẻ hạng ưu, phù hợp với mức sống và nhu cầu tài chính của khách hàng có
thu nhập cao, phục vụ cho thị trường cao cấp, phát hành cho các đối tượng có uy tín, có
khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu lớn. Thẻ có hạn mức tín dụng lón hơn
thẻ thường. Thẻ vàng (thẻ cao cấp, thẻ hạng nhất…) là một phát triển của thẻ tín dụng và
thanh toán. Loại thẻ này có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển
của mỗi nước nhưng đều có điểm chung là có hạn mức tín dụng cao.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
 Thẻ thường – Standard Card
Là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ thông đại chúng. Đây là một dạng thẻ
tín dụng phổ biến bởi hạn mức tín dụng thấp hơn, phù hợp với khách hàng có mức thu
nhập trung bình. Hạn mức tối thiểu tuỳ ngân hàng phát hành quy định.

14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Khiếu nại với ngân hàng nếu: thấy có sai sót hoặc nghi ngờ sai sót trong bảng kê các
giao dịch do ngân hàng lập và gửi định kì; CSCNTT thẻ từ chối thanh toán thẻ, tự ý
nâng giá hàng hoá dịch vụ hoặc thu thêm phí do thanh toán bằng thẻ.
- Các quyền khác theo hợp đồng.
 Nghĩa vụ:
- Cung cấp đầy đù và chinh xác các thông tin cần thiết theo yêu cầu của Ngân hàng phát
hành khi xin sử dụng thẻ và trong quá trình sử dụng thẻ.
- Thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng các khoản vay, lãi và phí phát sinh do
việc sử dụng thẻ theo quy định của ngân hàng.
- Chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ cùng chịu trách nhiệm chung và riêng trong việc thực
hiện các điều khoản của hợp đồng sử dụng thẻ.
- Các nghĩa vụ khác theo hợp đồng.
1.2.3.2. Ngân hàng phát hành thẻ – Issuing bank.
Ngân hàng phát hành thẻ là ngân hàng được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ
phát hành thẻ.
Với thẻ nội địa, NHPHT phài có năng lực tài chính, không vi phạm pháp luật, đảm
bảo hệ thống trang thiết bị phù hợp tiêu chuẩn an toàn cho hoạt động phát hành và thanh
toán thẻ, có đội ngũ cán bộ đủ năng lực chuyên môn để vận hành và quản lý.
Với thẻ quốc tế, NHPHT phải được NHNN cấp giấy phép hoạt động ngoại hối và
cho phép thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế.
 Trách nhiệm:
- Thẩm định tính năng pháp lý và khả năng tài chính khách hàng.
- Phát hành thẻ cho các khách hàng có kết quả thẩm định đạt yêu cầu.
- Tạo sao kê cho chủ thẻ và quyết toán với chủ thẻ.
- Yêu cầu NHTTT và CSCNT cung cấp thông tin và thực hiện các biện pháp cần thiết
nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động thanh toán thẻ.
 Nghĩa vụ:
- Tuân thủ các quy định về phát hành thẻ của tổ chức thẻ quốc tế và NHNN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status