THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THANH TOÁN SỬ DỤNG THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - Pdf 75

THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ THANH TOÁN SỬ DỤNG
THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Sự hình thành, phát triển của thị trường thẻ thanh toán tại Việt Nam
2.1.1. Môi trường kinh tế xã hội
Trong giai đoạn từ những năm 1990 trở lại đây tình hình kinh tế-xã hội nước ta
đã có những thay đổi vượt bậc. Những cải cách quan trọng và toàn diện về kinh tế đã
được Chính phủ tiến hành như:
- Chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
- Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, bao gồm việc tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường,
hoàn chỉnh hệ thống phát luật về đầu tư và kinh tế, đổi mới chính sách tài chính tiền
tệ… nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước, cải
cách hành chính Nhà nước.
- Củng cố và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm (%)
(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, 12/2007)
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đã thu được những thành tựu quan
trọng. Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ suy thoái và đạt mức tăng trưởng
liên tục, nhiều năm có tốc độ tăng cao và đạt đến đỉnh cao là 9,5% vào năm 1995. GDP
trong 10 năm từ 1991-2000 tăng bình quân 7.56% ; năm 2005 và 2006 tăng trưởng trên
8%/năm; trong năm 2007 vừa qua mức tăng trưởng đạt 8,44%, tỷ trọng xuất khẩu đạt
hơn 48 tỷ USD, thu hút đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục trên 20 tỷ USD, tỷ lệ hộ nghèo
giảm từ 19% xuống 14,87% và 1,68 triệu lao động được giải quyết việc làm.
Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội liên tục tăng qua các năm. Liên tục trong vòng 20
năm tăng trưởng GDP tăng bình quân 7% / năm. Đất nước đã chuyển mạnh sang nền
kinh tế thị trường và hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Chính phủ Việt Nam
đang hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Theo số liệu của IMF, tổng sản phẩm quốc
dân của Việt Nam tăng từ 45 tỷ USD năm 2004 lên hơn 60 tỷ USD năm 2006, kim
ngạch xuất khẩu trung bình hàng năm đạt 40 tỷ USD, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vượt trên 10 tỷ USD. Đến nay, đã có 76 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào

vào những quyết định do NHNN và tổ chức thẻ quốc tế ban hành.
Các quyết định của NHNN Việt Nam được ban hành liên quan đến hoạt động
thanh toán thẻ gồm:
Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt do Thống đốc NHNN ban hành cùng
quyết định số 22/QĐ-NH ngày 21/2/1994. Văn bản này quy định thẻ thanh toán nói
chung gồm 3 loại: thẻ ghi nợ, thẻ ký quỹ thanh toán và thẻ tín dụng. Tuy nhiên văn bản
này cũng tồn tại một số điểm không hợp lý là chưa xác định rõ rang sự khác biệt giữa
thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng. Điều này một phần là do việc thanh toán không dùng tiền
mặt ở nước ta trong khoảng thời gian đó còn khá mới mẻ cả với những nhà hoạch định
chính sách lẫn số đông dân chúng nên việc tồn tại những bất cập là điều không thể tránh
khỏi.
Năm 1999, NHNN ban hành Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân
hàng. Đây là một văn bản pháp lý với những quy định tương đối đầy đủ, cụ thể, với 7
chương và 29 điều quy định quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể hoạt động trên thị
trường thẻ tại Việt Nam. Trong Quy chế này, NHNN đã phân biệt cụ thể các loại sản
phẩm thẻ, trong đó chỉ rõ các loại thẻ như: thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ nội địa, thẻ
quốc tế…tất cả đều được gọi chung là Thẻ ngân hàng. Ngoải ra Quy chế cũng đã quy
định các vấn đề như: điều kiện phát hành thẻ, thời hạn sử dụng, phạm vi sử dụng của
thẻ…
Năm 2005, Luật giao dịch điện tử đã được Quốc hôi thông qua. Luật được ban
hành đã tạo điều kiện cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế xã hội và hoạt động thanh toán thẻ, tạo dựng một hành lang pháp lý đầy
đủ, rõ ràng cho các dịch vụ ngân hàng hiện đại phát triển.
Theo Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến
2020, NHNN đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg về trả
lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách; đồng thời, xây dựng
đề cương, kế hoạch chi tiết cho từng đề án thành phần do NHNN chủ trì và phối hợp
xây dựng các đề án thành phần do các bộ, ngành khác chủ trì. Nhìn chung, việc trả
lương qua tài khoản đối với cán bộ, công chức đã được triển khai mạnh mẽ tại một số

Việc tuân thủ theo các quy định quốc tế này một phần nhằm đảm bảo cho việc bảo vệ
uy tín của các tổ chức thẻ quốc tế, một phần khác sẽ giúp cho quá trình hội nhập quốc tế
của các ngân hàng Việt Nam diễn ra thuận lợi hơn.
2.1.3. Khái quát thực trạng hoạt động của dịch vụ thẻ thanh toán
2.1.3.1. Về số lượng thẻ được cung cấp
Ở Việt Nam hiện nay tuy thị trường dịch vụ thẻ thanh toán đã có những bước
tiến vượt bậc nhưng theo tính toán trên 90% chi tiêu tiêu dùng cá nhân vẫn được thanh
toán bằng tiền mặt. Theo các chuyên gia ngân hàng, thực trạng này là một nguyên nhân
quan trọng khiến thanh toán thẻ sau hơn 14 năm ra đời ở Việt Nam, vẫn chưa phát triển
hiệu quả như mong đợi.
Sau 5 năm Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đưa vào khai thác một loại hình
dịch vụ bán lẻ mới, đến 1996, một loạt các ngân hàng khác bắt đầu tham gia thị trường
bằng việc ký kết hợp đồng phát hành và thanh toán với các tổ chức thẻ quốc tế lớn như
Visa, MasterCard, American Express... Đến nay, đã có 10 ngân hàng là thành viên chính
thức của các tổ chức này, với số lượng phát hành lên tới 125.000 thẻ thanh toán quốc tế,
đạt tốc độ tăng trưởng 49% mỗi năm.Thẻ ghi nợ nội địa ra đời chậm hơn, vào năm
2002, nhưng tốc độ tăng trưởng cao hơn rất nhiều, trung bình trên 200%/năm. Do điều
kiện phát hành đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với thị trường Việt Nam, đến nay đã có
760.000 thẻ nội địa của 15 ngân hàng được phát hành.
Biểu đồ 2.2: Số lượng thẻ ATM qua các năm và dự tính đến năm 2020
(Nguồn: Tạp chi Ngân hàng, 2007)
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng thẻ thanh toán của các tổ chức phát hành thẻ trong nước
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2007)
Số lượng phát hành thẻ thanh toán quốc tế cũng như nội địa kể trên vẫn chưa
tương xứng với tiềm năng và quy mô của thị trường. Trong tổng số hơn 20 triệu dân cư
thành thị, 10 triệu người có thể trở thành đối tượng sử dụng tiềm năng các loại thẻ ghi
nợ trả trước. Song trên thực tế, số lượng 10.000 đơn vị chấp nhận thẻ cùng với gần 800
máy rút tiền tự động (ATM) còn quá ít để phục vụ các chủ thẻ người Việt Nam. Chưa
kể những điểm chấp nhận thẻ này chỉ tập trung tại các thành phố lớn hoặc các địa điểm
du lịch. Nhu cầu ngày một tăng cao, hạ tầng chưa đáp ứng kịp đã dẫn tới tình trạng một

Các ngân hàng không ngừng đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật cho hoạt động thẻ, tính
đến tháng 11/2007 bao gồm 4.280 ATM, 22.959 POS, so với 2.500 ATM và 14.000 POS
của năm 2006. Bên cạnh đó, nhằm chia sẻ cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động thẻ và
tạo thuận lợi cho người sử dụng, các công ty làm dịch vụ kết nối trung gian cũng ra đời
nhằm đón đầu xu thế thanh toán không dùng tiền mặt. Các liên minh thẻ hiện nay bao
gồm:
- Công ty Smartlink có 25 thành viên, với 2056 máy ATM (48%), 17.502 máy
POS/EDC (57%) và số lượng thẻ đã phát hành 4.721.946 thẻ (57%).
- Liên minh thẻ Đông Á có 5 thành viên tham gia đã phát hành 1.766.053 thẻ (21%),
với 783 máy ATM (18%), 1682 máy POS/EDC (57%)
- Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia Banknetvn với số lượng máy ATM
chiếm 62% (2654 máy), máy POS/EDC chiếm 46% (10.548) và đã phát hành
5.170.229 thẻ (chiếm 62%).
Các liên minh này đã phần nào kết nối hoạt động thẻ của các ngân hàng lại với
nhau. Tuy nhiên có một thực tế là tại các điểm đặt máy ATM thường có 2 thậm chí 3
máy của 3 ngân hàng khác nhau cùng hoạt đông, trong khi nơi khác không có.
Thị trường thanh toán thẻ Việt Nam vẫn còn manh mún, có sự khác biệt lớn
trong quan điểm của các ngân hàng, giữa các liên minh về lợi ích kinh tế và lợi ích cộng
đồng. Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ còn hạn chế, mới chủ yếu tập trung ở một số
tỉnh, thành phố lớn; đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu tập trung vào tầng lớp đang làm việc
trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, cán bộ, công chức làm việc trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tuy
các nhà phát hành thẻ đều ra sức quảng bá cho những tiện ích mà thẻ của mình đem lại
cho khách hàng nhưng đều không thể phủ nhận rằng những tiện ích mà họ đưa ra đang
bị hạn chế rất nhiều trong một thị trường còn thiếu liên kết như hiện nay.
Để tăng cường hiệu quả về chi phí, tạo thuận lợi cho các chủ thẻ trong các giao
dịch cá nhân, Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt Đề án xây dựng Trung tâm chuyển
mạch thẻ thống nhất để kết nối các liên minh thẻ (bắt đầu đưa vào triển khai từ đầu năm
2008). Trong khuôn khổ đề án phát triển các phương tiện và dịch vụ thanh toán phù hợp
với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thành việc đánh

ACB phát hành, Thẻ ACB-Saigon Co-op, ACB-Saigon Tourist, ACB-Mai Linh và ACB-
Phước Lộc Thọ đây là nhưng thẻ do ACB hợp tác với hệ thống Siêu thị Maximark,
Citimart, Siêu thị Miền Đông , SaiGon Coop, SaiGon Tourist, công ty Mailinh để phát
hành, những thẻ này sẽ phát huy được nhiều tiện ích hơn khi thanh toán tại các đại lý
trực thuộc tại đơn vị hợp tác với ACB, chủ thẻ được hưởng ưu đãi qua các chương trình
khuyến mãi đặc biệt của các đơn vị hợp tác này.
Bảng 2.1: Số lượng thẻ TDQT phát hành tại Sở giao dịch Vietcombank
Đơn vị: thẻ
Loại thẻ Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Tỉ lệ so với 2005 %
Visa 3147 5051 4506 87,35
Master 680 1402 1310 93,44
Amex 155 1244 907 72,91
Tổng số 3982 7697 6723 87,35
Nguồn:Vietcombank)
Không chỉ là ngân hàng đại lý thanh toán lớn nhất cho các tổ chức thẻ quốc tể ở
Việt Nam mà Vietcombank còn trực tiếp phát hành thẻ tín dụng quốc tế: Viecombank
MasterCard, Vietcombank Visa và Vietcombank American Express. Trong đó,
Vietcombank là ngân hàng độc quyền phát hành thẻ American Express – một trong
những sản phẩm thẻ có uy tín và dịch vụ tốt nhất trên thế giới và tại thị trường Việt
Nam.
Hiện nay ngân hàng ngoại thương đang có được thị phần lớn nhất trong hoạt
động phát hành thẻ tín dụng tại thị trường trong nước, chiếm tới 38%; tiếp sau đó là các
ngân hàng ACB, ANZ…Tổng số thẻ tín dụng quốc tế trên thị trường hiện nay là khoảng
200.000 thẻ.
Biểu đồ 2.5: Tình hình phát hành thẻ tín dụng quôc tế của Sở giao dịch
Vietcombank
(Nguồn: Vietcombank)
b. Thẻ tín dụng nội địa
Bên cạnh việc phát hành thẻ tín dụng quốc tế, hiện nay các ngân hàng còn chú
trọng đến việc phát hành và phát triển dịch vụ thẻ tín dụng nội địa.

Hoàng Mai - - 7 7 - -
49.415.000
Thăng Long 1 6 1 8 18 350.000
-
Láng Hạ 31 16 4 51 139 42.276.500
33.609.000
Hà Nội 72 74 6 152 656 152.945.782
85.396.000
Sài Gòn 10 81 35 126 141 25.412.325
247.289.000
NHNo 3 5 8 3 16 32 2.838.000
29.969.000
Phú Nhuận 28 18 1 47 188 116.209.000
112.879.000
TP HCM 86 3 - 89 512 123.751.718
46.822.000
Cần Thơ 103 29 - 132 321 61.534.414
90.496.000
Mạc Thị Bưởi
38 11 5 54 39 3.290.900
15.877.000
NHNo 4 25 5 2 32 - -
2.040.000
Đà Nẵng 207 73 20 300 316 53.838.909
298.682.000
Hải Phòng 44 3 - 47 34 1.161.000
44.844.000
Tổng cộng 653 359 87 1.099 2.394 517.867.748
1.121.603.000
(Nguồn: NHNo&PTNT, 2006)

Tuy nhiên đặc điểm này cũng lại trở thành một ưu điểm của chính loại thẻ này khi được
sử dụng tại thị trường Việt Nam bởi tâm lý người Việt vốn thích sử dụng đồng tiền tự
có của bản thân hơn là đi vay mượn để tiêu dùng. Tại thị trường trong nước việc sử
dụng thẻ ghi nợ quốc tế đang có rất nhiều thuận lợi một phần do đối tượng sử dụng chủ
yếu là học sinh, sinh viên du học tự túc đang ngày một tăng đã dùng loại thẻ này để
nhận trợ giúp tài chính của gia đình từ Việt Nam; một phần khác là do sự thuận tiện khi
thanh toán tại nhiều CSCNT; và một phần khác là do phí để làm thẻ ghi nợ quốc tế rẻ
hơn nhiều so với làm thẻ tín dụng quốc tế.
Nắm được những đặc điểm nêu trên, vừa qua Visa đã thỏa thuận với 7 ngân hàng
thương mại để phát hành thẻ ghi nợ mang thương hiệu Visa Debit. Eximbank là ngân
hàng đầu tiên, đã phát hành thẻ Visa Debit và tiếp sau đó là 6 ngân hàng khác cũng sẽ
tung loại thẻ này ra thị trường. Các ngân hàng này gồm (Ngân hàng TMCP Á Châu,
Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương, Ngân hàng
TMCP Kỹ thương).Với Visa Debit, chỉ cần có tiền trong tài khoản, khách hàng có thể
sử dụng khắp nơi trên thế giới. Hiện thẻ này có thể thanh toán trực tiếp tại hơn 6.000
điểm thanh toán tại Việt Nam và 20 triệu điểm trên khắp thế giới. Ngoài ra, thẻ Visa
Debit còn cung cấp nhiều dịch vụ gia tăng như chuyển tiền tức thời với phí thấp, thanh
toán hóa đơn điện, nước, bảo hiểm… Phụ huynh có con du học nước ngoài có thể kiểm
soát chi tiêu của con qua thẻ Visa Debit. Khi du học sinh có thẻ Visa Debit sử dụng ở
nước ngoài, phụ huynh ở trong nước có thể đóng tiền vào tài khoản ở ngân hàng trong
nước; phụ huynh đóng vào bao nhiêu, con ở nước ngoài được nhận bấy nhiêu.
Nhận định về triển vọng của thẻ ghi nợ quốc tế tại nước ta, ông Gordon Cooper,
trưởng đại diện Visa International Việt Nam cho biết: “Có một thực tế là người tiêu
dùng trên thế giới rất ưa chuộng thẻ ghi nợ. Ngay khi Visa đưa thẻ Visa Debit ra thị
trường vào năm 2003, rất nhiều người đã chuyển từ thẻ tín dụng sang thẻ Visa Debit”.
Hiện có hơn 90 triệu thẻ Visa Debit trong khu vực và dự đoán 2008 số lượng này sẽ
tăng lên rất nhiều.
Các ngân hàng trong nước hiện đang đầu tư rất nhiều để mở rộng mạng lưới
chấp nhận thanh toán thẻ tại các điểm gần gũi với người sử dụng hơn như các siêu thị,

toán thẻ. Hiện nay nó là loại thẻ đang được các ngân hàng chạy đua với nhau về số
lượng thẻ phát hành và cũng như phát triển các dịch vụ kèm theo. Tốc độ tăng trưởng
bình quân của loại thẻ này trong toàn hệ thống ngân hàng đạt khoảng 300%/năm.
Năm 2005 số lượng thẻ ATM phát hành trong năm của các NHTM là khoảng 760.000
thẻ nhưng đến cuối năm 2005 con số này đã đạt 2.5 triệu thẻ và đến năm 2007 đã là
gần 7 triệu thẻ. Sở dĩ có sự gia tăng đột biến trong số lượng thẻ là do các ngân hàng
thực hiện các chiến dịch khuyến mại rẩm rộ, giảm phí đăng ký thẻ và có sự phân
đoạn khách hàng khi cung cấp dịch vụ và do quy định của Chính phủ về việc trả
lương qua tài khoản cho người lao động.
Bảng 2.3: Số lượng thẻ ghi nợ nội địa của các ngân hàng (2005)
STT Ngân hàng Năm 2004 Năm 2005
1 Vietcombank 460.000 950.000
2 BIDV 45.000 259.000
3 Agribank 100.000 220.000
4 Incombank 70.000 150.000
5 Đông Á 60.000 158.000
6 Techcombank 18.000 35.000
7 Ngân hàng khác 80.000 172.000
Tổng cộng 83.3000 1.944.000
(Tạp chí Ngân hàng, 2006)
Theo số liệu báo cáo, Vietcombank hiện vẫn đang là ngân hàng dẫn đầu toàn
hệ thống về số lượng thẻ phát hành, hơn 900.000 thẻ ghi nợ nội địa (cho hai thương
hiệu thẻ của ngân hàng này là Thẻ Connect 24 và thẻ ghi nợ nội địa SG24) trên tổng
số 1.913.614 thẻ ghi nợ nội địa của cả thị trường, chiếm gần 50,68% thị phần thẻ.
Tháng 4/2002, Vietcombank lần đầu tiên ra mắt thẻ ghi nợ nội địa Connect 24.
Với thẻ Connect 24 của Vietcombank, khách hàng sẽ thực hiện các giao dịch tự động tại
các máy ATM của Vietcombank trên toàn quốc, đồng thời có thể thanh toán hàng hoá,
dịch vụ tại các ĐVCNT của Vietcombank. Có thể nói rằng từ khi ra đời đến nay, thẻ
Connect 24 đã chứng tỏ là một công cụ hữu hiệu để sản phẩm thẻ của Vietcombank
thâm nhập vào mọi tầng lớp dân cư, giúp họ quen dần với việc sử dụng dịch vụ ngân

vụ chi trả lương cho nhân viên của một số doanh nghiệp lớn trên địa bàn Hà Nội và
đang thực hiện triển khai thí điểm việc trả lương hưu cho các cán bộ nghỉ hưu tại
một số phường trên địa bàn thành phố Hà Nội
Các NHTMCP cũng đang tích cực tham gia vào thị trường thẻ thanh toán bằng
nhiều sản phẩm đa dạng, tiện dụng thậm chí còn hơn cả thẻ của các NHTM quốc doanh:
- Ngân hàng ACB có thẻ Thẻ ATM2+ là thẻ ghi nợ nội địa kết nối trực tiếp với tài
khoản tiền gửi thanh toán do ACB phát hành, mang thương hiệu VISA.
- Techcombank có thẻ thẻ F@stAccess với tính năng đặc biệt 3 trong 1:
o Thẻ ghi nợ nội địa
o Gửi tiết kiệm với F@stSaving (cho phép chủ thẻ đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi
sang tài khoản tiết kiệm với lãi suất hấp dẫn)
o Vay tiền ngân hàng với ứng trước tài khoản cá nhân F@stAdvance (cho phép
chủ thẻ có thể sử dụng vượt số tiền có trong tài khoản thanh toán của mình).
Với những tính năng tích hợp đa dạng, thẻ của Techcombank đã thu hút được một
số lượng khách hàng đông đảo. Đến cuối năm 2006 đã có 60.000 thẻ F@stAccess
được phát hành.
Bảng 2.4: Tình hình phát hành thẻ của Techcombank
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Lượng thẻ phát hành 17.848 59.566 178.000
Số dư tiền gửi trên thẻ
(VND) 67.504.239.316 256.175.045.485
445.500.000.0
00
Số dư tiền gửi BQ
(VND) 3.782.173,875 4.300.692,433 2.502.808,989
(Nguồn: Techcombank)
- Ngân hàng Đông Á có các loại thẻ như Thẻ đa năng Đông Á, Thẻ liên kết sinh viên
(dưới hình thức là Thẻ sinh viên kết hợp Thẻ đa năng Đông Á). Hiện ngân hàng đã
liên kết được với 2 trường đại học là Đại học khoa học tự nhiên thành phố Hồ Chí
Minh và Đại học kinh tế Đà Nẵng để phát hành loại thẻ này cho sinh viên. Thẻ của

Trích đoạn Nguyên nhân.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status