THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. VÀI NÉT VỀ CHỨC NĂNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
Trước thời kỳ đổi mới, mô hình tổ chức ngân hàng Việt Nam được mô phỏng
theo mô hình tổ chức ngân hàng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác.
Theo mô hình này, Ngân hàng Nhà nước vừa đóng vai trò là ngân hàng Trung
ương, vừa đóng vai trò là ngân hàng trung gian tài chính. Mô hình này gọi là mô
hình một cấp.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước và thực hiện chính sách mở cửa, các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
cũng từng bước được đổi mới cho phù hợp, trong đó đổi mới hệ thống ngân hàng là
một trong những bước đột phá khẩu. Mốc đánh dấu sự chuyển đổi từ hệ thống
ngân hàng một cấp sang mô hình ngân hàng hai cấp là Pháp lệnh Ngân hàng được
công bố ngày 24/05/1990. Pháp lệnh đã đặt nền móng cho việc tổ chức, vận hành
hệ thống quản lý Nhà nước với chức năng kinh doanh của các ngân hàng thương
mại theo các quy luật của nền kinh tế thị trường. Theo đó đã có sự tách bạch chức
năng tổ chức: Ngân hàng Trung ương (NHNN) là cơ quan quản lý Nhà nước trên
lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, được độc quyền phát hành tiền và đóng vai trò là ngân
hàng của các ngân hàng. Các ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức trung
gian tài chính khác thực hiện kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Kể từ khi đổi mới đến nay, hệ thống NHTM Việt Nam đã có nhiều thay đổi,
trong đó trước hết phải kể đến là sự đa dạng hóa về các loại hình hoạt động trong
lĩnh vực trên ở 6 ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN): Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công
thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam,
Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng
sông Cửu Long, 37 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), 31 chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh tại Việt Nam, 6 công ty tài chính.
Vai trò của các ngân hàng thương mại được thể hiện qua các hoạt động cơ bản
của nó, ở đây tác giả xin đánh giá theo các mảng hoạt động cụ thể. Riêng đối với
2.1.2. Mở rộng tín dụng và đầu tư
Tín dụng của các NHTM có ý nghĩa quan trọng với toàn bộ nền kinh tế, nó
cung cấp nguồn tài trợ cho các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp,
thương nghiệp và dịch vụ của đất nước. Tín dụng ngân hàng đã tạo ra khả năng
thực hiện toàn bộ quá trình từ khi sản phẩm được sản xuất cho đến khi sản phẩm
đến tay người tiêu dùng.
Bảng 2.1- Tăng trưởng dư nợ của hệ thống NHTM
Đơn vị: tỉ đồng - %
Chỉ tiêu 2003 2004 2005
Ngân hàng thương mại nhà nước 302.840 389.950 457.535
Ngân hàng thương mại cổ phần 45.920 58.950 69.745
Ngân hàng nước ngoài và liên doanh 38.240 46.100 53.720
Tổng cộng 387.000 495.000 581.000
Tỉ trọng dư nợ/GDP 54,73% 62,38% 68,42%
(Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam, 2006)
Đối với các NHTM Việt Nam do dịch vụ ngân hàng chưa đa dạng và phát
triển ở mức độ chưa cao, lợi nhuận thu được từ việc thu phí dịch vụ còn thấp nên
hoạt động cho vay giữ vai trò số một trong việc tìm kiếm lợi nhuận của các ngân
hàng. Do tính đơn điệu của sản phẩm nên hình thức cạnh tranh chủ yếu là thông
qua lãi suất cho vay. Và trong “cuộc chiến” lãi suất, lợi thế thuộc về nhóm các
NHTMNN do có quy mô vốn lớn, mạng lưới chi nhánh rộng. Các NHTMCP, ngân
hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài do chi phí cho việc huy động
cao hơn nên thường phải đặt mức lãi suất cao hơn so với các NHTMNN. Tuy nhiên
điều đó không có nghĩa là khối lượng khách hàng đến xin vay tại các NHTMNN
không lớn. Bởi vì có mức “giá” hấp dẫn hơn, nhưng các nguồn vốn vay từ các
NHTMNN là rất khó tiếp cận. Các NHTMNN thường cho vay đối với các Tổng
công ty 90, 91, các doanh nghiệp nhà nước; cho vay theo chỉ định của chính phủ
đối với các công trình trọng điểm của quốc gia…Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thường không có quan hệ tín dụng tốt
đối với các NHTMNN do luôn bị coi là những khách hàng nhỏ, hoạt động theo
người bán cách xa nhau về địa lý…. Chính vì vậy các ngân hàng thương mại đóng
vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế, điều này thể hiện ở những mặt sau:
Cung cấp các khoản bảo lãnh hoặc tín dụng: bao gồm bảo lãnh tín dụng, bảo
lãnh phát hành L/C, cho vay…đối với nhà nhập khẩu và chiết khấu chứng từ xuất
khẩu, mua lại chứng từ nhờ thu…đối với nhà xuất khẩu.
Trung gian thanh toán: hệ thống ngân hàng cho phép việc thực hiện thanh toán
giữa các bên liên quan, đảm bảo an toàn nhanh chóng và chính xác.
Tư vấn: Trong bất kỳ trường hợp nào nếu gặp phải những vấn đề liên quan
đến thanh toán trong giao dịch ngoại thương, khách hàng liên quan có thể nhận
được những tư vấn tốt từ cán bộ chuyên môn trong các ngân hàng thương mại.
Quản lý rủi ro tín dụng: Trong thương mại quốc tế, người mua có thể giao
dịch với một người bán mà họ không hề biết, thậm chí ngay cả khi họ đã thực hiện
một số giao dịch mua bán với nhau, người mua cũng không biết về người bán một
cách triệt để. Như vậy người mua và người bán không thể nắm bắt được chắc chắn
về khả năng tài chính, uy tín và khả năng thực hiện hợp đồng của đối tác, do đó khó
lường được những rủi ro có thể xảy ra. Với sự giúp đỡ của ngân hàng, người mua và
người bán sẽ có thể tin tưởng nhau hơn vì sẽ loại trừ hoặc giảm thiểu một số rủi ro
trong hoạt động kinh doanh.
Quản lý rủi ro về ngoại hối: Trong thương mại quốc tế, nguời mua và người
bán ở hai nước khác nhau nhưng chỉ giao dịch với nhau cùng một loại tiền tệ, họ sẽ
phải đương đầu với những loại rủi ro dao động về tỷ giá, những rủi ro này sẽ dễ
dàng được hạn chế khi có sự giúp đỡ của ngân hàng thông qua các hợp đồng mua
bán hoặc chuyển đổi ngoại tệ tuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng.
Cung cấp khả năng lựa chọn các phương thức thanh toán: thanh toán trước,
thanh toán sau, tài khoản mở, nhờ thu, L/C và bao thanh toán. Hiện nay, ở Việt
Nam, phương thức tín dụng chứng từ vẫn được khách hàng ưa chuộng.
2.1.5. Các hoạt động khác
Các hoạt động khác như giao dịch hối đoái, kinh doanh vàng, kim loại đá quý,
dịch vụ uỷ thác…cũng đang phát triển mạnh mẽ.
Như vậy, ngoài những nhiệm vụ chính đóng vai trò huyết mạch, là bà đỡ cho
Điểm khác biệt
Cho vay bảo đảm
bằng quyền đòi
nợ
Bao thanh toán
Sở hữu khoản phải
thu
Thuộc người bán Thuộc Ngân hàng
Tài trợ vốn cho
người bán trên cơ sở
phải thu
Giống nhau giữa hai hình thức: người bán đều có thể nhận
được tài trợ vốn lưu động dựa vào các khoản phải thu
Rủi ro từ việc mua
không trả được nợ
Người bán phải
gánh chịu hoàn
toàn
Ngân hàng (trong trường hợp bao
thanh toán không truy đòi)
Dịch vụ thu hộ Không có Có dịch vụ thu hộ
Đối tượng thẩm định
của ngân hàng
Người bán (chủ
yếu là nguồn trả
cuối cùng) và
người mua
Người mua (năng lực tín dụng) và
người bán (năng lực cung cấp hàng)
(Nguồn: Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, 2006)
Chấp nhận thanh toán
bằng bao thanh toán
Phương thức áp dụng
Thanh toán trả ngay
hoặc trả chậm
Chỉ áp dụng với thanh
toán trả chậm
Khả năng tài trợ vốn cho
người bán khi xuất hàng
Được ngân hàng chiết
khấu sau khi có bộ
chứng từ xuất khẩu
Được ngân hàng ứng
trước trên cơ sở bộ
chứng từ xuất khẩu
Rủi ro từ việc không thanh
toán tiền
Thấp (do ngân hàng
phát hành L/C bảo lãnh
thanh toán theo L/C
Ngân hàng gánh chịu
(trường hợp bao thanh
toán không truy đòi)
Theo dõi và thu hộ các khoản
phải thu
Không có Có dịch vụ thu hộ
(Nguồn: Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, 2006)
Cũng tương tự như phương thức trên, đặc điểm nổi bật của bao thanh toán là
có dịch vụ theo dõi và thu hộ các khoản phải thu, thông thường chấp nhận thanh
toán bằng bao thanh toán chỉ áp dụng đối với phương thức thanh toán trả chậm.
Phí giao dịch
Người mua chịu nhiều
khoản phí liên quan đến
việc mở L/C và chấp nhận
hối phiếu trả chậm
Phí chủ yếu do người bán trả
(được trừ vào tiền thu được
từ khoản phải thu), người
mua có trách nhiệm thanh
toán tiền
(Nguồn: Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, 2006)
Như vậy, trong quá trình thực hiện giao dịch bao thanh toán đối với nhà
nhập khẩu việc cam kết thanh toán trả chậm cũng đã là một lợi thế, nhưng còn có
một lợi thế nữa là giảm thiểu những chi phí phát sinh và không bị đọng vốn do
phải ký quỹ mở L/C.
Bao thanh toán và chiết khấu chứng từ xuất khẩu
Bảng 2.5. So sánh chiết khấu chứng từ xuất khẩu và bao thanh toán
Điểm khác biệt Chiết khấu chứng từ
xuất khẩu
Bao thanh toán
Sở hữu khoản phải thu Thuộc nhà xuất khẩu Thuộc ngân hàng
Phương thức áp dụng
Thanh toán trả ngay
hoặc trả chậm (kèm
theo L/C)
Chỉ áp dụng với thanh
toán trả chậm
Dịch vụ thu hộ Không có Có dịch vụ thu hộ
(Nguồn: Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, 2006)
Tóm lại, từ việc so sánh sự khác nhau giữa phương thức cho vay bảo đảm bằng
đặc biệt chiếm dụng vốn của người bán. Người bán để tăng cường khả năng cạnh
tranh cần phải có những giải pháp đáp ứng yêu cầu của người mua, vừa bảo vệ
mình trước những rủi ro tiềm ẩn (rủi ro người mua không thanh toán). Do vậy, đối
với người xuất khẩu, người bán hàng Việt Nam, phương thức này mang lại nhiều lợi
ích cụ thể:
Bổ sung thêm một kênh huy động vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp bán hàng,
đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đối tượng không dễ tiếp cận với
nguồn vốn vay ngân hàng.
Thu hồi được vốn ngay khi bán các khoản phải thu cho ngân hàng hay đơn
vị bao thanh toán; nhờ đó đồng vốn được quay vòng nhanh hơn.
Tránh được những rủi ro mất vốn khi đối tác không trả được nợ (tránh được
các khoản nợ khó đòi)