1
MỞ ĐẦU
Mục tiêu nghiên cứu
Cùng với sự phát triển chung của thế giới, hội nhập kinh tế đất nước vào khu
vực và thế giới đã trở thành một xu thế tất yếu và một yêu cầu khách quan đối với
bất kỳ quốc gia nào trong thời đại hiện nay. Xu hướng này đang hình thành ngày
càng rõ nét, đặc biệt là nền kinh tế thò trường đang trở thành một sân chơi chung
cho tất cả các nước, thò trường tài chính đang mở rộng phạm vi hoạt động gần như
không biên giới, vừa tạo điều kiện tăng cường hợp tác, vừa làm sâu sắc và gay gắt
thêm quá trình cạnh tranh.
Kết thúc quá trình gia nhập tổ chức thương mại WTO vào tháng 11 năm 2006,
ngành tài chính ngân hàng Việt Nam sẽ mở cửa hội nhập mạnh mẽ với khu vực và
thế giới. Vì thế, việc đa dạng hoá và phát triển sản phẩm mới là một trong những
chiến lược để tồn tại và phát triển của bất cứ ngân hàng nào. Để đạt mục tiêu này,
các đònh chế tài chính Việt Nam đã nhanh chóng đưa các sản phẩm tài chính mới
trên thế giới vào triển khai áp dụng ở thò trường tài chính Việt Nam, trong đó có
nghiệp vụ bao thanh toán (Factoring). Nghiệp vụ này nếu được triển khai an toàn
và hiệu quả, sẽ góp tên trong danh mục sản phẩm ngân hàng, góp phần nâng cao
tính cạnh tranh của các ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng trên thế giới, nghiệp vụ bao
thanh toán đã trở nên quen thuộc và được áp dụng rộng rãi hơn 100 năm qua. Thế
nhưng đối với thò trường tài chính Việt Nam, đây lại là một nghiệp vụ còn khá mới
2
mẻ. Việc đưa nghiệp vụ bao thanh toán vào áp dụng trên thò trường tài chính Việt
Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Các vấn đề về văn bản pháp lý liên quan đến
nghiệp vụ bao thanh toán vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần phải hoàn thiện hơn.
Các ngân hàng còn gặp nhiều lúng túng trong việc đem nghiệp vụ này vào triển
khai và vận hành. Các doanh nghiệp thì lại khá xa lạ đối với khái niệm “bao thanh
phần nêu bật những giải pháp và kiến nghò nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp
vụ bao thanh toán, giúp cho dòch vụ tài chính mới này có thể áp dụng và vận hành
một cách trôi chảy hơn trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Kết cấu đề tài
Nội dung cơ bản của Luận văn được thể hiện qua ba chương sau:
Chương 1: Tổng quan về tài trợ thương mại và cơ sở lý luận về nghiệp vụ
bao thanh toán.
Chương 2: Thực trạng nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp phát triển và hoàn thiện nghiệp vụ bao thanh toán tại
các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Do đề tài còn khá mới mẻ, Luận văn sẽ không tránh khỏi còn những thiếu
xót cả về lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn. Kính mong được sự góp ý và chỉ dẫn
của quý Thầy, Cô để người viết có hiểu biết hoàn chỉnh hơn.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI TR THƯƠNG MẠI
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
1.1 Tổng quan về tài trợ thương mại
1.1.1 Khái niệm về tài trợ thương mại
Tài trợ là thuật ngữ phản ánh việc ngân hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của
các doanh nghiệp về phát triển kinh doanh, phòng chống rủi ro, và gia tăng khả
năng cạnh tranh. Việc tài trợ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và đồng thời
cũng mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng từ các khoản lãi và phí dòch vụ.
Vậy tài trợ thương mại là gì?
Tài trợ thương mại có thể được hiểu như là việc ngân hàng cung ứng nguồn
vốn cho doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu thương mại. Các khoản tài trợ này
thường có kỳ hạn ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh… Tài trợ xuất nhập khẩu được
xem là hình thức của tài trợ thương mại quốc tế.
1.1.3 Các phương thức tài trợ thương mại
1.1.3.1 Tài trợ nhập khẩu
- Tài trợ theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C – Letter of
Credit):
6
Trong phương thức thanh toán L/C, nhà xuất khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu
tiến hành thủ tục mở L/C tại một ngân hàng với các điều kiện đã được thoả thuận.
Thủ tục mở L/C cho khách hàng có thể được xem là một hình thức tài trợ cho doanh
nghiệp. Bởi vì, khi ngân hàng đồng ý mở L/C cho nhà nhập khẩu bao hàm trong đó
là sự cam kết thanh toán cho người hưởng lợi L/C. Ngân hàng sẽ gánh chòu rủi ro
nếu nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán. Trong trường hợp này, ngân
hàng sẽ là người thanh toán cho L/C mà mình đã mở để đảm bảo uy tín. Điều này
mang ý nghóa của việc cung cấp một khoản tín dụng ngầm cho khách hàng. Do đó,
khi quyết đònh mở L/C, ngân hàng cần thẩm đònh nhà nhập khẩu một cách cẩn thận.
- Cho vay ký quỹ :
Ký quỹ là một điều kiện bắt buộc, một quy đònh của ngân hàng phát sinh
trong trường hợp khách hàng xin được bảo lãnh, mở L/C. Khách hàng sẽ nộp một
khoản tiền nhất đònh vào tài khoản ký quỹ của họ tại ngân hàng xin bảo lãnh.
Khoản tiền này sẽ được phong toả trong tài khoản tại ngân hàng cho đến khi nghóa
vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm dứt. Giá trò ký quỹ thường tỷ lệ thuận với giá trò
hợp đồng doanh nghiệp xin được bảo lãnh. Ngân hàng xem xét hạn mức bảo lãnh
dựa vào giá trò của khoản bảo lãnh, uy tín của khách hàng và rủi ro của khoản bảo
lãnh. Tùy mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ ở những
mức độ khác nhau (có thể dao động từ 30% đến 100% giá trò bảo lãnh).
Thông qua hình thức ký quỹ, ngân hàng có thể giảm thiểu được rủi ro trong
quá trình bảo lãnh cho doanh nghiệp. Nhưng về phía doanh nghiệp, do tiền ký quỹ
bò phong toả trong tài khoản theo thời gian ngân hàng chấp nhận bảo lãnh nên một
phần vốn của doanh nghiệp sẽ bò đóng băng.
- Cho vay bắt buộc:
cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả. Trách nhiệm thu tiền
và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng.
Thông qua hình thức chiết khấu, ngân hàng có thể tài trợ một phần vốn lưu
động cho người xuất khẩu nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh không bò gián
đoạn.
1.1.3.3 Tài trợ trên cơ sở hối phiếu
- Chiết khấu hối phiếu: Nhà xuất khẩu khi bán chòu hàng hoá cho nhà nhập
khẩu ở nước ngoài, họ sẽ kí phát hối phiếu có kỳ hạn. Nhà nhập khẩu hoặc ngân
hàng của nhà nhập khẩu ký chấp nhận vào hối phiếu. Số tiền trên hối phiếu được
đảm bảo thanh toán khi đáo hạn. Tuy nhiên, nếu nhà xuất khẩu phát sinh nhu cầu
vốn, họ có thể mang hối phiếu đó đến ngân hàng để xin chiết khấu, nghóa là xin
nhận tiền trước và chuyển quyền hưởng lợi hối phiếu cho ngân hàng chiết khấu.
Trong nghiệp vụ này, thông thường ngân hàng chỉ nhận chiết khấu đối với hối
phiếu mà khả năng thanh toán khi đáo hạn của hối phiếu khá chắc chắn.
- Chấp nhận hối phiếu: Chấp nhận hối phiếu là nghiệp vụ mà trong thời
gian quy đònh, bên bán phải xuất trình cho bên mua để họ ký chấp nhận trả tiền hối
phiếu. Hối phiếu chỉ có thể lưu thông dễ dàng khi nó đã được ký chấp nhận trả tiền
khi đến hạn.
Trên phương diện ngân hàng, việc chấp nhận hối phiếu cũng đồng nghóa với
việc cấp tín dụng cho khách hàng. Nhà nhập khẩu trở thành người vay khoản tín
dụng. Khoản tín dụng này được xem là hình thức, một sự đảm bảo về tài chính.
9
Khoản vay chỉ trở thành khoản vay thực sự khi nhà nhập khẩu không thanh toán
tiền cho bên xuất khẩu khi đến hạn. Khi đó, ngân hàng chòu trách nhiệm thanh toán.
Hình thức chấp nhận hối phiếu xảy ra khi bên bán và bên mua chưa tin tưởng
nhau về khả năng thanh toán. Bên bán đề nghò bên mua yêu cầu một ngân hàng
đứng ra chấp nhận trả tiền trên hối phiếu do bên bán ký phát. Khi ngân hàng đã
đồng ý có nghóa là mọi rủi ro sẽ do ngân hàng chòu.
Hình thức này mang lại lợi ích là, với sự chấp nhận của ngân hàng, nhà xuất
thực sự nắm giữ quyền sở hữu (chứ không phải trên danh nghóa) hàng hoá bên uỷ
nhiệm – nhà sản xuất nước ngoài – rồi giao hàng hoá đó cho người mua trong nước,
ghi sổ doanh thu và thu nợ khi đến hạn, chuyển dư nợ cho bên uỷ nhiệm thu sau khi
đã trừ phần hoa hồng của mình, thường được thể hiện bằng phần trăm của tổng
doanh thu.
Cùng với sự phát triển toàn cầu của ngành công nghiệp Anh vào thế kỷ 14 -
15 là sự lớn mạnh trong tầm quan trọng của đại lý bao thanh toán. Khi họ dần tin
cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước mà họ giao dòch cùng, họ bắt
đầu cấp tín dụng cho người ủy nhiệm mình để được hưởng hoa hồng cao hơn.
Đến cuối thế kỷ 19, một sự thay đổi quan trọng trong thương mại thế giới đã
xảy ra. Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và trở nên ít bò phụ thuộc vào
hàng hoá nước ngoài. Sự phát triển của ngành công nghiệp Mỹ là do dân số và lực
lïng lao động trong nước tăng rất nhanh, tài nguyên thiên nhiên dư thừa, và sự áp
11
đặt biểu thuế gắt gao với hàng hoá nước ngoài. Đồng thời, những nhà sản xuất Mỹ
phát triển đội ngũ tiếp thò của mình và vì vậy, nhu cầu chức năng marketing mà đại
lý bao thanh toán thường thực hiện giảm đi. Tuy nhiên, một lần nữa, các đại lý bao
thanh toán lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu nền kinh tế mới trong nước, tập
trung vào tín dụng, thu nợ, kế toán và chức năng tài chính (thường là thông báo cho
người mua việc bán các khoản phải thu). Việc giao cho đại lý bao thanh toán thực
hiện các chức năng này cho phép các nhà sản xuất ngành dệt của Mỹ tập trung vào
sản xuất và tiếp thò trong thời kỳ phát triển rất nhanh này. Vào đầu thế kỷ 20, khi
các nhà sản xuất Mỹ mở rộng sang các ngành may mặc, đồ nội thất và thảm thì các
đại lý bao thanh toán của Mỹ cũng mở rộng chuyên môn và dòch vụ sang các ngành
công nghiệp này. Đến giữa thế kỷ 20, bao thanh toán Mỹ phát triển sang các ngành
công nghiệp mới như điện, hoá chất, sợi tổng hợp.
Từ khi mới ra đời, doanh số nghiệp vụ bao thanh toán rất ít. Nhưng qua thời
gian, doanh số này đã ngày một tăng lên. Số lượng đơn vò tham gia thực hiện
nghiệp vụ bao thanh toán tăng lên nhanh chóng. Tính từ lúc bắt đầu hình thành với
trong giao dòch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng. Theo đó, tổ chức
tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng (gồm
cho vay và ứng trước tiền), quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu
nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
13
- Còn Hiệp hội bao thanh toán thế giới FCI (Factors Chain International) thì
đònh nghóa nghiệp vụ bao thanh toán là một loại hình dòch vụ tài chính trọn gói bao
gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các
khoản phải thu và dòch vụ thu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dòch
vụ bao thanh toán (factor) với người cung ứng hàng hoá dòch vụ hay còn gọi là
người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hoá (seller). Theo như thoả thuận
factor sẽ mua lai các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của
người mua trong quan hệ mua bán hàng hoá (buyer) hay còn gọi là con nợ trong
quan hệ tín dụng (debtor).
- Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban hành
kèm theo quyết đònh số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2004 của
Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, nghiệp vụ bao thanh toán là “một hình
thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua bán
các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hoá đã được bên bán hàng và
bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”.
Tóm lại, do mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng, có tập quán, luật lệ và nhu cầu
tài chính, kinh doanh riêng biệt mà nghiệp vụ bao thanh toán có nhiều cách đònh
nghóa khác nhau. Nhưng nhìn chung, nghiệp vụ bao thanh toán được hiểu là sự
chuyển nhượng nợ của người mua hàng (con nợ) từ người bán hay cung ứng dòch vụ
(chủ nợ cũ) sang đơn vò bao thanh toán (chủ nợ mới). Đơn vò bao thanh toán đảm
bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của
người mua.
14
nhiên, trong trường hợp này, thời gian đơn vò bao thanh toán thanh toán cho
người bán có thể khác nhau do sự thỏa thuận trước, nhưng thường thì đơn vò bao
thanh toán cam kết sẽ thanh toán khi người mua mất khả năng thanh toán.
Vậy thế nào là một khoản phải thu được bảo hiểm? Đó là khi đơn vò bao
thanh toán cấp cho người mua hàng một hạn mức tín dụng (mục đích là để thanh
toán tiền hàng), khi người mua ký hợp đồng mua bán hàng hoá vời người bán, thì
giá trò khoản phải thu phải nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức còn lại của người mua. Lúc
này, nếu không có tranh chấp giữa người mua và người bán thì khoản phải thu ấy
được gọi là khoản phải thu được bảo hiểm. Cần lưu ý một điều rằng, nếu khoản
phải thu có giá trò lớn hơn hạn mức còn lại của người mua thì giao dòch mua bán vẫn
được thực hiện, nhưng giá trò khoản phải thu tăng thêm sẽ không được đơn vò bao
thanh toán bảo hiểm tức là sẽ không thanh toán nếu người mua mất khả năng thanh
toán hoặc không thanh toán trong thời gian 90 ngày.
Chức năng này mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp bán hàng là:
• Khoản phải thu được bảo hiểm và không có tranh chấp sẽ được thanh
toán trong 90 ngày kể từ ngày hoá đơn đáo hạn.
• Loại bỏ tổn thất do các khoản nợ xấu.
• Người bán có thể có được sự đánh giá của chuyên gia về tư cách tín
dụng của người mua.
1.2.3.2 Tài trợ / ứng trước
16
Với chức năng này, đơn vò bao thanh toán cam kết sẽ ứng trước cho người
bán một số tiền với tỉ lệ khoảng 70-80% giá trò các khoản phải thu đạt tiêu ean.
Khi khoản phải thu được thanh toán thì người bán sẽ nhận tiếp số tiền còn lại sau
khi đã trừ đi phí và lãi.
Nhờ đó mà người bán không phải đợi đến ean thời gian bán chòu mà vẫn
có thêm tiền để bổ sung vốn lưu động. Trong điều kiện hiện nay, vốn lưu động ổn
đònh sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển nhanh hơn.
Lợi ích của chức năng này mang lại cho doanh nghiệp là:
(Open Account) là người mua không thanh toán cho người bán khi chưa nhận được
hàng hoá. Và đơn vò bao thanh toán sẽ giúp giải quyết vấn đề này bằng cách thay
doanh nghiệp đi đòi nợ nếu người mua không thanh toán.
Chức năng này mang đến những lợi ích cho người bán là:
• Người bán có thể tập trung vào công việc chính của mình là sản xuất
và bán hàng, thay vì phải tốn thời gian đi thu tiền hàng đã bán.
• Người bán có thể “ẩn mình” sau đơn vò bao thanh toán, để tránh ảnh
hưởng xấu trong trường hợp người mua hàng không thanh toán.
• Việc thu tiền của nhà bao thanh toán sẽ nhanh hơn vì họ chuyên
nghiệp hơn. Nhờ đó, chi phí tài chính sẽ ít hơn.
Ứng với mỗi chức năng, bao thanh toán mang lại những lợi ích nhất đònh
riêng, nhưng không phải lúc nào bao thanh toán cũng hội đủ 4 chức năng ấy, mà
18
điều đó còn tuỳ thuộc vào loại sản phẩm bao thanh toán mà nhà bao thanh toán
cung cấp. Chúng ta sẽ làm rõ vấn đề này qua việc nghiên cứu các loại hình bao
thanh toán trong phần tiếp theo sau đây.
1.2.4 Các loại hình về nghiệp vụ bao thanh toán
Dựa vào những tiêu chí phân loại khác nhau mà ta có những cách phân loại
bao thanh toán khác nhau, ta có thể phân loại bao thanh toán theo phạm vi thực
hiện, theo tính chất hoàn trả của khoản tài trợ hoặc theo tính chất tài trợ…
1.2.4.1 Phân loại theo phạm vi thực hiện
1.2.4.1.1 Nghiệp vụ bao thanh toán trong nước
Nghiệp vụ bao thanh toán trong nước là hình thức tài trợ tín dụng cho các
doanh nghiệp trong nước, trong đó, đơn vò bao thanh toán, thường là các tổ chức tín
dụng, sẽ đứng ra mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở thành chủ nợ
trực tiếp đứng ra đòi nợ người mua hàng, đồng thời cung dấp dòch vụ quản lý sổ cái
cho khách hàng.
Loại hình nghiệp vụ bao thanh toán này được thực hiện khá thuận lợi vì nó
diễn ra trong một quốc gia. Do đó, các đơn vò bao thanh toán có thể thường xuyên
1.2.4.3 Phân loại theo tính chất tài trợ
1.2.4.3.1 Nghiệp vụ bao thanh toán chiết khấu
Là hình thức bao thanh toán mà đơn vò bao thanh toán sẽ chiết khấu các
khoản phải thu trước ngày đáo hạn.
20
1.2.4.3.2 Nghiệp vụ bao thanh toán cho đến khi đáo hạn
Là hình thức bao thanh toán mà đơn vò bao thanh toán trả cho khách hàng
của đơn vò bao thanh toán giá mua các khoản bao thanh toán khi đáo hạn.
1.3 Quy trình nghiệp vụ bao thanh toán
1.3.1 Hệ thống một đơn vò bao thanh toán
(Thường được áp dụng đối với nghiệp vụ bao thanh toán trong nước)
Quy trình này diễn ra như sau:
(1)
Người Bán Người Mua
Tổ chức bao thanh toán Bước 1: Người mua và người bán ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong
đó có điều kiện là người bán đồng ý cấp khoản tín dụng thương mại cho người mua.
Bước 2: Người bán giao hàng hoá cho người mua.
Bước 3: Người bán đến tổ chức bao thanh toán bán khoản phải thu từ người
mua cho đơn vò bao thanh toán.
Bước 4: Tổ chức bao thanh toán thẩm đònh hồ sơ và thẩm đònh khả năng trả nợ
của người mua.
Bước 5: Tổ chức bao thanh toán ký hợp đồng bao thanh toán với người bán.
Bước 1: Nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu
hàng hoá.
Bước 2: Nhà xuất khẩu đến đơn vò bao thanh toán xuất khẩu để yêu cầu cung
cấp dòch vụ bao thanh toán.
Bước 3: Đơn vò bao thanh toán xuất khẩu tiến hành thẩm đònh khách hàng và
yêu cầu tổ chức bao thanh toán nhập khẩu cung cấp dòch vụ bao thanh toán.
Bước 4: Đơn vò bao thanh toán nhập khẩu tiến hành thẩm đònh khách hàng
(nhà nhập khẩu) và quyết đònh có ký hợp đồng cung cấp dòch vu hay không.
(5)
(6)
Nhà xuất khẩu
(Người bán)
Nhà nhập khẩu
(Người mua)
Đơn vò bao thanh
toán xuất khẩu
Đơn vò bao thanh
toán nhập khẩu
(1)
(7)
(2)
1.4 Phí trong nghiệp vụ bao thanh toán
Hiệp hội bao thanh toán quốc tế FCI kiến nghò cơ cấu của phí nghiệp vụ bao
thanh toán bao gồm phí bảo hiểm rủi ro tín dụng, phí hành chính, phí giao dòch tính
trên số lượng hoá đơn / giấy ghi có, phí ngân hàng (các phí liên quan tới việc
chuyển tiền thanh toán qua hệ thống ngân hàng), lãi và các phí khác.
23
Phí nghiệp vụ bao thanh toán trong nước thường do người bán thanh toán cho
đơn vò bao thanh toán trong nước.
Phí nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế trong hệ thống hai đại lý thường do
người xuất khẩu thanh toán cho đại lý bao thanh toán xuất khẩu và được phân chia
giữa đại lý bao thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu. Phí này thường cao hơn phí
nghiệp vụ bao thanh toán trong nước do khối lượng công việc nhiều hơn, chi phí hệ
thống, chi phí xử lý nhiều hơn…
1.5 Lợi ích của nghiệp vụ bao thanh toán
1.5.1 Lợi ích đối với người bán
- Người bán có thể thu tiền ngay thay vì phải đợi tới kỳ hạn thanh toán theo
hợp đồng.
- Được sử dụng khoản phải thu đảm bảo cho tiền ứng trước, do đó cải thiện
dòng lưu chuyển tiền tệ nhờ thu được tiền hàng nhanh hơn. Lượng tiền mặt sẵn có
tại doanh nghiệp tăng lên, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát
triển.
- Tăng lợi thế cạnh tranh khi chào hàng với các điều khoản thanh toán trả
chậm mà không ảnh hưởng đến nguồn vốn kinh doanh của mình.
- Chủ động trong việc lập kế hoạch tài chính vì dự đoán được dòng tiền vào.
- Tiết kiệm thời gian trong việc theo dõi thu hồi các khoản trả chậm này.
- Tiện ích của nghiệp vụ bao thanh toán rất quan trọng đối với nhà nhập
khẩu, bởi hiện nay các nhà nhập khẩu quy mô chỉ chấp nhận hình thức trả sau và từ
chối các yêu cầu mở L/C của nhà xuất khẩu. Điều này sẽ khiến cho các doanh
nghiệp dễ mất đơn hàng xuất khẩu nếu không có khả năng về vốn. Còn nếu chấp
- Phát triển mạng lưới khách hàng: Việc áp dụng nghiệp vụ bao thanh toán sẽ
giúp người tiêu dùng có nhiều sản phẩm mới hơn để lựa chọn. Một khi bao thanh
toán mang lại hiệu quả đích thực cho khách hàng thì dần dần sẽ tạo cho khách hàng
thói quen sử dụng. Điều này sẽ giúp cho ngân hàng hay tổ chức bao thanh toán phát
triển được mạng lưới khách hàng.
- Gia tăng lợi nhuận: Trong nghiệp vụ bao thanh toán, ngân hàng hay đơn vò
bao thanh toán sẽ thu được các khoản phí và lãi, nhờ đó, gia tăng lợi nhuận cho
ngân hàng.
1.5.4 Lợi ích đối với nền kinh tế
- Tạo ra môi trường kinh doanh ổn đònh hơn cho toàn bộ nền kinh tế, tạo tâm
lý yên tâm tự tin cho các doanh nghiệp khi hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Đẩy mạnh thương mại, sản xuất và đặc biệt là xuất nhập khẩu của quốc gia,
tăng thu nhập cho nền kinh tế tài chính.
- Thúc đẩy đầu tư có hiệu quả nguồn vốn của nền kinh tế, bao gồm nguồn
vốn nhàn rỗi trong dân cư.
1.5.5 Lợi ích đối với xã hội
- Nền kinh tế ổn đònh hơn sẽ cho hệ quả một xã hội ổn đònh hơn với công ăn
việc làm nhiều hơn về số lượng và ổn đònh hơn về chất lượng.
1.6 Rủi ro trong nghiệp vụ bao thanh toán
Nghiệp vụ bao thanh toán cũng có thể đem lại những rủi ro cho các tổ chức
bao thanh toán. Những rủi ro này có thể nhận thấy từ các bên sau:
1.6.1 Rủi ro từ phía người bán