168 Phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế  - Pdf 23

-1-
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu
hoá diễn ra rộng khắp. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố của quá trình tái
sản xuất hàng hoá và dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nước này sang nước
khác, thông qua các cam kết mở cửa thị trường.
Quá trình toàn cầu hóa là quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có sự xung
đột lợi ích giữa các nước, các nhóm nước và là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu
tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới hợp lý hơn, công bằng hơn. Khi gia
nhập vào các tổ chức thương mại trong khu vực và trên thế giới, mỗi quốc gia đều có
những mục đích riêng, nhưng nhìn chung thì các nước đều muốn hướng tới một nền
kinh tế phát triển, một xã hội văn minh, hiện đại, đời sống xã hội được cải thiện. Do
đó toàn cầu hoá vẫn tiến về phía trước, như một tất yếu khách quan. Từ thực tế này,
một câu hỏi được đặt ra trong chính sách thương mại và đầu tư của mỗi quốc gia là
tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá hay đứng ngoài tiến trình ấy? Tham gia vào tiến
trình toàn cầu hoá, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất
nhiều. Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt
đối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực như : trao
đổi hàng hóa, dịch vụ, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và khu vực, lưu
chuyển vốn quốc tế,… tạo điều kiện cho các quốc gia có thể hợp tác, trao đổi kinh
nghiệm, kỹ thuật công nghệ,… trong hoạt động kinh doanh.
Việt Nam đã có những chủ động và đang từng bước tham gia vào quá trình hội
nhập quốc tế. Trong lĩnh vực ngân hàng, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực
thúc đẩy công cuộc đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tạo điều kiện trao đổi
kinh nghiệm về vốn, kinh nghiệm quản lý, công nghệ, hoạch định chính sách tiền tệ,
… Từ đó có giải pháp phòng ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh
doanh, nâng cao uy tín kinh doanh trên thị trường tài chính quốc tế . Trong lĩnh vực
ngân hàng, với chức năng và vai trò là kênh huy động và cung ứng vốn chủ yếu cho
-2-

-3-
trạng cạnh tranh khốc liệt với các ngân hàng nước ngoài khi các ngân hàng thương
mại trong nước chưa đủ sức để cạnh tranh như về qui mô vốn, trình độ quản lý, hệ
thống công nghệ thông tin, sự hiểu biết các nghiệp vụ của một ngân hàng hiện đại
trên thế giới….
Vấn đề trọng tâm mà Luận văn muốn đề cập là làm thế nào để phát triển các
dịch vụ để ngân hàng thương mại Việt Nam có thể nâng cao năng lực cạnh tranh cho
hệ thống ngân hàng trong thời kỳ Việt Nam hội nhập quốc tế. Nghiên cứu thực trạng
hệ thống dịch vụ ngân hàng thương mại trong nước và hệ thống dịch vụ ngân hàng
nước ngoài để từ đó có thể đưa ra được những định hướng và giải pháp thích hợp
nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng thương mại trong nước về số lượng cũng như chất
lượng trong những năm tiếp theo.
3. Mục đích nghiên cứu
Việt Nam có hơn 86 triệu dân và những người có thể tiếp cận với dịch vụ
ngân hàng rất ít. Nhưng số lượng ngân hàng đang họat động và tiềm năng thực sự
nhưng chưa được sử dụng hết. hầu hết các ngân hàng quy mô còn nhỏ, dịch vụ còn
thô sơ. Ngân hàng thương mại Việt Nam tham gia hội nhập trong bối cảnh trình độ
phát triển kinh tế và công nghệ thấp, đặc biệt các dịch vụ ngân hàng còn hết sức
nghèo nàn, chưa đa dạng, phong phú, chủ yếu là các dịch vụ mang tính truyền thống (
huy động vốn và cho vay ), chất lượng dịch vụ thấp, mức độ phổ biến của dịch vụ
không cao, đối tượng sử dụng dịch vụ còn phân tán. Trong hoạt động ngân hàng, xu
thế mở rộng dịch vụ ngân hàng hiện đại đã và đang là mục tiêu phấn đấu, là lĩnh vực
cạnh tranh hiệu quả giữa các ngân hàng.
Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là sự đa dạng của các loại
hình dịch vụ (chiếm hơn 50% trên tổng thu nhập) thì thu nhập từ hoạt động cấp tín
dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam. So sánh dịch
vụ hiện có của các ngân hàng thương mại Việt Nam và dịch vụ của một số ngân
hàng nước ngoài ở các nước phát triển như Citibank, HSBC, UOB, Wachovia,
American Express …. qua đó đưa ra định hướng và giải pháp cho sự phát triển dịch
vụ ngân hàng hiện đại đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong quá trình hội nhập chính là

định hướng và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng trên cơ sở đã phân
tích thực trạng và những nguyên nhân tồn tại của hệ thống dịch vụ ngân hàng thương
mại Việt Nam nhằm đánh giá được bản chất của vấn đề đang nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Dịch vụ ngân hàng hết sức đa dạng, với nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì
dịch vụ ngân hàng cũng không ngừng cải tiến về chất lượng và phát triển về số
lượng, nên không thể giới hạn hay nêu cụ thể tất cả các dịch vụ mà ngân hàng thương
mại Việt Nam cần phải thực hiện bởi môi trường hoạt động, năng lực hoạt động của
mỗi ngân hàng là khác nhau. Đề tài nghiên cứu cần hướng đến là làm thế nào để dịch
vụ ngân hàng ngày càng trở nên đa năng và hiện đại trong thời kỳ Việt Nam hội
nhập nền kinh tế quốc tế.
7. Nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1 – Tổng quan về dịch vụ ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Chương 2 – Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam một năm sau gia nhập
WTO.
- Chương 3 – Các khuynh hướng ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng và đề xuất giải
pháp phát triển các dịch vụ của ngân hàng thương mại Việt Nam.
-6-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1. Ngân hàng thương mại :
1.1.1 Khái niệm
Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941 đã định nghĩa : “ Ngân hàng
thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: “
Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ họat động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực

chuyển tiền, thu hộ ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán … Một
số khác lại cho rằng tất cả hoạt động của ngân hàng phục vụ cho khách hàng là cá
nhân và doanh nghiệp đều gọi là dịch vụ ngân hàng.
Ngay cả Hệ thống tài khoản kế toán của ngân hàng hiện nay cũng đã có sự
phân biệt dịch vụ ngân hàng không có hoạt động từ tín dụng và các ngân hàng thương
mại khi công bố thông tin về tỷ lệ thu dịch vụ trên tổng thu nhập cũng đã bao hàm thu
dịch vụ không có thu nhập từ tín dụng. Đối với hoạt động huy động vốn và cho vay,
các ngân hàng thường tránh né sử dụng thuật ngữ “dịch vụ” mà thay vào đó là cụm từ
“sản phẩm”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành,
dịch vụ ngân hàng cũng không được định nghĩa và giải thích cụ thể. Tại khoản 1 và
khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng bao hàm cả
-8-
ba nội dung: nhận tiền gởi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán, nhưng đâu
là kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ ngân hàng thì vẫn chưa được phân định rõ
ràng.
Như vậy, dịch vụ ngân hàng sẽ được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa
hẹp.
Theo nghĩa rộng, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đối với khách hàng là doanh
nghiệp và cá nhân ( nhưng không bao gồm hoạt động tự làm cho mình của các tổ
chức tín dụng ). Quan niệm này được sử dụng để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân của một quốc gia. Quan niệm này phù hợp với
cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp
định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như của nhiều nước phát triển trên Thế
giới.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức
năng truyền thống của định chế tài chính trung gian ( huy động vốn và cho vay ).
Quan niệm này chỉ nên dùng trong phạm vi hẹp, khi xem xét hoạt động của một ngân
hàng cụ thể để xem các dịch vụ mới, phát triển như thế nào, cơ cấu ra sao trong hoạt

- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý các dữ liệu tài chính và phần
mềm liên quan được cung cấp bởi các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác.
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định khung ASEAN về
dịch vụ ( AFAS ) đã được ký kết cũng hiểu và phân loại dịch vụ tài chính ( trong đó
có dịch vụ ngân hàng ) tương tự như WTO.
Tóm lại, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính và cần phải
được hiểu theo nghĩa rộng như Luận văn đã đề cập ở phần trên.
1.2.1.3 Phân biệt nghiệp vụ ngân hàng và dịch vụ ngân hàng
Nghiệp vụ ngân hàng là các công việc chuyên môn mà cán bộ, công nhân viên
chức ngành ngân hàng phải thực hiện trong quá trình tác nghiệp. Dịch vụ ngân hàng
là các công việc ngân hàng phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của các cá
nhân, tổ chức và được thu phí.
1.2.2 Các loại dịch vụ ngân hàng
-10-
Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính nên dịch vụ ngân
hàng rất đa dạng. Với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, dịch vụ ngân hàng ngày
càng phát triển kể cả về mặt lượng và chất, nên không thể thống kê hết toàn bộ các
dịch vụ ngân hàng. Mặt khác việc áp dụng từng loại dịch vụ ngân hàng còn tuỳ thuộc
vào năng lực, quy mô… của từng ngân hàng khác nhau và tập quán, thói quen, cách
sống, thu nhập của người dân nhưng cơ bản dịch vụ ngân hàng bao gồm những loại
dịch vụ như huy động tiền gởi, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ và các
dịch vụ khác.
1.2.2.1 Dịch vụ truyền thống của ngân hàng
a/- Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ
ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra
mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một loại tiền khác, chẳng hạn Euro
hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du
lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của
quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại
tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có

của nước Anh và đưa Mỹ trở thành quốc gia có chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời
kỳ nội chiến, Quốc hội đã lập ra một hệ thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận
các ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ phục
vụ chiến tranh.
f/- Cung cấp các tài khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và
Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một
dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi
giao dịch ( demand deposit ) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc
thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khỏan tiền gửi mới
này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân
hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao
dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
g/- Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương
-12-
mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản
lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác ( trust service ). Hầu
hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá
nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp.
Thông qua phòng Ủy thác cá nhân, các khách hàng có thể tiết kiệm các khoản tiền để
cho con đi học. Ngân hàng sẽ quản lý và đầu tư khoản tiền đó cho đến khi khách
hàng cần. Thậm chí phổ biến hơn, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác
trong di chúc quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,
bảo quản các tài sản có giá, đầu tư có hiệu quả, và đảm bảo cho người thừa kế hợp
pháp việc nhan được khoản thừa kế. Trong phòng ủy thác thương mại, ngân hàng
quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và kế hoạch tiền lương cho các công ty kinh
doanh. Ngân hàng đóng vai trò như những người đại lý cho các công ty trong hoạt
động phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Điều này đòi hỏi phòng ủy thác trả lãi hoặc cổ
tức cho chứng khoán của công ty, thu hồi các chứng khoán khi đến hạn bằng cách
thanh toán toàn bộ cho người nắm giữ chứng khoán.

do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cũng cấp cho người
tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan. Một ví dụ là tài
khoản quản lý tièn mặt của Merrill Lynch, cho phép khách hàng của nó mua và bán
chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín
dụng cho khoản vay tức thời.
d/- Dịch vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh
doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê
mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đầu các qui định
yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê ( mà cuối
cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị ) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và
thuế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít
nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn. Điều đó có lợi
cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự
của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.
e/- Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc
tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao.
-14-
Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao nên chúng thường được thực
hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sự
tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự
tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về loại hình
công ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital and Citicorp Venture,Inc.
f/- Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm
tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng
vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định ở Mỹ cấm ngân hàng thương
mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các
hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như
ôtô hay nhà cửa trong tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách
hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo
đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân

hợp với mục tiêu của quỹ ( ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trị
vốn ). Trong khi quá trình phát triển của các kế hoạch trợ cấp diễn ra khá chậm do
những vụ kiện tụng bởi các đối thủ cạnh tranh chống lại sự mở rộng của ngân hàng
sang lĩnh vực dịch vụ mới này thì việc cung cấp cổ phiếu trong quỹ vốn ngân hàng
quản lý chiếm 15% tổng giá trị tài sản của quỹ tương hỗ trong những năm 90 của thế
kỷ trước. Một vài ngân hàng đã tổ chức những chi nhánh đặc biệt để thực hiện nhiệm
vụ này ( ví dụ: Citicorp’s Investment Services ) hoặc liên doanh với các nhà kinh
doanh và môi giới chứng khoán. Gần đây, hoạt động cung cấp nghiệp vụ quỹ tương
hỗ của ngân hàng đã có nhiều giảm sút do mức thu nhập không còn cao như trước, do
những qui định nghiêm ngắt hơn và đồng thời do sự thay đổi trong quan điểm đầu tư
của công chúng.
j/- Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn. Ngân hàng ngày
nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ ngân
hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn. Những dịch vụ này
bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán chứng khoán
cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán ), cung cấp công cụ
Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng. Các ngân
hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công
-16-
ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị
trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác.
Ở Mỹ, các dịch vụ ngân hàng đầu tư ( như bảo lãnh phát hành chứng khoán )
liên quan tới việc mua bán cổ phiếu mới và nợ do ngân hàng thương mại thực hiện
thay mặt cho các công ty đã bị cấm sau khi Quốc hội thông qua các Đạo luật Glass-
Steagall năm 1933. Tuy nhiên, trước áp lực lớn từ các công ty ngân hàng trong nước
hàng đầu, và do thành công của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, vào những năm
80 của thế kỷ XX Cục Dự trữ liên bang đã bắt đầu nới lỏng các quy định đối với
việc ngân hàng kinh doanh chứng khoán do khách hàng của chúng phát hành. Thông
qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, ngân hàng đã tạo cho các công ty một kênh huy
động vốn mới bên cạnh hình thức cho vay vốn truyền thống. Nhiều công ty đã đánh

cầu hóa đến họat động và phát
triển các dịch vụ của ngân hàng
thương mại Việt Nam
1.3.1 Hội nhập Quốc tế
1.3.1.1 Gia nhập WTO
Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam không chỉ liên quan đến lĩnh vực kinh
tế đối ngoại mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần
thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
Tổ chức Thương mại thế giới ( WTO ) thành lập ngày 01/01/1995 là kết quả
của vòng đàm phán Uruguay kéo dài trong suốt 8 năm ( 1986 – 1994 ). Sự ra đời của
tổ chức này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới. Nó kế thừa
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ( GATT ) năm 1947. Nhưng nó mở
rộng các lĩnh vực thương mại về nông nghiệp, hàng dệt may, dịch vụ, đầu tư sở hữu
trí tuệ mà GATT chưa đề cập đến. Sự ra đời của WTO tạo nên một cơ chế pháp lý
tương đối hoàn chỉnh, điều chỉnh các quan hệ thương mại và hàng hóa toàn cầu.
WTO là một tổ chức liên chính phủ hoạt động độc lập với tổ chức Liên hiệp quốc
-18-
( UN ). Cơ quan cao nhất củaWTO là Hội nghị Bộ trưởng kinh tế thương mại của tất
cả các thành viên, thường hai năm họp một lần.
Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO vào năm 1995 và chính thức gia
nhập WTO vào tháng 11 năm 2006.
Việc tiếp cận khu vực ngân hàng là do các quy định của GATS trong phụ lục
về dịch vụ tài chính. Các lĩnh vực cam kết là: tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia.
Nguyên tắc của WTO về tối huệ quốc ( MFN ) đòi hỏi tất cả các thành viên
phải được đối xử như nhau. Điều này khiến cho các cam kết trong USVNBTA trở
thành mức tối thiểu của GATS. Các trường hợp ngoại lệ về nguyên tắc tối huệ quốc
vẫn được chấp nhận, nhưng thông thường đối xử theo MFN cần phải áp dụng vào
một thời gian được xác định trong tương lai.
1.3.1.2 Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ

- Không hạn chế việc tham gia góp vốn của bên nước ngoài dưới hình thức tỷ lệ
phần trăm tối đa số cổ phiếu nước ngoài được nắm giữ theo nguyên tắc thoả thuận.
Các thành viên mới như Việt Nam được phép có thêm thời gian để đạt được
các cam kết chung trong hiệp định. Đối với Việt Nam, thời gian miễn trừ thực hiện
đối xử tối huệ quốc là 3 năm.
1.3.2 Ảnh hưởng của việc hội nhập quốc tế đối với ngân hàng
1.3.2.1 Hội nhập ngân hàng là một phần của phát triển kinh tế
Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vai trò của hội nhập quốc tế trong phát triển tài chính vẫn còn là điều đang còn nhiều
tranh cải. Sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài trong việc cung cấp các dịch vụ
tài chính cho một quốc gia và sự tham gia vào thị trường quốc tế của các ngân hàng
trong nước đều tạo động lực và điều kiện để chuyển giao công nghệ giữa các quốc
gia với nhau. Đối với một số quốc gia với xuất phát điểm là không có hệ thống ngân
hàng thương mại ( hệ thống ngân hàng nói chung là sự mở rộng của chính sách tài
khoá của chính phủ trong nền kinh tế mệnh lệnh ), sự chuyển giao công nghệ diễn ra
trên toàn bộ các dịch vụ ngân hàng. Đối với các nước khác, chuyển giao công nghệ là
đưa ra các sản phẩm và kỹ thuật quản lý mới.
-20-
Hệ thống tài chính và ngân hàng cạnh tranh và mở cửa là những hệ thống tài
chính tốt nhất cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Các cuộc tranh luận về tăng
trưởng kinh tế và phát triển tài chính đều ủng hộ công cuộc cải cách nhằm tạo ra các
điều kiện, theo đó sự cạnh tranh có thể lớn mạnh giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài
chính ngân hàng nước ngoài và trong nước được giám sát và quản lý an toàn.
Bằng chứng rõ ràng là sự cạnh tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng lớn hơn,
hoạt động hiệu quả hơn và lành mạnh hơn. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho phát triển và
tăng trưởng kinh tế. Do vậy, các nước đang phát triển nói chung mong muốn cải thiện
hệ thống ngân hàng như một phần nỗ lực của họ nhằm phát triển kinh tế. Cho phép
các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng nước ngoài hoạt động ở thị trường trong nước
thường là một cách hiệu quả để áp dụng cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển tài chính.
Hội nhập quốc tế là một phần quan trọng và không thể thiếu trong chiến lược phát

nước Việt Nam đã điều chỉnh tỷ lệ huy động vốn tiền gởi VNĐ đối với chi nhánh
ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam từ 25% lên 50%. Việt Nam cũng đang
cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính- ngân hàng theo lộ trình nới lỏng dần và
tiến tới xoá bỏ các hạn chế đối với hoạt động ngân hàng. Giai đoạn từ 2001 đến
2010, các ngân hàng Mỹ sẽ được thành lập các ngân hàng liên doanh với số vốn từ
30% - 49%, tới năm 2010 được thành lập ngân hàng với vốn 100% của Mỹ. Hội nhập
ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải nhanh chóng tăng quy mô,
đầu tư công nghệ, cải tiến trình độ quản lý…..Công nghệ hiện đại và trình độ quản lý
cũng như tiềm lực tài chính dồi dào của những ngân hàng nước ngoài sẽ là những ưu
thế cơ bản tạo sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng và buộc các ngân hàng Việt
Nam phải tăng thêm vốn, đầu tư kỹ thuật, cải tiến phương pháp quản trị, hiện đại hoá
hệ thống thanh toán mà đặc biệt là cải tiến và phát triển dịch vụ ngân hàng để nâng
cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, cạnh tranh trong việc sử dụng lao động ngày càng gay gắt. Mọi sự
thành công của một doanh nghiệp đều xuất phát từ yếu tố con người. Hiện nay, chế
độ đãi ngộ cho lao động đặc biệt là lao động có trình độ cao ở các ngân hàng thương
mại Việt Nam chưa đủ sức thuyết phục để lôi kéo những lao động có trình độ chuyên
môn cao.
-22-
Thứ tư, cạnh tranh trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng
quyết liệt. Ngày nay, ngoài những nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và huy động
vốn thì dịch vụ ngân hàng cũng tạo nên sắc thái mới cho ngân hàng trong chiến lược
cạnh tranh và tạo thị phần cho mình. Do đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng
phải chịu áp lực tạo nên phong cách văn hoá cho ngân hàng mình, tạo nên phong cách
phục vụ riêng thể hiện nét đặc thù của mình mới hy vọng tạo thế đứng vững chắc trên
thị trường.
1.3.2.3 Hội nhập ngân hàng là xu thế tất yếu
Việt Nam đã đi đúng con đường hội nhập quốc tế. Với Hiệp định thương mại
song phương đã ký với Mỹ ( USVN BTA ), các nghĩa vụ trong khuôn khổ Hiệp định
khung về dịch vụ ASEAN và các cuộc đàm phán gia nhập Hiệp định chung về

này đã tạo điều kiện thuận lợi giúp môi trường hoạt động ngân hàng ngày càng phát
triển. Hệ thống ngân hàng đã có những cải thiện đáng kể về năng lực, thể chế, tài
chính, hoạt động, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt
động. Nhu cầu về số lượng và chất lượng dịch vụ ngân hàng Việt Nam ngày càng
tăng. Một số dịch vụ ngân hàng hiện đại đã được triển khai và xã hội chấp nhận
( ngân hàng điện tử: home banking, mobile banking, phone banking, thẻ ATM…). Số
-24-
lượng các tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng cùng với quá trình tự
do hoá kinh tế và mở cửa thị trường tài chính trong nước.
Trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã huy động và cho vay một khối
lượng vốn lớn cho nền kinh tế, hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân phát triển, phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, thực hiện công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và giải quyết các vấn đề xã hội. Với vai trò nòng cốt trong hệ thống
tài chính, hệ thống ngân hàng là kênh huy động và phân bổ nguồn lực tài chính chủ
chốt, góp phần tạo nên những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
trong thời gian qua. Giai đoạn 2002 - 2006, dư nợ tín dụng tăng trưởng bình quân
25% / năm, đạt qui mô tại thời điểm cuối năm 2006 và tăng trưởng tiền gửi bình quân
37% / năm, đạt qui mô tại thời điểm cuối năm 2006. Doanh số thanh toán trong nước
tăng nhanh nhờ phát triển các hệ thống thanh toán điện tử ( thanh toán liên ngân
hàng, bù trừ, chuyển tiền ), bình quân gần 34% / năm. Hệ thống thanh toán điện tử
liên ngân hàng đã đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 2002, đạt khối lượng giao dịch
thanh toán trung bình.
Mặc dù có những bước tiến quan trọng về qui mô và trình độ phát triển, song
hệ thống dịch vu ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập như:
2.1.1 Hạn chế về số lượng và chất lượng dịch vụ:
Dịch vụ của hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện còn khá thô sơ,
chủng loại nghèo nàn, chủ yếu là những dịch vụ mang tính truyền thống như nhận
tiền gửi, cho vay và thanh toán.
2.1.1.1 Huy động vốn:
Tính đến cuối năm 2007, tăng trưởng huy động vốn của toàn hệ thống ngân

- Tiền gởi không kỳ hạn (thanh toán)
- Tiền ký quỹ
- Tiền gởi có kỳ hạn
1.103.576
13.242
1.090.334
2.733.133
17.895
2.715.238
6.994.030
25.275
16.056
6.952.699


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status