LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối
với các thầy cô của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô
trong khoa Pháp luật quốc tế đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm
em học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là
nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để
em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin. Và, em cũng xin tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến cô Nguyễn Vương Thùy Dương, đã tận tình hướng dẫn trong suốt
quá trình viết Khóa luận tốt nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu, cũng như là trong quá trình làm bài khóa
luận tốt nghiệp, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua. Đồng thời
do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài viết
không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp
thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn
Khóa luận tốt nghiệp sắp tới.
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
BẢNG KÍ HIỆU, CHỮ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Dân sự 2015 - Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đã được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XIII,
kì họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015.
Công ước Viên 1980 - Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
Công ước Lahaye - Công ước Lahaye 1955 về Luật áp dụng đối với các
1955
động sản hữu hình
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
BẢNG KÍ HIỆU, CHỮ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu..................................................... 5
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài. .......................................................... 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. ...................................... 8
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. .................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu. ..................................................................... 8
6. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp. ........................................................ 9
Chương 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ................................. 10
1.1. Khái quát chung về hợp đồng có yếu tố nước ngoài. ......................... 10
1.1.1. Khái niệm hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nước ngoài. ............ 10
1.1.2. Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài. ..... 17
1.2. Khái quát chung về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng. ....... 22
1.2.1. Khái niệm xung đột pháp luật về hợp đồng. ................................ 22
1.2.2. Đặc điểm của giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng. .......... 23
1.2.3. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng............ 25
Chương 2.GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ .................................................................................................... 30
2.1. Giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể khi giao kết hợp đồng
có yếu tố nước ngoài. ................................................................................... 30
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Hiện nay, Việt Nam của chúng ta đang hội nhập quốc tế sâu rộng trong
tất cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Khi tiến hành hội nhập sẽ có rất
nhiều các quốc gia tham gia. Thực tế hiện nay, mỗi một quốc gia đều có một
hệ thống quy phạm pháp luật riêng và các quy phạm pháp luật này khác với
quy phạm pháp luật của các quốc gia khác thậm chí là hoàn toàn trái ngược với
nhau. Nguyên nhân của sự khác nhau về pháp luật của mỗi quốc gia do xuất
phát từ các đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội và điều kiện lịch sử hình thành của
mỗi quốc gia đó là rất khác nhau.
Vì vậy, khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài
sẽ xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật khi pháp luật của các bên tham gia
cùng điều chỉnh một vấn đề.
Để giải quyết tốt về hiện tượng xung đột pháp luật khi điều chỉnh các
quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài đặc biệt về lĩnh vực hợp đồng có yếu
tố nước ngoài thì các quy phạm pháp luật cần phải có sự thống nhất và phù hợp
theo thông lệ của thế giới để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các chủ
thể trong và ngoài nước. Chính vì vậy, Việt Nam cần phải hoàn thiện các quy
định của pháp luật của mình khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
Gần đây, tại kì họp thứ 10 Khóa XIII diễn ra vào ngày 24 tháng 11 năm
2015, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự 2015 và chính thức có
hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2017. Bộ luật Dân sự 2015 đã có những
tiến bộ đáng kể so với Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 về những
quy định liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc ra đời của
Bộ luật Dân sự 2015 đã tháo gỡ một số những bất cấp và khó khăn nhất định
so với các Bộ luật Dân sự ban hành trước đó. Điều này đã góp phần rất lớn
trong việc hội nhập kinh tế của Việt Nam và đồng thời cũng tương thích hơn
với xu thế phát triển của pháp luật của các quốc gia trên thế giới hiện nay.
Do đó, nghiên cứu, tìm hiểu về việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp
đồng tại Việt Nam mà chủ yếu là theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 là vô
- Nguyễn Thị Thoa (2009),“Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
quốc tế bằng tòa án”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội.
- ...
Nhóm tài liệu là bài viết trên các tạp chí khoa học luật:
6
- Nguyễn Tiến Vinh, “Bàn về việc hoàn thiện các quy định trong Phần VII
Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số
5/2003, tr.45-52.
- Đỗ Văn Đại, “Tư pháp Quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh
vực hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10/2003, tr. 64-71.
- ...
Nhóm các tài liệu là giáo trình, sách tham khảo, sách chuyên khảo gồm
có:
- PGS.TS Nguyễn Bá Diến (2013), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
- PGS. TS Nguyễn Bá Diến (2010), “Giáo trình Luật Thương mại quốc
tế”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
- Hoàng Thế Liên (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
- Nguyễn Minh Tuấn (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm
2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Giáo trình Tư pháp quốc tế”,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), “Giáo trình Luật Thương mại quốc
giá việc áp dụng các quy định của pháp luật khi giải quyết xung đột pháp luật
về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo Bộ luật Dân sự 2015. Đồng thời, nêu
lên bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới khi giải quyết xung
đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Từ đó, đưa ra một số đề xuất
cho Việt Nam nhằm khắc phục một số vướng mắc khi thi hành
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng được nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật xung
đột về hợp đồng có yếu tố nước ngoài chủ yếu trong Bộ luật Dân sự 2015 và
các quy định pháp luật khác có liên quan của pháp luật Việt Nam. Cũng như
các quy phạm pháp luật của một số nước khi giải quyết xung đột pháp luật về
hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào phân tích chủ yếu các quy
định về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo
quy định của pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu.
8
Khóa luận đã sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương
pháp luật học so sánh và phương pháp thu thập thông tin để giải quyết những
vấn đề mà đề tài đặt ra. Các phương pháp này được sử dụng linh hoạt trong các
phần khác nhau của khóa luận.
Ngoài ra, khóa luận còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh
của pháp luật quốc tế và pháp luật các nước trong lĩnh vực giải quyết xung đột
pháp luật về hợp đồng. Khóa luận cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực
tiễn trong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
6. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Khóa luận tốt nghiệp bao gồm hai
chương:
Như vậy có thể thấy trong Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự 1994
của Bang Québec (Canada) đều đưa ra khái niệm về hợp đồng khá giống nhau
và cả hai mới chỉ ra một phần bản chất của hợp đồng đó là sự thỏa thuận và
thống nhất ý chí của các bên mà chưa chỉ ra được hết các dấu hiệu đặc trưng về
hợp đồng [25, tr. 17].
Các quốc gia thuộc hệ thống thông luật (Common law) như Anh, Hoa
Kỳ, Úc, Ấn Độ, định nghĩa về hợp đồng là một thỏa thuận có tính ràng buộc về
mặt pháp lý. Hợp đồng theo hệ thống common law được hình thành khi đáp
ứng những điều kiện: có đề nghị giao kết hợp đồng, có sự chấp thuận đối với
10
đề nghị giao kết hợp đồng, sự bù trừ nghĩa vụ và ý định thiết lập nghĩa vụ pháp
lý. Sự khác biệt của hệ thống luật Common law là sự bù trừ nghĩa vụ được hiểu
là một giá trị nào đó (có thể là tiền, dịch vụ hoặc một công việc) mà theo đó
mỗi bên nhận được hoặc trao đi hoặc từ bỏ theo thỏa thuận. Do đó, nếu thiếu
sự bù trừ nghĩa vụ nghĩa là một trong các bên không có nghĩa vụ theo thỏa
thuận thì hợp đồng sẽ không thực hiện được [3, tr. 51].
Ví dụ: Điều 1 -201 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform
Commercial Code of United State of America) quy định: “Hợp đồng là tổng
hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên mà nếu một
trong các bên vi phạm những nghĩa vụ này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự
cưỡng chế của pháp luật”. Và trong Bách Khoa toàn thư về pháp luật của Hoa
Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực
thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để
không làm một việc, giao một vật xác định”. Từ đó có thể thấy định nghĩa về
hợp đồng của pháp luật Hoa Kỳ đã thể hiện rõ được bản chất và mục đích cơ
bản hợp đồng [24, tr. 11].
Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc (1999) quy định: “hợp đồng là
pháp liệt kê về các loại hợp đồng nên dễ đến thiếu sót và có khả năng không
điều chỉnh được tất cả các mối quan hệ xã hội có thể xuất hiện trong tương lai.
Để khắc phục điều những thiếu sót của Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự
năm 1991 thì Bộ luật Dân sự 1995 ra đời và đưa ra một định nghĩa khác về hợp
đồng tại Điều 394 như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Định nghĩa
này sự khái quát hóa cao hơn so với Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991
đã bao quát được tất cả các loại hợp đồng trên thực tế và vẫn được giữ nguyên
trong Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy định nghĩa về
hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 hoàn toàn giống
với định nghĩa về hợp đồng quy định tại Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Nga
(1994). Đến Bộ luật Dân sự 2015 thay vì sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự”
như Bộ luật Dân sự 2005 thì chỉ dùng thuật ngữ “hợp đồng”. Từ đó thể hiện
tính khái quát hóa cao hơn so với Bộ luật Dân sự 2005 như việc thay đổi này
cũng không thay đổi bản chất và ý nghĩa của hợp đồng. Cụ thể, theo Điều 385
quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể kết luận hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự. Nội dung của hợp đồng là sự thể hiện kết quả của quá trình thương thảo,
12
đàm phán và thống nhất ý chí giữa các bên với nhau. Tuy nhiên, những điều
khoản thỏa thuận của hợp đồng không được vi phạm những điều cấm của pháp
luật và phải có ít nhất hai bên chủ thể tham gia trở lên.
Hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hợp đồng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có
yếu tố nước ngoài. Vì vậy, để hiểu được khái niệm hợp đồng có yếu tố nước
dùng thuật ngữ nào cũng thể hiện bản chất của mối quan hệ hợp đồng trong tư
pháp quốc tế. Theo đó, về xung đột pháp luật hoặc áp dụng pháp luật nước
ngoài được co là những đặc trưng của quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế
[53, tr. 409].
Hiện nay, chưa có một cách hiểu thống nhất chung giữa các quốc gia về
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Bởi mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống
pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có hợp đồng để điều
chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài và dẫn đến sự không giống nhau giữa các
quốc gia. Điều này có thể bắt nguồn từ việc mỗi quốc gia hệ thống pháp luật
khác nhau do điều kiện, hoàn cảnh kinh tế khác nhau. Vậy ta có thể xem xét
yếu tố nước ngoài thông qua một số điều nước quốc tế và pháp luật của một số
quốc gia [53, tr. 410].
Điều 1 Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc tế hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế quy định:
“1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa
các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của
nước thành viên Công ước này.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không
tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã
hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao
đổi thông tin giữa các bên.
3. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính
chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định
phạm vi áp dụng của Công ước này”.
Theo quy định của Điều 1 Công ước Viên 1980 thì yếu tố quốc tế có thể
được hiểu là các yếu tố về trụ sở thương mại của các bên chủ thể liên quan tới
14
đồng có yếu tố nước ngoài. Hợp đồng có yếu tố nước ngoài được xác định dựa
vào yếu tố kinh tế thì hợp đồng này phải liên quan đến lợi ích thương mại quốc
15
tế. Ví dụ như hợp đồng mua bán giữa một công ty thực phẩm đông lạnh của
Pháp và công ty Anh được coi là hợp đồng có yếu tố nước ngoài nếu có sự
chuyển dịch tài sản ra khỏi phạm vi lãnh thổ của Pháp [25, tr. 26].
Hệ thống pháp luật Nga cũng không có định nghĩa cụ thể về hợp đồng
có yếu tố nước ngoài. Theo pháp luật Nga, hợp đồng có yếu tố nước ngoài là
hợp đồng căn cứ vào các bên tham gia hợp đồng là người nước ngoài hoặc pháp
nhân nước ngoài, căn cứ vào trụ sở kinh doanh của các bên và căn cứ vào yếu
tố điều chỉnh công đối với các giao dịch ngoại thương [55, tr. 73-74].
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, yếu tố “quốc tế” trong một hợp
đồng đã được xác định và ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lí khác nhau. Tuy
nhiên các quy định về dấu hiệu nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế làm
cơ sở để xác định quan hệ hợp đồng trong tư pháp quốc tế nói chung và trong
quan hệ hợp đồng nói riêng, cần xem xét một số quy định trong Bộ luật Dân sự
2015.
Quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại Khoản
2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước
ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam
nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại
nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam
nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
ngoài;
- Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có nơi cư trú ở các nước khác nhau,
nếu là cá nhân, hoặc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau nếu là pháp
nhân;
- Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng theo pháp
luật nước ngoài;
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài.
Tóm lại, hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa
rộng có yếu tố nước ngoài [53, tr. 415].
1.1.2. Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới và các điều ước
quốc tế thừa nhận trong quan hệ pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng
17
có yếu tố nước ngoài nói riêng thì các bên đều có quyền tự do thỏa thuận và
thống nhất ý chí tất cả các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của bên. Các thỏa thuận
trong hợp đồng có hiệu lực ràng buộc các bên trong quan hệ hợp đồng nếu các
bên vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng sẽ có chế tài pháp luật để bảo đảm
thi hành. Tuy nhiên, nội dung của thỏa thuận không được trái với các quy định
của pháp luật. Để được pháp luật công nhận và bảo đảm thi hành cũng như bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên thì hợp đồng phải được sự điều chỉnh
của một hệ thống pháp luật nhất định. Vì thế, việc xác định pháp luật áp dụng
đối với hợp đồng là vô cùng cần thiết. Bởi ngoài mục đích để xác định giá trị
pháp lý của hợp đồng còn có ý nghĩa điều chỉnh những tranh chấp có thể phát
sinh trong quá trình xác lập, giao kết và thực hiện hợp đồng mà các bên không
thể dự tính hết được khi ký kết hợp đồng. Hơn nữa, điều này rất quan trọng vì
các chủ thể trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài thường đến từ các quốc gia
khác nhau và được sự điều chỉnh hệ thống pháp luật khác nhau.
Hải 2005, Luật Đầu tư 2010... và hàng loạt các văn bản dưới luật khác.
Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng
Theo công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế thì: Điều ước
quốc tế là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và
các chủ thể của luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận
đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hay nhiều văn kiện có
quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn
kiện đó. Như vậy, điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia
và chủ thể khác của luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy
phạm gọi là quy phạm điều ước. Điều ước quốc tế có thể là phổ cập hoặc không
phổ cập, toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương.
Bên cạnh pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế cũng là nguồn quan trọng
để điều chỉnh quan hệ pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Sự xuất
hiện ngày càng nhiều các điều ước quốc tế để điều chỉnh các quan hệ từ hợp
đồng có yếu tố nước ngoài thể hiện sự nỗ lực to lớn của các quốc gia trong việc
thống nhất hóa các quan hệ pháp luật nhằm đơn giản hóa và hài hòa hóa các
quan hệ pháp luật điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài. Từ
đó góp phần thức đậy giao lưu dân sự, thương mại quốc tế phát triển.
Điều ước quốc tế thường chia thành hai loại đó là các điều ước quốc tế
song phương và các điều ước quốc tế đa phương.
Điều ước quốc tế đa phương: Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hợp
đồng thường chứa các quy phạm thực chất thống nhất (trong những điều ước
19
quốc tế loại này thì một vấn đề phát sinh từ hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì
sẽ có quy định trực tiếp điều chỉnh) và các quy phạm xung đột (trong đó quy
định các nguyên tắc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng). Hiện nay có tất nhiều
- Hiệp định về tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự
giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mông Cổ;....
Tập quán quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng
Bên cạnh pháp luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế thì tập quán quốc
tế cùng là một trong các nguồn quan trong trọng để điều chỉnh đối với hợp đồng
có yếu tố nước ngoài. Tập quán quốc tế là những quy tắc ứng xử sự được hình
thành từ lâu đời, được sử dụng thường xuyên, liên tực và được các quốc gia
trên thế giới thừa nhận rông rãi. Tập quán quốc tế xuất hiện chủ yếu trong lĩnh
vực thương mại và hàng hải [53, tr. 43].
Các quy phạm tập quán phổ biến được áp dụng trong lĩnh vực thương
mại quốc tế và lĩnh vực hợp đồng nói riêng như: Ví dụ: Bộ nguyên tắc hợp
đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC) do Viện thống nhất về tư
pháp quốc tế UNIDROIT ban hành đưa ra những quy phạm chung nhằm điều
chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế; Quy tắc về các điều kiện thương mại quốc
tế Incorterms ( international commerical terms) - Incorterms quy định những
điều kiện thương mại thông dụng nhất trong mua bán hàng hóa quốc tế như
FOB, CIF, EXW, DAP, DAT… nhằm giúp các bên trong mua bán hàng hóa
quốc tế có cách hiểu thống nhất về tập quán mua bán hàng hóa quốc tế; hay
các tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP – The uniform
customs and practice for documentary credits) của Phòng Thương mại Quốc tế
(ICC)...
Án lệ quốc tế và các nguồn bổ trợ khác trong lĩnh vực hợp đồng
Bên cạnh các văn bản pháp luật, án lệ quốc tế cũng được xem là nguồn
quan trọng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ tư pháp
quốc tế về hợp đồng nói riêng. Đặc biệt ở các quốc gia theo hệ thống pháp luật
Common Law như Hoa Kì, Anh ... mặc dù cũng có hệ thống pháp luật thành
văn để điều chỉnh các quan hệ về hợp đồng nhưng án lệ cũng giữ một vai trò
quan trọng trong việc điều chỉnh pháp luật và coi là nguồn chủ yếu của pháp
tượng xung đột pháp luật giữa các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng.
“Xung đột pháp luật” (conflict of laws) là một thuật ngữ thuộc chuyên
ngành tư pháp quốc tế được sử dụng ở một số quốc gia với mục đích dùng để
giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.
Theo PGS.TS. Nguyễn Bá Diến thì “Xung đột pháp luật là hiện tượng
có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ Tư
pháp Quốc tế cụ thể và giữa các hệ thống pháp luật này có sự khác biệt về các
quy định khi giải quyết vấn đề” [21, tr. 93].
22
Còn theo TS. Vũ Thị Phương Lan thì “Xung đột pháp luật là hiện tượng
hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp
dụng để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoàiquan hệ tư pháp quốc tế pháp luật này hay quan hệ pháp luật khác” [53, tr.
50].
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể nhận thấy xung đột là hiện tượng
xảy ra khi có từ hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ
pháp luật mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật có sự khác nhau
và quan hệ pháp luật này là quan hệ có yếu tố nước ngoài. Và cũng từ cách hiểu
về xung đột pháp luật này mà có thể định nghĩa xung đột pháp luật về hợp đồng
trong tư pháp quốc tế là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các
quốc gia khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng.
1.2.2. Đặc điểm của giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng
Xung đột pháp luật về hợp đồng trong tư pháp quốc tế được hiểu là hiện
tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng có
thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Vấn đề đặt ra là khi có hai
hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cùng điều chỉnh về
quan hệ hợp đồng thì pháp luật của quốc gia nào sẽ được áp dụng để xác định
tính hợp pháp của hợp đồng đó.
lực của các chủ thể đối với giao kết hợp đồng có yếu tố nước ngoài thường xảy
ra vì mỗi một quốc gia khác nhau sẽ có những quy định khác nhau về xác định
năng lực chủ thể khi giao kết hợp đồng [53, tr. 416 - 417].
Thứ hai, về nội dung hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Nội dung hợp đồng
là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa
thuận. Theo quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì các bên trong
quan hệ hợp đồng có thế tự do lựa chọn luật áp đối với hợp đồng. Tuy nhiên
trên thực tế, các bên thường có xu hướng lựa chọn hệ thống pháp luật quen
thuộc với mình đó chính là pháp luật của quốc gia mình hoặc lựa chọn các điều
ước, công ước quốc tế phổ biến trên thế giới, vì các quy định của những công
ước, điều ước này rõ ràng đã được thừa nhận chung để làm luật áp dụng đối với
hợp đồng. Việc lựa chọn luật áp dụng này có thể dẫn đến xung đột pháp luật vì
pháp luật quốc gia của các chủ thể có những quy định khác nhau.
Trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài do bị sự điều chỉnh của nhiều hệ
thống pháp luật khác nhau nên hiện tượng xung đột pháp luật về nội dung của
hợp đồng xảy ra là điều khá thường xuyên. Cho nên khi xem xét tính hợp pháp
về nội dung của hợp đồng cần phải xác định luật của nước nào sẽ được áp dụng
sẽ được đặt ra. Về mặt lí luận, sẽ có nhiều hệ thống pháp luật có thể được áp
24
dụng như: luật nhân thân của các bên giao kết hợp đồng (Lex personalis), luật
nơi giao kết hợp đồng (lex loci contractus), luật nơi có tài sản (Lex rei sitae),
luật tòa án (Lex fori)… và việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào được áp dụng
để giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng sẽ phụ thuộc và quy
định của pháp luật của mỗi quốc gia [53, tr. 416].
Thứ ba, về hình thức hợp đồng trong tư pháp quốc tế. Hình thức của hợp
đồng là cách thức thể hiện sự thỏa thuận của các bên. Nó ghi nhận, lưu trữ,
truyền tải nội dung hợp đồng. Trên thực tế, hình thức của hợp đồng rất đa dạng