MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục………………………………………………………………………..1
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………...4
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản của việc giải quyết xung đột
pháp luật về thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài…………………………………7
1.1. Khái niệm xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài…………7
1.1.1. Khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài……………………...7
1.1.2. Định nghĩa xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài..........15
1.1.3. Nguyên nhân xuất hiện xung đột pháp luật..........................................16
1.1.4. Cách thức giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước
ngoài................................................................................................................19
1.2. Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế yếu tố nước ngoài có ở một số
nước trên thế giới.............................................................................................23
1.2.1. Cách thức giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu
tố nước ngoài ở một số nước trên thế giới.......................................................23
1.2.2. Cách thức giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật có
YTNN ở một số nước trên thế giới..................................................................27
Chƣơng 2. Thực trạng của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột
pháp luật về thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài..................................................29
2.1.
Quá trình phát triển pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp
luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài...............................................................29
2.1.1. Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo
pháp luật Việt Nam..........................................................................................29
2.1.2. Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo các
điều ước quốc tế mà Việt Nam đó ký kết hoặc tham gia.................................37
tương
trợ
tư
pháp................................63
2.4. Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết vấn đề di sản không người
thừa kế có yếu tố nước ngoài...........................................................................66
Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải
quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài.......................70
3.1. Những quan điểm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột
pháp
luật
về
thừa
kế
theo
pháp
luật
có
tố
nước
ngoài.........................74
3.2.1. Phương hướng của việc chọn giải pháp cho xung đột pháp luật về thừa
kế
theo
pháp
luật
trong
Tư
Nam.........................................74
2
pháp
quốc
tế
Việt
yếu
tố
nước
ngoài................................................92
KẾT LUẬN ...................................................................................................96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................97
3
MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự:
Trong suốt quá trình phát triển của xã hội thì trong hai thế kỷ trở lại
đây, do xu hướng toàn cầu hóa cùng với sự phát triển về kinh tế chính trị dẫn
đến một sự hội nhập giao lưu vô cùng sâu rộng, các mối quan hệ không chỉ bó
hẹp trong lãnh thổ quốc gia mà nó càng ngày càng phát triển. Từ việc phát
triển của công pháp quốc tế kéo theo sự phát triển của tư pháp quốc tế, từ
những vấn đề kinh tế thương mại dẫn đến nảy sinh những vấn đề về lao động,
hôn nhân gia đình, thừa kế…là những mối quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài. Xuất phát từ việc các quốc gia muốn bảo vệ quyền lợi của các công
dân nước mình đến việc các quốc gia muốn thu hút sự giao lưu đặc biệt mục
tiêu phát triển kinh tế…Từ nhu cầu đó các quốc gia đã tích cực xây dựng
những điều ước song phương và đa phương trong lĩnh vực tư pháp quốc tế.
Mặc dù vậy trong lĩnh vực thừa kế có yếu tố nước ngoài vẫn còn thiếu những
điều ước điều chỉnh thu hút nhiều quốc gia làm thành viên. Ngoài một số điều
ước đã được ban hành cách đây khá lâu và lượng thành viên tham gia không
nhiều như: Công ước LaHay năm 1892 (được sửa đổi năm 1894, 1900, 1925,
5
- Phân tích những vấn đề lý luận của việc giải quyết xong đợt pháp luật về
thừa kế có yếu tố nước ngoài;
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về
thừa kế có yếu tố nước ngoài.
4. Cơ cấu của luận văn:
Luận văn có cơ cấu như sau: Phần mở đầu, ba chương, kết luận và danh mục
tài liệu tham khảo.
Nội dung chính bao gồm ba chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản của việc giải quyết xung đột pháp
luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
- Chương 2. Thực trạng của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp
luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
- Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải
quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
6
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA VIỆC GIẢI
QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố
nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài:
Quyền sở hữu có sự chấp thuận về quan hệ đối với quyền thừa kế. Đặc
điểm phát sinh của sự thừa kế được dẫn tới không chỉ trong luật dân sự, mà
còn trong một bộ phận của luật các quan hệ sở hữu và các quan hệ thừa kế
quốc tế hiện hành trong một cấp độ có liên quan tương hỗ mang ý nghĩa quan
trọng.
Các dạng thể thừa kế như thừa kế theo chúc thư (di chúc) và thừa kế
theo luật định. Thừa kế theo chúc thư thuộc loại thừa kế cơ bản. Sự khởi đầu
thừa kế theo chúc thư được tìm thấy đó là căn cứ vào hiến pháp và luật phổ
biến nhất, là mối tương hòa của hai nguyên tắc cơ bản: quyền tự do được diễn
đạt trong di chúc và bảo vệ lợi ích gia đình. Một điều thực tế là, trong tất cả
các nhà nước khác, di chúc một mặt được coi như là tâm nguyện, mặt khác
được coi như là hành động ý chí của người viết chúc thư. Chính các hình thái
của bản di chúc đã được phân biệt mang tính nguyên tắc theo luật định của
các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, luật thừa kế cũng như luật gia đình, trong
một cấp độ rất lớn lao, có nhiều mối liên quan rất phức tạp đối với các truyền
thống dân tộc cũng như các phong tục, tập quán của nó và cũng bởi vì rất khó
khăn để đi tới thống nhất hóa.
8
Sự thừa kế theo luật định có một tầm quan trọng đặc biệt. Về cơ bản mà
nói; nó được thực hiện khi không có di chúc; trong trường hợp thừa nhận sự
vô hiệu của nó; sự phủ nhận của người thừa kế theo di chúc từ bản di chúc
được chấp nhận; trong trường hợp các di chúc về các phần tài sản thực tế mà
nói, ở tất cả các quốc gia vốn tồn tại một khái niệm về nghĩa vụ tất yếu, đó là
nguyên tắc tự do di chúc bị hạn chế nhằm có lợi cho các thành viên gia đình
của người thừa kế. Sự ban hành luật của nhiều nước khác nhau cũng khẳng
định khác nhau sự quay vòng của thừa kế theo luật định và vòng xoay tất yếu
của những người được hưởng thừa kế.
ngược lại, những người thừa kế có quyền đồng ý nhận toàn bộ di sản được
thừa hưởng hoặc chỉ nhận một phần hoặc khước từ việc thừa hưởng di sản từ
người chết đó là sự tôn trọng ý chí của người thừa kế.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về quyền thừa kế:
Mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình cho người khác và mọi cá
nhân đều có quyền bình đẳng trong việc thừa hưởng tài sản theo di chúc tức là
bất kỳ cá nhân nào cũng được nhận tài sản theo ý chí của người chết. Còn sự
bình đẳng trong việc hưởng di sản là tất cả những người thừa kế theo quy định
của pháp luật đều có quyền hưởng phần tài sản bằng nhau.
Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở
thừa kế: Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản
giữa người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản đương nhiên
phải là người còn sống. Việc dịch chuyển di sản từ người chết này sang người
chết khác là không thực hiện được. Tiếp đó là việc người còn sống đó phải
còn sống ở thời điểm mở thừa kế, có thể người thừa kế đã chết nhưng khi mở
thừa kế thì ông ta còn sống hoặc đã chết hay mất tích nhưng chưa bị tuyên bố
là đã chết hoặc ngày tuyên bố người đó chết là sau ngày mở thừa kế, khi đó
10
việc chuyển giao di sản cho ông ta vẫn được thực hiện và nó sẽ được tính vào
tài sản của người đó.
Người thừa kế có quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: Quyền
luôn luôn đi kèm với nghĩa vụ. Do đó những người thừa kế có quyền thừa
hưởng di sản để lại từ người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật, phần di
sản họ được hưởng có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau tùy theo ý chí của
người chết. Đồng thời họ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại, nghĩa vụ tài sản họ phải thực hiện sẽ tùy theo phần mà họ được hưởng.
Nếu người thừa kế khước từ hoặc không được nhận phần di sản để lại của
Thứ hai, trong các mối quan hệ đó thường có các công dân và pháp
nhân của các quốc gia khác nhau. Đây là các mối quan hệ mang tính chất dân
sự. Các chủ thể tham gia trong các mối quan hệ này không có chủ quyền và vì
vậy, địa vị pháp lý của họ hoàn toàn bình đẳng với nhau. Về nguyên tắc,
quyền năng chủ thể của những chủ thể này phụ thuộc chủ yếu vào pháp luật
của quốc gia mà họ mang quốc tịch. Những quan hệ này đòi hỏi cần phải có
sự điều chỉnh pháp luật mang tính đặc trưng riêng cho những quan hệ đó.
Trong tư pháp quốc tế các vấn đề chủ yếu được đặt ra để giải quyết bao
gồm: năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của các thể nhân và pháp
nhân nước ngoài; các vấn đề về sở hữu của các thể nhân và pháp nhân nước
ngoài; các vấn đề trong lĩnh vực kinh tế-thương mại như quan hệ tài chính, tín
dụng, ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư ...; các vấn đề trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
(quyền tác giả và sở hữu công nghiệp ...); vận chuyển hàng hóa quốc tế; các
vấn đề về thừa kế, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; các vấn đề tố
tụng (toà án và trọng tài) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thể nhân
và pháp nhân nước ngoài v.v. Khoa học pháp lý xếp những quan hệ mang tính
tài sản và những quan hệ nhân thân không mang tính tài sản của các thể nhân
12
và pháp nhân là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự theo nghĩa rộng. Ở
đây chúng ta thấy các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế
và pháp luật dân sự theo nghĩa rộng không có yếu tố nước ngoài không phải là
đồng nhất. Tư pháp quốc tế không điều chỉnh tất cả các mối quan hệ mang
tính tài sản mà chỉ là những mối quan hệ mang tính tài sản có yếu tố nước
ngoài, trong đó có quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Cũng cần phải hiểu một cách đầy đủ rằng quan hệ thuộc đối tượng điều
chỉnh của tư pháp quốc tế là quan hệ cùng một lúc phải thỏa mãn hai điều
kiện là có tính quốc tế và phải là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng.
ở nước ngoài với công dân nước ngoài hoặc với người không quốc tịch hoặc
với công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài.
Yếu tố nước ngoài về mặt khách thể được thể hiện trong trường hợp khi
tài sản đối tượng của quan hệ thừa kế ở nước ngoài (điều này không phụ thuộc
vào việc các chủ thể là ai, cư trú ở đâu, hoặc sự kiện pháp lý làm pháp sinh,
thay đổi hay chấm dứt quan hệ xảy ra ở đâu). Ví dụ, toà án Việt Nam giải
quyết vụ tranh chấp về thừa kế đối với động sản ở nước ngoài giữa hai công
dân Việt Nam cùng cư trú ở Việt Nam (hoặc giữa các chủ thể trên với nhau).
Yếu tố nước ngoài về mặt sự kiện pháp lý được thể hiện khi sự kiện
pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mối quan hệ thừa kế xảy ra ở
nước ngoài (điều này không phụ thuộc vào việc người để lại di sản và người
thừa kế di sản là ai, cư trú ở đâu, hoặc di sản thừa kế ở Việt Nam hay ở nước
ngoài). Ví dụ, toà án Việt Nam giải quyết một vụ thừa kế theo di chúc được
xác lập ở nước ngoài.
Trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng như quan
hệ thừa kế nói chung, người thừa kế có quyền và nghĩa vụ tài sản do người
14
chết để lại: quyền luôn luôn đi kèm với nghĩa vụ. Do đó những người thừa kế
có quyền thừa hưởng di sản để lại từ người chết theo di chúc hoặc theo pháp
luật, phần di sản họ được hưởng có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau tùy
theo ý chí của người chết. Đồng thời họ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại, nghĩa vụ tài sản họ phải thực hiện sẽ tùy theo phần mà
họ được hưởng. Nếu người thừa kế khước từ hoặc không được nhận phần di
sản để lại của người chết thì họ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản
của người chết.
Vấn đề pháp luật về thừa kế nhìn chung mỗi quốc gia có những quy
định riêng có khi là không giống nhau. Đặc biệt cùng với đó là quá trình hội
Hiện tượng này xảy ra trong tri thức các quan toà, các nhà chức trách
có thẩm quyền và các bên tham gia quan hệ.
Đối với các quan toà, vấn đề xung đột pháp luật đặt ra, vì để xác định
quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên (trên cơ sở đó các tranh chấp sẽ được
giải quyết), các quan toà sẽ phải căn cứ vào một hệ thống pháp luật xác định
trong các hệ thống pháp luật có liên quan.
Ví dụ: một công dân Việt Nam kiện một công dân nước ngoài về việc
chia di sản thừa kế, song công dân nước ngoài bác đơn kiện với lý do di sản
thừa kế thuộc về mình trên cơ sở pháp luật của quốc gia mà công dân trên có
quốc tịch. Rõ ràng để giải quyết vụ kiện, các quan toà Việt Nam phải xác định
xem pháp luật Việt Nam hay pháp luật nước ngoài cần được áp dụng để giải
quyết.
Đối với các bên khi ký kết hợp đồng, khi thực hiện hợp đồng và khi
giải quyết tranh chấp, vấn đề đặt ra với họ cũng như vậy - quyền và nghĩa vụ
cụ thể cần căn cứ theo pháp luật của quốc gia nào?
16
1.1.3. Nguyên nhân xuất hiện xung đột pháp luật
Có hai nguyên nhân làm xuất hiện xung đột pháp luật về thừa kế có yếu
tố nước ngoài: 1) Pháp luật nội dung (hay còn gọi là pháp luật vật chất) về
thừa kế của các quốc gia hữu quan khác nhau; 2) Có sự phát triển các quan
hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
Đó là hai điều kiện cần và đủ để xuất hiện xung đột pháp luật. Nguyên
nhân thứ nhất luôn luôn tồn tại bởi vì pháp luật các quốc gia khác nhau luôn
được xây dựng không giống nhau. Ví dụ: trong lĩnh vực thừa kế, có quốc gia
quy định hai hàng thừa kế có quốc gia quy định ba hàng thừa kế; có quốc gia
quy định thừa kế thế vị có quốc gia không thừa nhận; các yêu cầu pháp luật về
hình thức và nội dung di chúc cũng có thể khác nhau.
nước ngoài rất khác nhau về hàng thừa kế, về hình thức và nội dung di chúc,
nhưng các quan hệ thừa kế phát sinh không có yếu tố nước ngoài, thì rõ ràng
không xuất hiện tình trạng pháp luật của hai hay nhiều quốc gia (pháp luật
Việt Nam hay nước ngoài) cùng có thể điều chỉnh một mối quan hệ.
Vào thời Phong kiến, các quốc gia chủ yếu thực hiện chính sách kinh tế
tự cung, tự cấp, sự giao lưu dân sự khác cũng ít phát triển trong quan hệ giữa
các quốc gia, hiện tượng xung đột pháp luật không phát triển như một hiện
tượng thường xuyên. Tới thời kỳ tư bản chủ nghĩa-thời kỳ của sự phát triển
mạnh mẽ quan hệ thương mại trong phạm vi một quốc gia cũng như trên
phạm vi toàn thế giới, vấn đề xung đột pháp luật thường xuyên nảy sinh trước
các quan toà, các bên và, cuối cùng, các nhà làm luật.
Ngược lại, nếu chỉ có nguyên nhân thứ hai mà không có nguyên nhân
thứ nhất thì cũng không xuất hiện xung đột pháp. Ví dụ, có việc tranh chấp về
di sản thừa kế giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài, nhưng, giả
18
dụ, pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài đó đều quy định giống nhau
về hình thức cũng như nội dung di chúc, thì tình huống pháp luật của Việt
Nam hay pháp luật nước ngoài cần được áp dụng để điều chỉnh các vấn đề
trên không đặt ra trước các quan toà hoặc các bên, bởi khi đó áp dụng pháp
luật của bất kỳ quốc gia nào trong số quốc gia đó đều cho một kết quả giống
nhau. Tất nhiên, nguyên nhân thứ nhất bao giờ cũng tồn tại, bởi pháp luật các
quốc gia được hình thành trên nền tảng các truyền thống phong tục và các
điều kiện chính trị, kinh tế xã hội khác nhau. Bởi vậy, vấn đề khi nào xuất
hiện hiện tượng xung đột pháp luật chỉ còn phụ thuộc vào thời điểm xuất hiện
điều kiện thứ hai. Thời điểm này ở các quốc gia về từng vấn đề phụ thuộc vào
giai đoạn lịch sử chung của nhân loại, chính sách và các điều kiện khác nhau
của từng quốc gia. Vấn đề còn lại là các quốc gia giải quyết tình huống đó
Áp dụng các quy phạm xung đột (quy phạm do từng quốc gia đơn
phương xây dựng, hoặc quy phạm xung đột do các quốc gia thoả thuận xây
dựng trong các điều ước quốc tế, tập quán pháp quốc tế) sẽ tìm ra hệ thống
pháp luật cần thiết trong số các hệ thống pháp luật liên quan tới mối quan hệ
để giải quyết vụ việc. Và, như vậy, xung đột pháp luật được giải quyết.
Ví dụ, trong lĩnh vực quyền thừa kế có yếu tố nước ngoài, khi công dân
Việt Nam tranh chấp di sản thừa kế với công dân Nhật, vấn đề xung đột pháp
luật đặt ra ở đây là pháp luật của Việt Nam hay pháp luật của Nhật điều chỉnh
vấn đề phân chia di sản thừa kế. Để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật đó,
các quan toà Việt Nam sẽ áp dụng quy phạm xung đột về thừa kế có yếu tố
nước ngoài trong Bộ luật Dân sự của nước ta năm 2005 (giả dụ không có điều
ước quốc tế về vấn đề này).
20
Các quốc gia có thể ký kết các điều ước quốc tế để xây dưng các quy
phạm xung đột nhằm mục đích giải quyết xung đột pháp luật. Các quy phạm
xung đột như vậy được gọi là các quy phạm xung đột được thống nhất hoá.
Các quy phạm xung đột được thống nhất hoá không chỉ giải quyết đựơc xung
đột pháp luật mà còn giải quyết được hiện tượng xung đột của xung đột.
Hiện tượng xung đột của xung đột được hiểu là hiện tượng pháp luật
xung đột của hai hay nhiều quốc gia cũng có thể điều chỉnh một mối quan hệ
mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài.
Quy phạm xung đột như vậy là quy phạm xung đột được thống nhất
hoá vì nó được áp dụng để thay thế vị trí của quy phạm xung đột Việt Nam về
vấn đề trên.
Việc áp dụng các quy phạm xung đột để giải quyết xung đột pháp luật
về thừa kế có yếu tố nước ngoài là phương thức phổ biến hiện nay trên thế
giới. Bởi phương thức này cho phép chúng ta giải quyết các vấn đề thừa kế có
nguyên tắc lựa chọn pháp luật chung trong lĩnh vực quyền sở hữu - nguyên
tắc nơi có tài sản.
Áp dụng các quy phạm xung đột hoặc nguyên tắc điều chỉnh các quan
hệ xã hội tương tự (cách thứ nhất và cách thứ ba) có ưu điểm là xác định hệ
thống pháp luật phù hợp với truyền thống, phong tục và trình độ phát triển (ví
dụ: nguyên tắc quốc tịch hoặc nơi cư trú trong lĩnh vực thừa kế ...).
Tuy nhiên, cách thức này cũng có điểm hạn chế là khó xác định quyền
và nghĩa vụ cụ thể của các bên, bởi vì, các quan toà (hoặc các bên) phải thông
qua quy phạm xung đột mới xác định được hệ thống pháp luật cần thiết và
trên cơ sở hệ thống pháp luật đó, mới xác định được quyền và nghĩa vụ các
bên (đó là chưa kể tới các vấn đề khác phải giải quyết khi xác định hệ thống
pháp luật đó, như vấn đề điều bảo lưu trật tự công cộng, dẫn chiếu trở lại và
22
dẫn chiếu tới nước thứ ba...). Bởi vậy, cách thức này sẽ phát huy tác dụng
trong các lĩnh vực có liên quan mật thiết tới truyền thống phong tục của các
quốc gia.
Áp dụng các quy phạm thực chất thống nhất để giải quyết xung đột
pháp luật có ưu điểm nổi bật là dễ xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Ví
dụ, trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả, các quốc gia cứ căn cứ theo thời hạn
quy định trong Công ước Bec nơ để tiến hành bảo vệ quyền tác giả mà không
cần phải chú ý tới các quy định của pháp luật các quốc gia hữu quan (kể cả
quy phạm thực chất cũng như quy phạm xung đột của quốc gia đó).
Tuy nhiên, áp dụng cách này cũng có nhược điểm là không phù hợp
với truyền thống phong tục của các quốc gia (khuôn mẫu chung khó có thể
phù hợp với truyền thống phong tục của hai quốc gia khác nhau...). Bởi vậy,
cách thức này sẽ thuận tiện trong các lĩnh vực ít liên quan tới truyền thống
phong tục (Ví dụ, trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, ngoại thương ...).
(chủ yếu là pháp luật nơi cư trú của người để lại di sản). Đối với di sản là bất
động sản thì hệ thuộc luật được lựa chọn điều chỉnh là luật nơi có tài sản. Cụ
thể hơn theo Điều 999 Bộ luật Dân sự Pháp quy định Công dân Pháp đang ở
nước ngoài có thể lập di chúc bằng văn bản ký tứ theo quy định tại Điều 970
Bộ luật Dân sự Pháp hoặc bằng văn bản công chứng theo hình thức thường
dùng tại nơi người đó lập di chúc.
c. Với pháp luật của Hy Lạp:
Pháp luật của Hy Lạp cũng giống như của Bồ Đào Nha cùng quy định
theo hai tiêu chí là động sản và bất động sản nhưng với động sản hệ thuộc luật
24
được lựa chọn là nước mà người để lại di sản là công dân trước khi chết còn
với bất động sản thì hệ thống luật nơi có di sản thừa kế được áp dụng.
d. Với pháp luật của Nga:
Quyền thừa kế của những người nước ngoài ở Liên bang Nga và các
công dân Nga ở nước ngoài:
Quy tắc cơ bản của luật thừa kế ở Nga quy định tại Chương V Bộ luật
Dân sự Liên bang Nga. Trong luật của Nga quy định chế độ của Nhà nước đối
với những người thừa kế nước ngòai. Quy chuẩn này mang tính sắc lệnh và có
thể làm nền tảng cho những vấn đề khác. Tuy nhiên, trên thực tế chế độ Nhà
nước được thiết lập đều phù hợp với các thỏa hiệp quốc tế. Trên cơ sở chế độ
Nhà nước, các giải pháp khác được xem xét và quyết định. Trong bối cảnh
các quan hệ thừa kế, nguyên tắc của sự tham khảo các văn bản nước ngoài sẽ
được thực thi.
Quyền thừa kế đối với người nước ngoài ở Nga và các công dân Nga ở
nước ngoài chủ yếu được điều chỉnh theo hiến pháp cũng các điều ước khác
để hỗ trợ luật. Các tình huống thỏa thuận tay đôi của Liên bang Nga về việc
hỗ trợ luật nằm trong bối cảnh xung đột pháp luật quan hệ thừa kế. Theo đó: