Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 – 2014)

Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Bùi Thị Mỹ Hương
Bộ môn Luật Thương Mại

Sinh viên thực hiện:
Lê Hoàng Phú Sang
MSSV: 5105995
Lớp: Luật Thương mại 1
Khóa 36
Cần Thơ, 11/2013


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

 .......................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................

.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................

..........................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2013


MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................... 1
2. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu......................................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................................... 3
5. Bố cục đề tài ..................................................................................................................... 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ LY
HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI................................................................. 4
1.1 Khái niệm về quan hệ ly hôn và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ....................... 4
1.1.1 Khái niệm về quan hệ ly hôn ................................................................................. 4
1.1.2 Khái niệm về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài................................................ 5
1.2 Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài ........................................................................................................................... 5
1.2.1 Đối tượng điều chỉnh ............................................................................................. 5
1.2.1.1 Chủ thể ......................................................................................................... 5
1.2.1.2 Khách thể ..................................................................................................... 7
1.2.1.3 Sự kiện pháp lý ............................................................................................. 7
1.2.2 Phương pháp điều chỉnh ........................................................................................ 7
1.3 Các nguyên tắc cơ bản để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ............... 8

hiệu lực ................................................................................................................................ 18
1.6.3 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực đến trước khi
Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực ..................................................................... 20
1.6.4 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến nay ... 21

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU
TỐ NƯỚC NGOÀI ..........................................................................................23
2.1 Điều kiện ly hôn và trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước
ngoài ................................................................................................................................... 23
2.1.1 Điều kiện ly hôn có yếu tố nước ngoài.................................................................. 23
2.1.1.1 Hôn nhân tồn tại không trái với quy định của pháp luật hiện hành .............. 23
2.1.1.2 Năng lực hành vi của vợ, chồng trong việc xin ly hôn có yếu tố nước ngoài. 24
2.1.1.3 Sự tự nguyện của người xin ly hôn có yếu tố nước ngoài.............................. 24
2.1.2 Trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước ngoài .................... 24
2.2 Căn cứ giải quyết ly hôn và các hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài .................... 24
2.2.1 Căn cứ cho ly hôn và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài .................................................................................................................................... 24
2.2.2 Các hình thức ly hôn có yếu tố nước ngoài ........................................................... 25
2.2.2.1 Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài............................................... 25
2.2.2.2 Thuận tình trong việc ly hôn có yếu tố nước ngoài....................................... 26
2.3 Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài ................................................................................................................................... 27
2.3.1 Thẩm quyền theo cấp............................................................................................ 27
2.3.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ .................................................................................... 27
2.3.3 Thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam...................... 28
2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam .. 28
2.4.1 Hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước ngoài.................................................................. 28
2.4.2 Nộp và nhận hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước ngoài.............................................. 29
2.4.3 Trình tự giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam............. 29
2.4.3.1 Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công

nước ngoài........................................................................................................................... 47
3.2 Một số đề xuất hoàn thiện về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ........................... 49
3.2.1 Nâng cao vai trò của nhà nước và pháp luật.......................................................... 49
3.2.1.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài.................................................................................................................................... 49
3.2.1.2 Đảm bảo hoạt động có hiệu quả của các cơ quan có liên quan trong việc thi
hành pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài..................................................................... 52
3.2.2 Nâng cao nhận thức của gia đình và người trong cuộc .......................................... 53
3.2.3 Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức ngoài xã hội ............... 54

KẾT LUẬN.......................................................................................................56
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, với việc thực hiện đường lối đổi mới, tích cực hội nhập
kinh tế, mở rộng giao lưu trên phạm vi quốc tế, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu to
lớn và quan trọng trong mọi mặt đời sống và xã hội. Đặc biệt nhiều công dân Việt Nam đã
có điều kiện ra nước ngoài giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm cũng như người nước
ngoài thường xuyên vào Việt Nam hợp tác nghiên cứu hoặc giao lưu phát triển tại Việt Nam.
Chính vì thế, kéo theo nhiều quan hệ dân sự phát sinh mà đầu tiên phải kể đến là quan hệ
hôn nhân và gia đình, trong đó thì việc giải quyết các vấn đề về ly hôn cũng ngày càng trở
nên phức tạp với sự xuất hiện của những yếu tố nước ngoài.
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan
trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, là nơi chuẩn bị hành
trang để con người hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt
thì gia đình càng tốt. Hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình – tế bào của xã hội. Gia đình


Trang 1

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

vấn đề thì việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là một thách thức không nhỏ
của pháp luật của nước ta hiện nay. Yêu cầu đặt ra là cần có khung pháp lý chặt chẽ, hoàn
thiện không chỉ pháp luật trong nước mà còn kể đến pháp luật của các quốc gia cũng như các
điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết.
Vậy để hoàn thiện pháp luật hiện tại, đơn giản hóa quá trình giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài và xác định thẩm quyền giải quyết một cách rõ ràng, chính xác về vấn đề này,
đồng thời người viết muốn tìm hiểu về ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định hiện hành
của pháp luật Việt Nam là như thế nào? Mong muốn thể hiện phần nào được tính cấp thiết
của việc tuyên truyền phổ biến rộng rãi pháp luật trong cộng đồng xã hội để người dân có
thể dễ dàng tiếp cận được pháp luật, hướng dẫn cho họ làm đúng, hiểu đúng pháp luật, bảo
hộ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước đặc biệt là người phụ nữ Việt
Nam. Đó là những mục đích, những lý do khiến người viết chọn đề tài “Ly hôn có yếu tố
nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Từ đó, nhằm trang bị kiến thức cho bản
thân và tìm hiểu thêm về mối quan hệ giữa pháp luật và thực tiễn.
Trong thực tế, việc nghiên cứu về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể đã có
nhiều người nghiên cứu, nhưng với người viết đề tài này vẫn là một mảng kiến thức mới mẻ,
người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề có liên quan trong việc áp dụng các quy định
của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài vào thực tiễn và cuộc sống. Việc nghiên cứu
này là nền tảng của quá trình tìm hiểu khoa học luật của người viết, cũng như tạo tiền đề cho
những tiếp cận, những nghiên cứu khác trong cuộc sống sau này.
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn

lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo trật tự xã hội. Trên cơ sở đó có thể vạch ra một
hướng đi cụ thể, tìm ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật
của Nhà nước về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài và khắc phục hậu quả của ly hôn có
yếu tố nước ngoài. Mặt khác, giúp cho người viết có thể hiểu sâu hơn, hoàn thiện hơn, nâng
cao khả năng tích lũy, củng cố vốn kiến thức pháp luật cho bản thân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người viết chú trọng tìm hiểu về các quy định của
pháp luật trong phạm vi nghiên cứu. Từ những quy định của pháp luật, người viết phân tích
từng quy định cụ thể và đối chiếu với thực tiễn cuộc sống để từ đó đánh giá mức độ ứng
dụng của pháp luật vào cuộc sống xã hội. Trong phạm vi hẹp của đề tài, người viết chọn
phương pháp tổng hợp các phương pháp để nghiên cứu như: phương pháp phân tích câu chữ,
phương pháp thu thập, thống kê, trích lọc các bài bình luận, phân tích liên quan đến vấn đề
ly hôn có yếu tố nước ngoài, phương pháp so sánh, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn, lấy
thực tiễn để làm cơ sở kiến nghị những giải pháp nhằm giải quyết những bất cập, vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra,
người viết còn sưu tầm, thống kê số liệu, tổng hợp thêm các tài liệu liên quan từ những
thông tin trên sách báo, tạp chí, internet… kèm theo một số phương pháp khác mà người viết
vận dụng để hoàn thành bài luận văn này.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của
đề tài được trình bày trong ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 2. Pháp luật Việt Nam về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 3. Thực trạng và một số đề xuất hoàn thiện về quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 3


được công nhận khi nam nữ kết hôn thỏa mãn đầy đủ các quy định của pháp luật. Đây là sự
gắn kết giữa người nam và người nữ trên nguyên tắc tự nguyện và tình yêu nhằm xây dựng
một gia đình bền vững hạnh phúc suốt đời. Tuy nhiên trên thực tế không phải mọi cuộc hôn
nhân đều diễn ra như mong muốn của các chủ thể. Bởi sau một thời gian chung sống, tình
yêu không những không được vun đắp mà còn bị mài mòn, mục đích của hôn nhân cũng
không thể đạt được, phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, và nếu đời sống chung của vợ
chồng khó có thể kéo dài thêm nữa thì cuộc hôn nhân đó coi như thất bại. Sự thất bại của
hôn nhân sẽ dễ dàng dẫn đến sự tan rã của gia đình, tiếp sau đó sẽ là việc vợ, chồng quyết
định chấm dứt cuộc sống chung bằng con đường ly hôn. Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm
dứt quan hệ hôn nhân mà chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu ly
hôn. Tuy nhiên, quyền ly hôn của vợ, chồng phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà
nước và pháp luật nhằm hạn chế, ngăn chặn những hiện tượng vợ chồng lạm dụng quyền tự
do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội. Theo khoản 8 Điều 8 của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công
nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”. Như vậy,
ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của hai vợ chồng và được công nhận bằng bản án,
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 4

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

quyết định của Tòa án. Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, là mặt trái của đời sống xã
hội nhưng là mặt không thể thiếu được của quan hệ hôn nhân. Ly hôn không đơn thuần là
mặt tiêu cực của hôn nhân bởi khi xét ở góc độ nào đó có thể ly hôn là giải pháp mở ra lối
thoát cuối cùng, khắc phục được những mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa những
người trong gia đình, nhằm giải phóng cho vợ, chồng hay các thành viên khác trong gia đình

yếu tố chủ thể, yếu tố khách thể và yếu tố sự kiện pháp lý.
1.2.1.1 Chủ thể
Tại khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
có thể thấy rằng, để xác định được yếu tố nước ngoài của quan hệ hôn nhân và gia đình phụ
thuộc vào một trong hai trường hợp sau: có yếu tố chủ thể quốc tịch khác nhau hoặc có yếu
tố cư trú ở nước ngoài. Nói cách khác thì quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ
ly hôn nói riêng phát sinh yếu tố nước ngoài khi chủ thể tham gia quan hệ đó có quốc tịch
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 5

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

khác nhau hoặc khi đương sự cư trú ở nước ngoài. Vậy một trong những cơ sở pháp lý quan
trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề quốc
tịch của các bên chủ thể. Quốc tịch thể hiện sự lệ thuộc của một cá nhân vào một Nhà nước
nhất định, đây là tiền đề pháp lý bắt buộc để cá nhân có thể được hưởng những quyền cũng
như thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước mà họ được hưởng quốc tịch. Theo Điều 4 của
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì để xác định chủ thể có phải là công dân Việt Nam
hay không dựa vào quốc tịch mà người đó được hưởng và Việt Nam chỉ thừa nhận công dân
Việt Nam khi chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Và Điều 49 Hiến pháp năm 1992
quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt
Nam”.1 Như vậy, có thể khẳng định công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản của quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài và được chia làm hai trường hợp: một là công dân Việt Nam ở
trong nước, còn lại cũng là người Việt Nam nhưng định cư ở nước ngoài.
Theo Luật Quốc tịch Việt Nam thì người được xác định có quốc tịch Việt Nam, nếu
có một trong những căn cứ sau đây2: là trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam

2
Điều 14,15,16 và 17 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008.
3
Bộ luật Dân sự năm 2005, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 6

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Ngoài công dân Việt Nam là chủ thể cơ bản của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
ra thì người nước ngoài cũng là chủ thể quan trọng của quan hệ này. Theo khoản 1 Điều 3
của Luật Quốc tịch Việt Nam quy định: “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước
khác không phải là quốc tịch Việt Nam”. Như vậy, người nước ngoài là người không có
quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch. Cần phân biệt
công dân nước ngoài và người không quốc tịch, công dân nước ngoài là người có quốc tịch
nước ngoài còn người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không
có quốc tịch nước ngoài. Để tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì người
nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trước tiên là phải
theo pháp luật của nước mà người đó là công dân hoặc phải theo pháp luật của nước mà
người đó thường trú nếu người đó không có quốc tịch.
Tóm lại, chủ thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài gồm công dân Việt Nam cư
trú trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài. Về năng lực
pháp luật và năng lực hành vi dân sự của họ dựa vào pháp luật của nước mà họ là công dân
hoặc pháp luật của nước mà người không quốc tịch thường trú tại nước đó, từ đó có thể xem
xét họ có đủ tư cách là chủ thể của quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài hay không.


Trang 7

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, Tư pháp quốc tế nói chung hay
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng thường thì có hai phương pháp điều chỉnh đó
là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất, hai phương pháp này luôn luôn đi đôi
với nhau và luôn hỗ trợ lẫn nhau để bổ sung những khuyết điểm cho nhau, nhằm đảm bảo
một trật tự pháp lý dân sự quốc tế ổn định và tăng cường hợp tác với nhau giữa các nước
trong điều kiện hội nhập hiện nay. Tuy nhiên, đặc biệt trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài thì phương pháp điều chỉnh chủ yếu là phương pháp xung đột.
Phương pháp xung đột (còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là phương pháp
điều chỉnh dựa vào các quy tắc đã được ấn định để áp dụng pháp luật của một nước đã được
chỉ định để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Phương pháp xung đột được
hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung đột của quốc gia và các
quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Quy phạm
xung đột là loại quy phạm không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên
trong một mối quan hệ pháp luật nhất định mà nó chỉ làm động tác dẫn chiếu (chọn luật) đến
một hệ thống pháp luật của một nước nào đó để giải quyết vấn đề về quyền và nghĩa vụ của
các bên. Các quy phạm xung đột bao gồm hai bộ phận cấu thành: phần phạm vi (chỉ ra
những quan hệ mà quy phạm điều chỉnh) và phần hệ thuộc (chỉ ra hệ thống pháp luật được
áp dụng đối với những quan hệ đó). Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước
nào thì pháp luật nước đó được áp dụng. Việc dẫn chiếu của quy phạm xung đột để chọn
pháp luật áp dụng bao gồm cả trường hợp dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu pháp luật nước thứ
ba. Khoản 1 Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “việc ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại

Các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta, nó thể hiện những
quan điểm cơ bản, chủ đạo xuyên suốt trong các quy định của pháp luật, các nguyên tắc này
điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài được quy định trong Hiến pháp và các văn bản
quy phạm pháp luật khác, đặc biệt là được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 và các nguyên tắc này đều áp dụng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
1.3.1 Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc chung điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
1.3.1.1 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam
Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài ở Việt Nam phù
hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại khoản 1
Điều 100 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 20005 nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên khi tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thực hiện theo quy định pháp luật sẽ được tôn
trọng và bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Việt Nam ký kết. Trong trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác với
pháp luật Việt Nam thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế.
1.3.1.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước
ngoài
Ở nước ta, trong những năm gần đây, do việc mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu mọi
mặt về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới đã làm
cho nhiều người nước ngoài vào Việt Nam giao lưu, hợp tác, phát triển cũng như ngày càng
nhiều công dân Việt Nam thường xuyên ra nước ngoài học tập, nghiên cứu hay làm ăn, sinh
sống lâu dài ở nước ngoài. Chính vì vậy mà Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến những người
Việt Nam định cư ở nước ngoài và cả những người gốc Việt Nam ở nước ngoài. Khi người
Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì quyền
và lợi ích hợp pháp của họ luôn được pháp luật Việt Nam bảo vệ và được quy định cụ thể tại

trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác”. Như vậy, chủ thể là người nước ngoài
khi tham gia vào quan hệ ly hôn tại Việt Nam thì được hưởng những quyền cũng như thực
hiện các nghĩa vụ ngang với những quyền và nghĩa vụ mà công dân Việt Nam đang được
hưởng. Qua đó, bất kỳ người nước ngoài nào khi ly hôn ở Việt Nam thì luôn luôn được tôn
trọng và bảo vệ bởi pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đó phải
được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, ngược lại nếu việc ly hôn có yếu tố nước
ngoài đó không thực hiện đúng theo những gì pháp luật quy định thì một trong các chủ thể
tham gia, kể cả người nước ngoài đều có thể yêu cầu pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền
giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mình. Căn cứ vào tình hình hiện
nay cùng với sự phát triển của quá trình hội nhập kinh tế nhằm mở rộng hợp tác trong nhiều
lĩnh vực với nhiều nước khác nhau trên thế giới làm cho càng ngày càng nhiều người nước
ngoài vào Việt Nam giao lưu, hợp tác hoặc nghiên cứu. Chính vì thế, việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người nước ngoài tại Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là
trong quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là rất
cần thiết và quan trọng.
1.3.1.4 Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc áp dụng các văn bản quy
phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài
không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình được
quy định tại Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 20006. Theo đó, pháp luật nước
ngoài được áp dụng trong các trường hợp: khi Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000 hoặc các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định; khi điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn. Tuy nhiên, trong tất cả
các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên thì pháp luật nước ngoài chỉ được áp
dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam.
Nguyên tắc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
20007. Theo đó, các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam sẽ được
áp dụng đối với quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu như trong phần hôn nhân và gia

năm 2000 quy định: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt
Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước
nơi thường trú chung của vợ chồng”; “Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài
khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”. Từ những quy định trên có
thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã áp dụng nguyên tắc Luật nơi cư trú và nguyên tắc Luật
nơi có tài sản để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Ngoài ra, về mặt luật tố
tụng thì còn áp dụng nguyên tắc Luật tòa án.
1.3.2.1 Nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự
Nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự (theo pháp luật của nơi đương sự cư trú): là
nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở các nước có hệ thống pháp luật áp dụng án lệ, theo
nguyên tắc này thì việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài dựa theo pháp luật
nước mà nơi đương sự cư trú. Khi xét về nội dung khái niệm nơi cư trú trong luật của các
nước hoàn toàn không giống nhau, tùy điều kiện từng nước và từng trường hợp cụ thể có thể
Luật nơi cư trú là luật nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi thường trú cuối cùng của đương sự. Ở
Việt Nam, nguyên tắc Luật nơi cư trú của đương sự được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau và nó được ghi nhận không chỉ ở pháp luật trong nước mà còn được ghi nhận trong
điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước như Nga, Lào... để điều chỉnh những
phát sinh xung đột trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Theo khoản 2 Điều 104 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam
không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết
theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng”. Việc mở rộng áp dụng nguyên
tắc Luật nơi cư trú của đương sự giúp cho các quốc gia dễ dàng giải quyết xung đột pháp
luật trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, làm đơn giản hóa quá trình dẫn chiếu quy
phạm xung đột để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng việc ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
1.3.2.2 Nguyên tắc Luật nơi có tài sản
Nguyên tắc Luật nơi có tài sản: Nguyên tắc Luật nơi có tài sản là nguyên tắc mà hầu
hết tất cả các nước đều áp dụng để giải quyết các vấn đề tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.
Nguyên tắc này có nghĩa là tài sản ở nước nào thì áp dụng luật của nước đó để giải quyết.
Như vậy theo nguyên tắc này thì việc giải quyết tranh chấp về tài sản là bất động sản thì phải

Nam. Tuy nhiên trong quan hệ với các nước đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp thì tòa án
Việt Nam khi thực hiện ủy thác tư pháp theo đề nghị của bên yêu cầu, có thể áp dụng pháp
luật của nước kí kết với cơ quan yêu cầu đó, với điều kiện chúng không mâu thuẫn với pháp
luật của Việt Nam.
1.4 Các nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Nguồn của luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài về mặt pháp lý là những
hình thức biểu hiện hoặc chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm điều chỉnh quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài. Căn cứ vào đó ta có thể chia nguồn luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài làm ba loại: pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
1.4.1 Pháp luật quốc gia
Pháp luật trong nước là loại nguồn khá phổ biến để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài bởi nó chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật trong nước nhằm điều
chỉnh quan hệ này. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau. Trong đó, Hiến pháp 1992 là nguồn quan trọng nhất vì nó là văn
bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam nói chung và của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tại
Điều 64 và Điều 81 của Hiến pháp 1992 có quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội; Nhà
nước bảo hộ hôn nhân và gia đình; hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một
chồng bình đẳng…”; “Người nước ngoài ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật
Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và những quyền lợi chính đáng theo
pháp luật Việt Nam”. Qua đó cho thấy công dân Việt Nam cũng như người nước ngoài ở
Việt Nam đều được nhà nước quan tâm, bảo hộ về quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong
quan hệ hôn nhân và gia đình, mọi người được tự do kết hôn và cũng có quyền ly hôn theo
quy định của pháp luật. Dựa trên cơ sở của Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự 2005 cũng dành
riêng một phần (cụ thể là tại phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài) để quy
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 12


điều ước quốc tế áp dụng giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài chủ yếu dựa vào các Hiệp
định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết. Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà
Việt Nam đã tham gia ký kết với các nước đã thỏa thuận các nguyên tắc chọn pháp luật áp
dụng trong trường hợp có xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài. Các nguyên tắc và quy định trong các Hiệp định tư trợ tư pháp về vấn đề hôn
nhân mà Việt Nam đã tham gia ký kết với các nước là cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các
nước ký kết thực hiện việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Bên cạnh các văn bản pháp luật trong nước, quan hệ ly hôn có yếu nước ngoài còn
được điều chỉnh bởi các hiệp định song phương mà nhà nước ta ký kết với các nước. Trong
giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ khi ban
hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt Nam ký
thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước, cụ thể: với Ba Lan ngày
23/3/1993, với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 19/10/1998, với Cộng hòa Pháp ngày
24/2/1999, với Bêlarút, Ucraina, Lào, Mông Cổ, Hàn Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân
Triều Tiên. Các hiệp định này đã đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ quốc tế
giữa Việt Nam với các nước có liên quan trong nhiều lĩnh vực, góp phần mở rộng các quan
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 13

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

hệ pháp lý quốc tế, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước ta, tạo môi trường thuận lợi trong
việc hợp tác giải quyết nhiều vấn đề pháp lý phức tạp và đa dạng, trong đó có quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài.
1.4.3 Tập quán quốc tế

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở
nước ngoài…phù hợp với…pháp luật và tập quán quốc tế”.
Từ những nội dung trên và với tính chất là một loại nguồn của tư pháp quốc tế, tập
quán quốc tế cũng có thể áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói
chung, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, tập quán quốc tế chỉ được
coi là giải pháp cuối cùng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
1.4.4 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 14

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Các loại nguồn pháp luật có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ cho nhau để điều chỉnh
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Nguồn pháp luật trong nước do tính đặc thù là yếu tố nước ngoài nên quy phạm pháp
luật trong nước cũng có thể được áp dụng ở nước khác tùy theo từng trường hợp cụ thể. Do
đó, nguồn pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được coi là
nguồn cơ bản và phổ biến dựa trên những cơ sở: chủ thể trong quan hệ ly hôn nói chung và
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là những con người cụ thể, vì vậy pháp luật
điều chỉnh quyền và nghĩa vụ trong quan hệ ly hôn được dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc
dấu hiệu nơi cư trú. Mà dù dựa trên dấu hiệu quốc tịch hay nơi cư trú thì hệ thống pháp luật
được chọn áp dụng vẫn được coi là hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định. Cho nên,
có thể nhận định, pháp luật trong nước được coi là nguồn luật cơ bản, phổ biến và có vai trò
rất quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Nguồn điều ước quốc tế: pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy định rõ ràng về việc


Trang 15

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

việc ly hôn nói chung hay ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, bao gồm cả quan hệ nhân
thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng.
1.5.1 Quan hệ về nhân thân
1.5.1.1 Quan hệ giữa vợ chồng sau ly hôn
Cũng như trường hợp ly hôn thông thường, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài đương
nhiên được coi là căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng. Việc chấm dứt này thường là do
một bên yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tình và phải được Tòa án công nhận bằng văn bản
cho phép ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự. Khi phán
quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực tức là quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật. Kể từ
thời điểm này, người vợ, người chồng đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác mà không
chịu bất kỳ sự ràng buộc nào từ phía bên kia. Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ về nhân
thân giữa vợ và chồng sẽ đương nhiên chấm dứt. Nghĩa là các quyền và nghĩa vụ nhân thân
giữa vợ chồng phát sinh từ khi kết hôn và gắn bó trong suốt thời kỳ hôn nhân như: nghĩa vụ
yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng…sẽ
đương nhiên mất đi.
1.5.1.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con cái sau ly hôn
Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng tuy nhiên nó không hề làm chấm dứt quan hệ
giữa cha mẹ và con cái. Khi cha mẹ ly hôn, con cái là người chịu nhiều ảnh hưởng và thiệt
thòi về mặt tâm lý, tình cảm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của đứa trẻ. Con sinh
ra là con chung, do đó việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền đồng thời là nghĩa vụ của
cha mẹ cả trước và sau khi ly hôn. Chưa dừng lại ở đó, sau khi ly hôn còn làm phát sinh một
vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái như là việc con cái đương nhiên không thể

hơn nữa bởi việc xác định khối tài sản khi tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa chọn áp dụng
pháp luật nước ngoài trong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước ngoài. Do đó, khi giải
quyết vấn đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam phải kết hợp
việc vận dụng các văn bản pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, đôi khi
cả pháp luật nước ngoài. Về nguyên tắc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn: pháp luật quy định,
việc chia tài sản vợ chồng khi ly hôn trước hết do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận
được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên tắc chung đó là, tài sản riêng của bên nào vẫn
thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản chung sẽ được chia đôi nhưng có xem xét công sức
đóng góp và hoàn cảnh của mỗi bên cũng như việc đảm bảo quyền lợi của người vợ và các
con. Việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng trên thực tế gặp không ít khó
khăn nhất là khi có yếu tố nước ngoài trong đó. Bởi một khi yêu cầu ly hôn đã phát sinh có
thể mâu thuẫn vợ chồng cũng trở nên gay gắt nên về mặt tài sản họ cũng không chịu thiệt
thòi, vợ hoặc chồng luôn muốn mình là người phải được hưởng nhiều hơn trong khối tài sản
chung của vợ chồng dẫn đến vấn đề cần đặt ra là làm cách nào chứng minh được đó có phải
là tài sản riêng của vợ hoặc chồng hay không? Vì thế cần phải xác định rõ nguồn gốc, giá trị,
số lượng tài sản, tình hình tài sản khi ly hôn, công sức đóng góp của mỗi bên trong quá trình
vợ chồng sống chung…có như vậy mới có thể giải quyết vấn đề tài sản một cách thấu tình
đạt lý, bảo vệ được quyền lợi của các bên. Khi chia tài sản chung còn cần phải chú ý đến
việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn
tật, mất năng lực hành vi dân sự không còn khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình. Trong thời kỳ hôn nhân không chỉ có tài sản chung mà đôi khi cũng phát sinh những
khoảng nợ vay mượn của người khác để phục vụ cuộc sống gia đình đây là nợ chung của vợ
chồng, do đó khi ly hôn khoảng nợ chung của vợ chồng cũng phải được xem xét giải quyết,
thường là do vợ chồng cùng thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì sẽ chia đôi số nợ cho
vợ và chồng.
1.6 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về ly hôn có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một lĩnh vực có sự điều chỉnh không chỉ của pháp luật
quốc gia mà còn chịu sự tác động của những hệ thống pháp luật khác nhau như điều ước
quốc tế, tập quán quốc tế. Do vậy, khi nghiên cứu quá trình hình thành pháp luật điều chỉnh

Vào thời Pháp thuộc, đất nước bị chia làm ba kỳ. Thực dân Pháp sau khi xâm lược
Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam kỳ đã ban hành Bộ luật giản yếu Nam kỳ để áp dụng ở
Nam kỳ. Bộ luật Bắc kỳ được ban hành vào ngày 30/3/1931 theo Nghị định của Thống sứ
Bắc kỳ để thi hành trên toàn Bắc kỳ từ ngày 1/7/1931 thay cho Bộ luật Gia Long. Còn
Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật được ban hành năm 1936 thi hành trên toàn Trung kỳ. Các bộ
luật này có những quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có quan hệ ly
hôn nhưng không có bộ luật nào quy định một cách cụ thể về quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài, phần lớn những quy định này còn mang nặng tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo
trọng nam khinh nữ và đề cao quyền gia trưởng. Thực tế thể hiện khi Pháp vào đô hộ Việt
Nam thì có rất nhiều người nước ngoài vào Việt Nam sinh sống, đặc biệt là người Pháp. Do
đó, có rất nhiều cuộc kết hôn và không ít trong số đó phải ly hôn giữa người Việt Nam và
người nước ngoài, đặc biệt là người Pháp nhưng lại không có quy phạm nào điều chỉnh quan
hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ dừng lại điều chỉnh vấn đề quốc tịch. Nhưng dù sao
đó cũng là tiến bộ đáng kể của pháp luật trong thời gian này, các nhà làm luật đã thật sự
quan tâm đến việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài.
1.6.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có
hiệu lực
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về quy định tạm giữ các luật lệ
hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt
Nam, trừ những quy định đi ngược lại độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân.
Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 đã có một bước phát triển mới trong việc quy định về
vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài.
Trong giai đoạn này có một văn bản pháp lý có giá trị cao nhất đầu tiên đề cập gián tiếp
đến quan hệ hôn nhân đó là Hiến pháp 1946, được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946. Tại
Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
Nội dung này là cơ sở pháp lý về quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong quan hệ hôn nhân,
là nguyên tắc để giải quyết các quan hệ hôn nhân trong chế độ mới mà ngay sau đó nguyên
tắc này đã được thể hiện rõ trong một số sắc lệnh liên quan tới hôn nhân được ban hành

tục của các xu hướng điều chỉnh pháp luật quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong các giai đoạn sau.
Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Đây là thời kỳ nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc bởi vĩ tuyến 17 (được
coi là ranh giới tạm thời giữa hai miền). Miền Bắc làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, sau đó tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam mặc dù sống
trong sự kìm kẹp của chính quyền bù nhìn, nhân dân vẫn tiến hành cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ để thống nhất nước nhà. Do đó, trong thời kỳ này, pháp luật điều chỉnh quan hệ dân
sự nói chung, quan hệ hôn nhân nói riêng, trong đó có quan hệ ly hôn ở mỗi miền khác nhau.
Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc
hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 đã tiếp tục ghi nhận và khẳng định quyền
bình đẳng giữa nam và nữ được quy định tại đoạn 1 Điều 24 Hiến pháp 1959: “Phụ nữ nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt…”, đoạn 4 Điều 24
Hiến pháp 1959 có nói: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”. Xuất phát từ tình hình
thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kỳ mới, Luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 29/12/1959. Điểm đáng lưu ý là
việc ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được xem như mốc đánh dấu cho việc
tách quan hệ hôn nhân và gia đình ra khỏi ngành luật dân sự thành ngành luật độc lập.9 Tuy
nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không có quy phạm nào quy định về quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã công bố Luật gia đình ngày 2/1/1959, trong
đó quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định tại các điều 24, 25, 70. Nội dung
chủ yếu của các điều khoản này chỉ quy định các điều kiện và thủ tục về tính hợp pháp của
9

Xem: Nguyễn Ngọc Điệp, “Tìm hiểu luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Nxb. Mũi Cà Mau, 1999, tr.12.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 19

nói chung được áp dụng chỉ để giải quyết các vấn đề liên quan tới phía chủ thể là công dân
Việt Nam.
1.6.3 Giai đoạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực đến trước
khi Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 có hiệu lực
Trong giai đoạn này, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được ban hành, có hiệu
lực thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Việc dành một chương riêng (chương
IX) trong Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài là một bước phát triển, tiến bộ mới trong công tác lập pháp ở nước ta về
lĩnh vực này. Nó không những thể hiện sự quan tâm của nhà nước đến vấn đề hôn nhân có
yếu tố nước ngoài, mà còn phản ánh một xu thế thời đại là các quy định của pháp luật Việt
Nam đã bước đầu có những nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và tập
quán quốc tế trong quan hệ hôn nhân.
Giai đoạn 1986 đến 1992, Quốc hội đã thông qua một số văn bản pháp lý có liên quan
như Thông tư số 06/TTLN ngày 30/12/1986 hướng dẫn về thủ tục và thẩm quyền giải quyết
những việc ly hôn giữa công dân Việt Nam mà một bên ở nước chưa ký Hiệp định tương trợ
tư pháp với Việt Nam; Luật Quốc tịch năm 1988 tại Điều 14; Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự ra đời ngày 29/11/1989… Ngày 2/12/1993, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã
ban hành Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài.
Đây là văn bản pháp luật đầu tiên tương đối hoàn chỉnh bởi nó không chỉ là cơ sở pháp lý
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 20

SVTH: Lê Hoàng Phú Sang


Trích đoạn Điều kiện ly hôn và trường hợp hạn chế quyền yêu cầu xin ly hôn có yếu tố nước Đơn phương xin ly hôn có yếu tố nước ngoài Thẩm quyền theo lãnh thổ Đối với trường hợp công dân Việt Na mở trong nước xin ly hôn với công Đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status