TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH - THƢƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 32 (2006 – 2010)
Đề tài:
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
PHẠM MAI PHƢƠNG
VŨ THỊ THANH
MSSV: 5062502
Lớp: Thương mại 2-K32
Cần Thơ, 04/2010
LỜI CẢM ƠN!
Đầu tiên cho phép em gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Luật và Quý
Thầy, Quý Cô đã tận tình truyền đạt kiến thức cho các bạn sinh viên nói chung và
bản thân em nói riêng. Những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm đại học sẽ là
hành trang cho chúng em bước vào đời.
Và đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Cô Phạm Mai Phương đã tận tình
hướng dẫn em hoàn thành bài luận văn này.
........................................................................................................................ 13
1.4. Tính tất yếu và vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ...................... 14
1.4.1. Tính tất yếu ........................................................................................... 14
1.4.2. Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài .............................................. 16
1.4.2.1. Ưu điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ................................... 16
1.4.2.2. Khuyết điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ........................... 19
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của nhà đầu tư ................... 20
1.5.1. Tình hình chính trị ................................................................................. 21
1.5.2. Chính sách - pháp luật ........................................................................... 22
1.5.3. Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên ........................................................... 22
1.5.4. Trình độ phát triển của nền kinh tế ........................................................ 23
1.5.5. Đặc điểm văn hóa – xã hội .................................................................... 23
1.6. Kinh nghiệm của một số nước trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài ............................................................................. 24
1.6.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc................................................................ 24
1.6.2. Kinh nghiệm của Singapore .................................................................. 25
Chƣơng 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP RA NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài ................................................................................................... 27
2.1.1. Chủ thể của hoạt động đầu tư ra nước ngoài .......................................... 27
2.1.2. Hình thức đầu tư ra nước ngoài ............................................................. 28
2.1.3. Lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài ............................................................... 31
2.1.4. Điều kiện để đầu tư ra nước ngoài ......................................................... 33
thời gian tới .......................................................................................................... 72
3.4. Một số hạn chế của quy định pháp luật hiện hành và hướng hoàn thiện .
..................................................................................................................... 72
3.5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài................................................................................................ 77
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
...........................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
........................................................................................................./.
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nói về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong Trưởng phòng nghiên cứu kinh tế Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà
Nội cho rằng: “Các doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam tăng cường đầu tư ra
nước ngoài đồng nghĩa với việc mở rộng thêm mạng lưới, chân rết và quan hệ
kinh tế - xã hội với thị trường nước ngoài. Qua đó, các luồng vốn, khoa học công
nghệ và lao động sẽ tăng cường lưu chuyển hai chiều, đảm bảo sự liền mạch
thống nhất giữa sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp trong xu hướng toàn cầu
hóa”. Còn Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Cao Viết Sinh thì khẳng định:
“Đầu tư ra nước ngoài là xu thế tất yếu, khách quan của các doanh nghiệp Việt
Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”.
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam đã diễn ra từ lâu nhưng nó chỉ
mới bắt đầu sôi động trong những năm gần đây. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng
này có thể nói là rất nhiều. Về mặt khách quan thì trước đây Việt Nam là một
nước kém phát triển, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu nên chúng ta chỉ lo thu hút nguồn
vốn từ nước ngoài đổ vào mà chưa quan tâm tới hình thức đầu tư ra nước ngoài.
Về mặt chủ quan thì phần lớn do quan niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn
phiến diện là đầu tư ra nước ngoài là mang tiền đi làm giàu cho nước họ trong
khi nước mình thì nghèo nàn, lạc hậu. Hay một số bộ phận khác lại lo ngại là các
kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới là cơ sở pháp lý quan trọng đối với nhà đầu
tư lẫn cơ quan quản lý hoạt động đầu tư.
Như vậy, chúng ta có thể thấy tầm ảnh hưởng của Luật đối với đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài là rất lớn. Hiện nay, người dân, doanh nghiệp và nhà nước
ngày càng dành nhiều sự quan tâm cho hoạt động đầu tư nhiều tính hấp dẫn này.
Từ khi Nghị định số 22 ra đời rồi Luật Đầu tư 2005 và mới đây là Nghị định số
78 ra đời thay thế cho Nghị định 22 đã thể hiện được vai trò của mình trong việc
quản lý đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Tuy bên cạnh những kết quả đạt được thì
thực tế nó vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục để hoàn thiện hệ
thống pháp lý điều chỉnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phù hợp với tình hình
mới. Đó chính là lý do người viết chọn đề tài “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Trong khuôn khổ bài luận văn của mình do thời gian và trình độ nghiên
cứu có giới hạn nên người viết không trình bày chi tiết từng vấn đề mà chỉ trình
bày những quy định cơ bản về vấn đề đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Từ những dữ liệu khoa học, các bài nghiên cứu, tạp chí khoa học bằng sự
tổng hợp, phân tích, so sánh đối chiếu người viết đã giới thiệu khái quát về đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam hiện nay.
Kết cấu đề tài
Mục lục
Lời nói đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chương 2: Quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở
Việt Nam hiện nay
Chương 3. Thực trạng và hướng hoàn thiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, với sự nỗ lực rất lớn của bản thân
nhưng do năng lực hiểu biết về kiến thức pháp luật còn hạn chế nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong được sự góp ý của quý thầy cô, các
này có thể là sự tăng thêm một tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hay một nguồn lực
cho xã hội. Những kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp của nhà đầu tư mà
còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội. Vai trò của đầu tư ngày càng
quan trọng trong kinh tế toàn cầu hóa nên cần một khung pháp lý để điều chỉnh
nó là cần thiết. Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách
pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư
kinh doanh. Trong Luật Đầu tư 2005, các nhà làm luật Việt Nam cũng giới hạn
phạm vi điều chỉnh hoạt động đầu tư là nhằm mục đích kinh doanh. Cụ thể tại
khoản 1 điều 3 Luật Đầu tư 2005 đã đưa ra định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu
tư bỏ vốn bằng các tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành
các hoạt động đầu tư”. Ngoài ra Luật này còn có sự phân biệt thuật ngữ đầu tư và
hoạt động đầu tư. Theo đó hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của nhà đầu
1
Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2003, trang 301.
Trường Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình kinh tế đầu tư, Nxb.Thống kê, Hà Nội, 2003, trang 16,17
3
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đầu tư, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, trang 6
2
GVHD: Phạm Mai Phương
-3-
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
dòng vốn đầu tư quốc tế đang diễn ra theo hướng đa phương, đa chiều. Vậy đầu
tư quốc tế là gì?
Cho đến ngày nay mặc dù có không ít khái niệm về đầu tư quốc tế nhưng
khái niệm được nhiều người thừa nhận đó là: “Đầu tư quốc tế là quá trình dịch
4
5
Khoản 1 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2005
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đầu tư, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, trang 7
GVHD: Phạm Mai Phương
-4-
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
chuyển vốn, tài sản từ quốc gia này sang quốc gia khác để các nhà đầu tư tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh - dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi
nhuận và những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định”6. Như vậy qua định nghĩa
này cho thấy bản chất của đầu tư quốc tế cũng là đầu tư. Đầu tư quốc tế là một
dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài (chủ đầu tư, vốn đầu tư, địa điểm đầu
tư từ các quốc gia khác nhau). Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện sự
khác biệt về quốc tịch hoặc lãnh thổ cư trú của các bên tham gia vào quan hệ đầu
tư mà còn thể hiện việc di chuyển tư bản vượt ngoài tầm kiểm soát của một quốc
gia. Việc di chuyển tư bản này nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh tại nước
tiếp nhận đầu tư mà việc kinh doanh do chính các chủ đầu tư nước ngoài thực
hiện hoặc kết hợp với chủ đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư thực hiện.
-5-
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
của Nghị định này”. Theo định nghĩa trên hoạt động đầu tư ra nước ngoài có
những đặc điểm sau:
Về hình thức đầu tư
Hình thức đầu tư là hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Tuy nhiên
không phải mọi hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt
Nam đều được coi là hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo Nghị định số
22/1999/ND-CP. Bên cạnh đó, các quan hệ đầu tư gián tiếp hoặc tín dụng quốc tế
cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định này.
Về chủ thể của hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Chủ thể của hoạt động đầu tư ra nước ngoài chỉ có thể là doanh nghiệp
Việt Nam thì được phép đầu tư ra nước ngoài theo nghị định này. Cụ thể trong
Thông tư số 05/2001/TT-BKH quy định: Doanh nghiệp Việt Nam được đầu tư ra
nước ngoài chỉ bao gồm: 8
- Doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước;
- Doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp;
- Hợp tác xã được thành lập theo luật Hợp tác xã .
Vậy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam không thuộc đối tượng áp dụng của thông tư này mà
được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Hiện nay, các quy định pháp luật
điều chỉnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã chính thức được luật pháp hóa
trong Luật Đầu tư năm 2005. Khoản 14 điều 3 Luật Đầu tư định nghĩa: “đầu tư ra
nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ
nhỏ 10. Như vậy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong
nền kinh tế mỗi quốc gia.
Tại khoản 1 điều 3 của Nghị Định 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy
định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có định nghĩa: “ Đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện đầu tư và
trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài”. Để hiểu rõ hơn về
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì nên đặt trong mối tương quan so sánh với hình
thức đầu tư gián tiếp ra nước ngoài. Có thể nói dù hình thức đầu tư là trực tiếp
hay gián tiếp thì cuối cùng mục đích muốn đạt đến là lợi nhuận. Nhưng cách thức
tiến hành đầu tư lại hoàn toàn khác nhau. Bởi đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là
các nhà đầu tư thực hiện thông qua thị trường tài chính như mua cổ phần hay
chứng khoán của các công ty ở nước tiếp nhận nhằm thu lợi nhuận dưới dạng cổ
tức hoặc thu nhập chứng khoán mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng
họ bỏ vốn ra đầu tư. Còn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì ngược lại đó là nhà
đầu tư trực tiếp bỏ vốn, tài sản vào nước tiếp nhận (tức là di chuyển vốn, tài sản,
máy móc, các dụng cụ khác…trừ đất đai từ nước mình hoặc nước thứ 3) và đồng
thời họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn ra đầu tư.
Đối với Việt Nam thì đây là một lĩnh vực tương đối mới và hiện nay các khung
pháp lý để điều chỉnh thì mới đề cập chủ yếu tới đầu tư trực tiếp chứ đầu tư gián
tiếp ra nước ngoài thì vẫn chưa có. Và nhà nước cũng xác định đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
9
Ths. Nguyễn Văn Tuấn, ĐTTTNN với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, trang 29
Báo đầu tư, Trung Quốc đầu tư mạnh ra nước ngoài, Huỳnh Hoa,
[ngày truy cập 10/12/2009]
10
GVHD: Phạm Mai Phương
chuyển được cả yếu tố công nghệ, kinh nghiệm quản lý để chuyển giao cho nước
nhận đầu tư bên cạnh lưu chuyển tiền, nguyên vật liệu, lao động chính là ưu điểm
nổi bật của hình thức đầu tư trực tiếp so với đầu tư gián tiếp. Bởi đầu tư gián tiếp
vốn chỉ có thể là tiền, không thể là hiện vật hoặc công nghệ được. Nên doanh
nghiệp nhận vốn không thể tiếp nhận công nghệ hiện đại trực tiếp từ việc tiếp
nhận vốn đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài. Ta thấy đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các nước nhận đầu
tư (nhất là các nước đang phát triển) đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hóa và
hiện đại hóa ở các nước.
GVHD: Phạm Mai Phương
-8-
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.2.2.3. Về mục đích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Quan hệ FDI là quan hệ kinh doanh theo cơ chế thị trường. Vì vậy, lợi
nhuận là mục tiêu cao nhất của các nhà đầu tư. Nên hiểu rằng bất kỳ sự chi phí
nào về thời gian, sức lực, tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục
đích lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm đầu tư đang nghiên cứu.
Ví dụ như đặt trong mối tương quan của đầu tư phát triển chính thức
(ODA) thì kinh doanh, lợi nhuận không phải là mục tiêu chính bởi quan hệ này
không phải là một quan hệ kinh doanh thuần túy.
Mục đích của hình thức ODA có thể là:11
a. Tính đoàn kết quốc tế như quyết định của Liên Hiệp Quốc là các nước giàu
phải dành 0,7% GDP viện trợ cho nước nghèo.
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.2.2.5. Mối quan hệ giữa nhà đầu tư đối với nước tiếp nhận đầu tư
Vì là quan hệ có mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận nên quan hệ đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong nền kinh
tế thị trường, ít chịu ảnh hưởng và ràng buộc bởi quan hệ chính trị.
Còn đối với nguồn vốn ODA thì quan hệ này mang đậm màu sắc chính trị,
bị ảnh hưởng bởi các quan hệ giữa các quốc gia với nhau và với các tổ chức tài
chính quốc tế, ít chịu chi phối bởi quy luật kinh tế. Hơn nữa nước tiếp nhận ODA
không chỉ bị biến thành con nợ mà phải bảo đảm một số điều kiện mang tính
chính trị như phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng, ổn định tỉ lệ lạm phát…
1.3. Một số vấn đề lý luận về pháp luật đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài
1.3.1. Khái niệm và nội dung cơ bản về pháp luật đầu tƣ trực tiếp ra
nƣớc ngoài
Điều kiện lịch sử đã tạo nên sự ra đời muộn và chậm phát triển của pháp
luật về đầu tư kinh doanh ở Việt Nam nói chung và đặc biệt là hoạt động đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài nói riêng. Trong suốt thời gian dài, cơ sở pháp lý của hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa được quy định trong luật. Trước thực
trạng nhiều doanh nghiệp Việt Nam muốn mở rộng thị phần sang thị trường nước
ngoài nên họ gửi đơn xin phép đầu tư ra nước ngoài (Giai đoạn 1989-1998 có 18
dự án với tổng số vốn đăng ký trên 13,6 triệu USD) buộc Chính phủ phải ban
hành văn bản dưới Luật để hướng dẫn. Tuy nhiên, mãi đến 10 năm sau khi dự án
đầu tiên xin cấp phép (năm 1989) thì Chính phủ mới ban hành một Nghị định
chính thức điều chỉnh vấn đề này. Đó là Nghị định số 22/1999/ NĐ-CP cùng một
số văn bản của các Bộ, ngành có liên quan chính là khuôn khổ pháp lý cho hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài cho đến trước thời điểm
Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực. Đây có thể coi là một bất cập trong hệ thống quy
pháp, rồi đến Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn, tiếp đó là các đạo luật khác
điều chỉnh địa vị pháp lý của các nhà đầu tư như: Luật doanh nghiệp, Luật hợp
tác xã…Hay quy định về các hoạt động thương mại như: Luật thương mại, Luật
ngân hàng…và các văn bản có liên quan. Bên cạnh đó đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài còn bao gồm các điều ước song phương hoặc đa phương về đầu tư mà Việt
Nam ký kết hoặc tham gia như: Công ước về tổ chức bảo đảm đầu tư đa bên
tháng 9 năm 1985, Việt Nam tham gia năm 1993; Hiệp định thương mại Việt
Nam - Hoa Kỳ; Hiệp định đầu tư Asean…Đây chính là nền tảng quan trọng để
trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
hoàn thiện đáp ứng nhu cầu đầu ra nước ngoài của các doanh nghiệp.
1.3.2. Vai trò của pháp luật đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài
* Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài định hướng và thúc đẩy các hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Và nó là công cụ bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp cho nhà đầu tư
Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ra đời là do đòi hỏi của chính
các quan hệ trong hoạt động đầu tư này. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ năm 1989 nhưng mãi
tới năm 1999, Nghị định số 22/1999/NĐ-CP mới ra đời tạo nền tảng pháp lý đầu
tiên cho việc đầu tư ra nước ngoài. Sau một thời gian thực hiện, Nghị định
22/1999/NĐ-CP đã không còn phù hợp nên Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ra đời
thay thế cho Nghị định 22/1999/NĐ-CP. Như vậy, sau khi ra đời pháp luật về đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài tác động trở lại làm cho quan hệ đầu tư trực tiếp ra
GVHD: Phạm Mai Phương
- 11 -
SVTH: Vũ Thị Thanh
ra nước ngoài là một bộ phận của pháp luật về đầu tư cũng có vai trò tác động
làm phát sinh nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu tư. Từ Nghị định số
22/1999/NĐ-CP, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã chính thức được
12
Phạm Đình Đại, Pháp luật đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam hiện nay thực trạng và hướng hoàn thiện,
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, Đại học Cần Thơ, 2008, trang 9
13
Bùi Thị Thu Hiền, Điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các
doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học luật Hà Nội 2007
GVHD: Phạm Mai Phương
- 12 -
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
thừa nhận kéo theo hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời nhằm
sửa đổi và hoàn thiện các quy định nhằm điều chỉnh hoạt động này cho phù hợp
với thực tiễn.
Các quy định của pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng trở
nên hợp lý, đảm bảo tính rõ ràng và thống nhất, góp phần hoàn thiện môi trường
pháp lý về đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói
riêng phù hợp với thông lệ quốc tế về đầu tư và thúc đẩy quá trình chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam.
1.3.3. Pháp luật điều chỉnh đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài ở Việt Nam
hiện nay
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các
quy định của pháp luật 14. Đặc biệt ngày 20 tháng 02 năm 2009 Thủ tướng Chính
phủ đã phê duyệt đề án “Thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài” bằng
quyết định số 236/QĐ-TTg đã xác định các lĩnh vực ưu tiên cũng như giải pháp
hỗ trợ nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài có hiệu quả. Theo một số
chuyên gia kinh tế, tài chính, đây là lần đầu tiên Việt Nam có một đề án thúc đẩy
đầu tư ra nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi và định hướng cho các doanh
nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đạt hiệu quả và an toàn 15.
Như vậy, khuôn khổ pháp lý của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
đã dần dần được hoàn thiện hơn thông qua việc ban hành Luật đầu tư năm 2005,
Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 và thủ tục
đầu tư đã được hướng dẫn cụ thể tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày
10/10/2007 của Bộ kế hoạch và đầu tư. Hơn nữa ngày 21 tháng 12 năm 2006
Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 10/2006/TT-NHNN
hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp. Tiếp đó ngày 25 tháng 7 năm 2007
Chính Phủ ban hành Nghị định số 121/2007/NĐ-CP quy định đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài trong hoạt động dầu khí và gần đây nhất là đề án “Thúc đẩy đầu tư
của Việt Nam ra nước ngoài” được phê duyệt.
1.4. Tính tất yếu và vai trò của đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài
1.4.1. Tính tất yếu
Đầu tư ra nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng
là một xu thế tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng. Điều này không chỉ đúng với riêng một quốc gia mà còn đúng với
Còn các quốc gia đang phát triển sau một thời gian dài học hỏi các quốc gia phát
triển trong lĩnh vực đầu tư đã tiến hành đầu tư sang các nước kém phát triển hơn
và thậm chí là đầu tư ngược lại các nước phát triển. Các quốc gia đang phát triển
phát huy các lợi thế của mình để đầu tư vào những lĩnh vực mà nước nhận đầu tư
còn bỏ ngõ hay biên lợi nhuận cao hơn so với khi thực hiện ở chính quốc. Có thể
nói, xu hướng đầu tư truyền thống là đầu tư từ nước phát triển sang những nước
đang phát triển. Nhưng việc các nước đang phát triển ngày càng tham gia nhiều
vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã làm hình thành nên một xu hướng mới của
thời đại là đầu tư lẫn nhau. Nếu các quốc gia phát triển đang phát huy thế mạnh
là năng lực về vốn, trình độ khoa học hiện đại thì các nước đang phát triển phát
huy ở quốc gia phát triển là môi trường kinh doanh ở những nước này rộng lớn,
nhiều lĩnh vực đầu tư và có thể mang theo thế mạnh của mình để khai thác ở
nước ngoài. Giả sử thị trường nước ngoài là một cái bánh có nhiều người cùng
ăn, thì tất nhiên ai ăn trước sẽ được chỗ ngon hơn và nhiều hơn. Đầu tư cũng
giống như vậy, quốc gia nào nắm bắt được cơ hội sẽ thu được nhiều lợi ích hơn.
Nắm bắt cơ hội và thực hiện bằng những thế mạnh của mình sẽ tạo ra những kết
quả bất ngờ cho nước đi đầu tư.
Thứ hai: Bối cảnh nền kinh tế hiện nay là các quốc gia vừa hợp tác vừa
cạnh trạnh. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thể hiện rất rõ thực trạng
này. Hợp tác, cạnh tranh thoạt đầu nghe rất mâu thuẫn nhưng khi nghiên cứu kĩ
thì đó là điều hoàn toàn hợp lý. Bởi quy luật chung là mọi vật hiện tượng đều là
thể thống nhất của các mặt đối lập 17. Với những lợi thế so sánh ở từng quốc gia,
xuất hiện hiện tượng chuyên môn hóa nhằm thực hiện một công việc có hiệu quả
nhất. Nhưng một quốc gia thì không thể chỉ phát triển một số lĩnh vực mà họ
chuyên môn hóa mà một nên kinh tế cần sự đa dạng và phong phú. Từ đó dẫn tới
hợp tác kinh tế giữa các quốc gia nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ngày
một khan hiếm, vừa đồng thời phát triển đất nước một cách toàn diện. Và trong
quá trình phát triển các quốc gia cũng cạnh tranh với nhau để sao cho nước mình
17
ra nước ngoài để hoạt động này thực sự mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
1.4.2. Vai trò của đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài
1.4.2.1. Ưu điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài thu ngoại tệ góp phần vào công cuộc xây dựng đất
nước.
Tuy rất cần vốn để phát triển kinh tế đất nước song các nước đang phát
triển như Việt Nam vẫn có mong muốn mang nguồn vốn trong nước để đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài với hi vọng tìm kiếm được “mảnh đất” mà ở đó tiền vốn
có khả năng sinh lợi cao, tạo ra “chiếc bánh xe thứ hai”cho nền kinh tế trong
nước. Đối với bất kỳ nền kinh tế nào thì vốn là yếu tố không thể thiếu. Để kinh tế
của cả một đất nước phát triển thì đòi hỏi phải có một nguồn lực kinh tế đủ lớn.
Nguồn lực này được huy động từ nhiều nguồn khác nhau như người dân, các
doanh nghiệp trong nước, các chính phủ nước ngoài (ODA), Việt Kiều và nguồn
ngoại tệ của các doanh nghiệp trực tiếp đi đầu tư ở nước ngoài cũng là một nguồn
có vai trò ngày càng quan trọng. Việc trực tiếp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển hơn, sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn tư đó làm tăng doanh thu giảm chi phí khiến cho lợi nhuận gia tăng,
khả năng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo nên việc thực hiện nghĩa vụ
GVHD: Phạm Mai Phương
- 16 -
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
tài chính của doanh nghiệp đối với nhà nước cũng tăng lên. Nên sẽ đóng góp một
phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước làm tăng nguồn vốn cho phát triển kinh
tế vĩ mô của đất nước.
trong nước bằng cách đầu tư sang các nước đang phát triển mà giàu tài nguyên 18.
18
Bùi Thị Thu Hiền, Điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các
doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học luật Hà Nội 2007
GVHD: Phạm Mai Phương
- 17 -
SVTH: Vũ Thị Thanh
Đề tài: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các nhà đầu tư mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
Nếu chỉ đầu tư vào sản xuất trong nước với đối tượng khách hàng nội địa
thì phạm vi tiêu thụ hàng hóa sẽ bị bó hẹp. Nên việc mở rộng và phát triển thị
trường tiêu thụ là cần thiết. Thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thì đồng
nghĩa với việc sản phẩm cũng sẽ được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài. Phạm vi
tiêu thụ sản phẩm mở rộng ra nên các sản phẩm đó sẽ được nhiều người sử dụng
hơn, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Và cuối
cùng mục đích thu lợi nhuận cũng là đích đến.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư kéo dài chu kỳ sống
của sản phẩm.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, khắc
phục tình trạng lão hóa của sản phẩm, đổi mới công nghệ trong nước. Trong thực
tế có những sản phẩm bảo hòa trong thị trường này nhưng ở thị trường khác nó
vẫn tiếp tục sống và đem lại hiệu quả cho nhà sản xuất 19. Nên việc đem máy